DÂNG HIẾN ĐỜI MÌNH
Trong bài “MAI NẦY EM LÊN XE HOA” đăng trong EPHATA 112, giáo sư Trần Duy Nhiên đã mở đầu như sau:
“Em, vài ngày nữa, em sẽ lên xe hoa ở nơi xa và thầy không có cạnh em trong ngày trọng đại ấy. Thầy viết thư nầy cho em như một quà cưới và thay cho sự hiện diện của thầy.
Thế là em sắp đi qua một bước ngoặt dứt khoát trong đời mình. Em tiến vào một mảnh đất đầy hứa hẹn nhưng cũng đầy dẫy những bất ngờ mà em sẽ khám phá và vượt qua.
Trước hết, thầy muốn làm rõ một câu nói khá phổ biến: ‘Hôn nhân là mồ chôn của tình yêu’”.
Sau khi diễn giải quan điểm của mình về hôn nhân và tình yêu, giáo sư Nhiên đi đến nhận định như sau: “Vâng ‘hôn nhân là mồ chôn của tình yêu’ nhưng là của loại tình yêu chiếm đoạt, ích kỷ và quy hướng về mình. Tuy nhiên, cùng với hôn nhân, bắt đầu một tình yêu khác để dẫn đến một hạnh phúc khác: ‘tình yêu hiến dâng’”.
Bài viết của giáo sư Trần Duy Nhiên làm tôi liên tưởng tới một số chị em đã và đang ‘hiến dâng cuộc đời’ ở trong những môi trường khác nhau. Đặc biệt, những chị em đó mỗi người ở một phương trời xa lạ, không quen biết nhau nhưng đã gặp gỡ nhau qua “tiếng chim ca”.
Dịch phẩm “NHƯ TIẾNG CHIM CA” ra đời gần một năm rưỡi nay, ý kiến độc giả từ nhiều nơi gởi về, chứa chan niềm khích lệ. Nhưng điều đáng nói ở đây là một số độc giả - do sự liên kết nội tâm - đã trở nên những người anh em, chị em tinh thần, nằm trong định luật “đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu”. Tất cả họ đều đang sống hay sẽ sống đời hiến dâng: có người hiến dâng qua đời sống hôn nhân như giáo sư Trần Duy Nhiên đã đề cập; có người hiến dâng trực tiếp qua đời sống tu trì. Bài chia sẻ nầy, không chỉ nhắm tới một số người liên hệ được nhắc nhở ở đây, nhưng còn bao quát hết những anh chị em khác - tất cả những người đang dấn thân trên hành trình truy nội - nhằm mục đích phong phú hóa đời sống mình trên bình diện tâm linh.
Trước hết xin đề cập tới M.V. một chị Việt-Nam sinh sống ở miền Trung Hoa-Kỳ. M.V. sống đời hôn nhân và đã có mấy cháu vừa trai vừa gái: có người đã đỗ đạt thành tài, có người còn đang ngồi ở ghế đại học hay trung học. M.V. cũng như bao người khác đang sinh sống ở một nước tiến bộ bậc nhất thế giới, nhưng sự an toàn lại rất bấp bênh về mặt kinh tế tài chánh. M.V. là chuyên viên của một công ty bậc trung, nhưng chẳng may công ty bị phá sản nên đã mất việc một thời gian khá lâu và vừa tìm được một việc làm khác. Lúc niềm vui nho nhỏ vừa chớm nở - tôi dùng chữ ‘nho nhỏ’, bởi vì M.V. kiếm được việc làm không vừa ý lắm, không hợp với khả năng chuyên môn của mình, nhưng cũng tạm sống qua ngày - thì bất ngờ người chồng là một nhân viên kỹ thuật lại vừa thất nghiệp…và sự ưu tư về cuộc sống gia đình cứ còn dai dẳng. Nhưng ưu tư lớn nhất là thái độ sống của con cái trong tuổi vị thành niên, càng ngày càng xa cách cha mẹ, khiến M.V. có lần đã buồn bã tâm sự: “Cháu gái thứ hai là đứa đã cho em nhiều nước mắt nhưng cũng lắm ngọt ngào!”
Và còn gì ngot ngào hơn cho bằng trong ngày Hiền Mẫu 11 tháng 05 năm 2003 vừa qua, M.V. đã vui sướng viết lên những lời nầy: “Em có một cuối tuần thật vui: con trai lớn tặng em một bó bông rồi dẫn cả nhà đi ăn cơm Tàu; con gái kế cũng tặng bông và quyển sách ‘The Chicken soup for mother and daughter soul’, còn con gái út cho em con gấu có chữ #1 Mom (em biết nó xạo mà em vẫn thích). Làm mẹ thích nhỉ!”
Nhưng rồi ngày Hiền Mẫu cũng không đánh tan hết những mây mù ảm đạm đang bủa giăng trên cuộc sống của mình nên M.V. viết tiếp: “Phần em về nhà má chồng, nấu cơm cho bà ăn. Má chồng em đã ngoài 90 tuổi, không đi đâu được. Em lấy bông con trai em tặng để tặng lại cho má chồng, dĩ nhiên em không nói cho bà biết! Còn mẹ ruột em đang ở một tiểu bang khác, vừa trải qua những trận bão khủng khiếp trong tháng rồi khiến mẹ em và gia đình chị em chưa được hoàn hồn: nhà cửa hư hại nặng nề, đang đóng nylông và họ định giá sửa sang lại hết US$85,000. Chưa kể đồ đạc hư hại bên trong nhà. Hãng bảo hiểm định giá sẽ bồi thường US$55,000. Còn đang thương lượng chưa giải quyết xong.”
Như giáo sư Trần Duy Nhiên đã viết ở trên:”Hôn nhân là mồ chôn của tình yêu”. Điều đó không có nghĩa là tình yêu đã chết. Tình yêu vẫn còn có đó nhưng ở dưới một dạng thức khác, một trạng thái khác. Đã qua rồi cái thời kỳ được ghi nhận:
“Cái thuở ban đầu lưu luyến ấy,
Nghìn năm chưa dễ đã ai quên.”
Hoặc :
“Tình chỉ đẹp khi còn dang dở,
Tình mất vui khi trọn câu thề.”
Có qua chăng là tính cách rạo rực, băn khoăn, đứng ngôi không yên khi vừa mới chớm yêu mà chưa trở thành ván đóng thuyền. Nhưng khi đã bước lên ‘thuyền tình’ thì phải xông pha với bão táp: không ai đóng thuyền, đóng tàu để rồi cho thuyền, cho tàu nghỉ yên ở trong bến bờ an toàn, thiếu vắng phong ba bão táp.
Tuy nhiên ca dao Việt Nam có câu:
“Nỉ non đêm vắng ngày dài,
Tu là cỗi phúc tình là dây oan.”
Trong nhãn quan Kitô giáo, vấn đề đi tu - tức thoát tục - hoặc sống ở đời - tức nhập thế - đều không có tính cách ảm đạm, thê lương và tiêu cực như thế. Cái vui thú của đời tu trì là được hiến dâng cuộc sống của mình cho Chúa để phục vụ tha nhân như lời Thánh Vịnh đã chép: “Một ngày nhà Chúa, ngàn ngày thế gian!”
Dưới đây là tâm tư của hai chị em, những người đã và đang vui sống hồn nhiên, hiến trọn cuộc đời của mình cho Thiên Chúa Tình Yêu.
L. N. là một nữ tu Việt-Nam ở miền Tây Hoa-Kỳ. L. N. đã có lòng ao ước hiến dâng đời mình cho Chúa lúc 17 tuổi, nhưng hoàn cảnh không cho phép vì mẹ qua đời lúc lên 15 và là chị lớn trong gia đình, mặc dù có anh trai cả nhưng anh ấy phải đi học xa. L. N. còn có một anh trai khác và hai em gái nhỏ hơn L. N. từ 4 tới 6 tuổi. Sau khi mẹ qua đời, cha của L. N. không được khỏe lắm, nhất là từ sau 1975 và cụ đã sống đơn độc như thế để nuôi đàn con dại.
Gia đình L N. đã đi định cư ở Hoa-Ky từ năm 1990 với sự bảo lãnh của người anh trai nhưng cha của L. N. đã được Chúa gọi về đúng một năm sau.
Sự thật, L. N. không muốn định cư ở Hoa-Kỳ, nhưng cha của L. N. không muốn xa cách con gái. Thế rồi, bao thăng trầm trong cuộc sống mới với ngôn ngữ bất đồng và văn hóa cùng nếp sống khác biệt, đã làm nhụt chí L. N. trong việc hiến dâng đời mình cho Chúa. Việc sống đời hôn nhân lại không nằm trong sở thích của L.N. Trong gần 10 năm, L. N. đã sống qua ngày trong nỗi niềm thất vọng chán nản ở vùng tuyết lạnh Nửu-Ước và Pensylvannia. Đã hai lần L. N. về thăm Việt-Nam nhưng cũng chưa đi đến quyết định nào cho lý tưởng đời mình. Năm 1997, L. N. dời qua miền tây Hoa-Kỳ để sinh sống vì thời tiết ấm áp hơn và nhất là ở gần người em gái kế tiếp đã lập gia đình. Một ngày không ngờ, L. N. đến thăm viếng một nhà dòng nữ tu người Hoa-Kỳ ở đây và đã được ơn Chúa gọi. Đó cũng là nơi mà L. N. muốn dừng chân cho cuộc đời mình: L. N. đã quyết định vào tu dòng đó vào năm 2000. Hiện tại L. N. khấn tạm và rồi đây, nếu đẹp lòng Chúa, L. N. sẽ khấn trọn đời vào một năm không xa.
Thật đúng là ơn gọi của Chúa muốn L. N. tận hiến trong môi trường đó. Đến bây giờ đây, L. N. cũng không trả lời được cho chính mình câu hỏi tại sao đi tu dòng Mỹ, vì L. N. không thông thạo Anh văn. Khi mới đặt chân đến đất Mỹ, L. N. đã khóc hơn một năm trời chỉ vì khó khăn trong việc trau dồi Anh ngữ. Ngay cả gia đình của L. N. cũng ngạc nhiên tại sao L. N. lại chọn dòng Mỹ, trong khi có biết bao dòng nữ Việt-Nam ở trên đất nước Mỹ. Và ngay cả ở thành phố mà L. N. cư ngụ, một nhà dòng nữ Việt-Nam cũng chỉ cách nhà dòng Mỹ của L. N. nửa giờ lái xe hơi. L. N. tự nghĩ có lẽ sự kêu gọi và lựa chọn của Chúa là muốn thanh luyện con nguời yếu hèn của mình. Sáu tháng nhà thử và hai năm nhà tập là những thời gian mà L. N. đã rơi nước mắt nhiều nhất. Nhưng vì L. N. đã kiên trì theo tiếng Chúa gọi trong bất cứ hoàn cảnh nào nên đã được Chúa cho nếm sự dịu ngọt và yêu thương của Ngài, như L. N. đã viết: “Không ngôn ngữ nào diễn tả hết được!”
Vì sống trong nhà dòng Mỹ và không ăn được đồ Mỹ bởi dị ứng nhiều thứ, chẳng hạn bột mì, nuts, bơ, sữa, nước trái cây và một số trái cây, cũng như không thể ăn đồ cay, chua hoặc lạnh, nên L. N. nấu một ít thức ăn riêng (thức ăn mặn) cho cả tuần lễ để dùng vào hôm nào có những món không ăn được. Nhiều khi L. N. ăn cũng một món cả trưa và chiều trong suốt tuần lễ. Nhưng L. N. đã vui vẻ chấp nhận và đã viết như sau: “Tất cả vì lòng mến Chúa Giêsu thì mọi sự đều tốt đẹp hết!”
Hiện L. N. đang còn bước những bước chập chững theo Chúa Giêsu nhưng rất hâm mộ gương Thánh Têrêxa nên đã mang tên Sr. Têrêxa và rất vui khi được phục vụ ở nhà giữ trẻ. Những gương mặt đơn sơ và hồn nhiên của đám trẻ thơ khiến L. N. cảm thấy an toàn về phương diện nội tâm, không còn phải lo lắng gì nữa mà hoàn toàn tín thác ở nơi Thiên Chúa Tình yêu.
Một người chị em khác là nữ tu P.V. vốn sinh ra là một trẻ khuyết tật, nhưng sau những năm tháng cầu nguyện, P.V. đã được giải phẫu và trị liệu có kết quả nên đã trở nên một người bình thường. Trước 1975, P.V. sau khi tốt nghiệp đại học ở miền Nam Việt-Nam, đã được học bổng đi du học ở Pháp. Vừa tốt nghiệp một đại học danh tiếng ở Paris, P.V. đã nghe theo tiếng gọi của Chúa mà dâng hiến đời mình làm nữ tu chiêm niệm, theo linh đạo của các Thánh nữ Têrêxa Avila và Têrêxa Hài Đồng Giêsu.
Cuộc đời dâng hiến của P.V. hiện nay - ngoài những bổn phận và trách nhiệm của một nữ tu chiêm niệm - chuyên lo phục vụ cho một số nữ tu già yếu trên 80 tuổi. Một phụ nữ trí thức, thông thạo Anh Pháp, với bao mộng đẹp ở đời, nhưng đã chọn cuộc sống âm thầm trong đời chiêm niệm ở một nơi xa xôi hẻo lánh ở vùng cực Bắc, để phục vụ những nữ tu già yếu trong dòng. Mỗi đêm P.V. phải dìu dắt những nữ tu già yếu đó lên giường ngủ, thoa bóp, dỗ dành…Và mỗi sáng sớm P.V. đánh thức họ dậy, lo mọi việc vệ sinh tươm tất và trong ngày săn sóc cho họ từ miếng ăn cho đến kinh nguyện, giải trí… chưa kể những lúc đau yếu phải đưa đi bệnh viện săn sóc. P.V. đảm trách công việc của một nữ y tá vì đã được cơ hội học thêm ngành chuyên môn đó. Và đời sống cứ tiếp diễn như thế, ngày nầy qua ngày khác, ngày làm việc cũng như ngày nghỉ lễ, mùa đông cũng như mùa hè. Nếu không có sự hiến dâng trọn vẹn và ơn Chúa gọi thì sẽ không thể bền đỗ đến cùng. Và P.V. cũng như L.N. đều tìm được nguồn vui bất tận trong đời tận hiến âm thầm, hoàn toàn là những nữ tì của Chúa, theo linh đạo của Thánh nữ Têrêxa Hài Đồng Giêsu.
Bên cạnh những người chị em trên đây đã quyết định dâng hiến đời mình qua cuộc sống hôn nhân như M.V. hay tu trì như L.N. và P.V., người ta không khỏi ngậm ngùi khi nghĩ tới T. T. là một nữ sinh viên đang sửa soạn trình luận án tiến sĩ ở Saigon, đồng thời dạy học với đồng lương “bèo” để sống, nhưng vẫn hiên ngang vui vẻ, mặc dù đôi lúc lãnh lương đã bị tự động khấu trừ để giúp đỡ người nghèo và mua công trái giáo dục! Tuy vậy, T.T. vẫn vui sống và nuôi hoài bão một ngày nào đó nếu được Chúa thương, sẽ sống đời tận hiến cho Chúa để phục vụ tha nhân, nhưng giờ đây đang còn trên đường tìm hiểu…
Mấy năm trước đây, T.T. được học bổng du học ở Pháp và trong thời gian đó, đã có dịp tham dự đám táng Đức cố Hồng Y Nguyễn Văn Thuận ở Roma nhưng sau đó đã cương quyết trở về quê nhà để phục vụ trong ngành giáo dục Việt-Nam. Mặc dù T.T. được nhiều công ty ngoại quốc ở Saigon sẵn sàng mướn làm chuyên viên với đồng lương rất cao, nhưng vì yêu mến lý tưởng giáo dục nhằm mục đích giáo huấn những thanh thiếu niên là những mầm non thế hệ nên T.T. đã vui vẻ chấp nhận cuộc sống hiện tại để hướng về một tương lai mà mình có thể sống lý tưởng phục vụ một cách trọn vẹn.
Tất cả những chị em trên đây đã gặp gỡ nhau qua quyển sách “NHƯ TIẾNG CHIM CA” vì như cha Anthony de Mello đã viết trong sách đó: “Chim ca không phải vì công bố điều gì nhưng vì có một bài ca.” (trang 5). Bài ca của loài chim ‘hay’ hay ‘dở’ thì chính loài chim không hay biết nhưng khi chim cất tiếng ca thì có người bị dị ứng bỏ đi, nhưng có người đã ‘đồng cảm’, dừng lại lắng nghe để ‘đồng hành’.
Và ‘tiếng chim ca’ vô tình trở nên giống như ‘con sông tuyệt đẹp’ mà ông lái đò đã đưa Tất Đạt qua dòng sông đó trong một ngày tất bật với những lời dặn dò như sau:“Con sông rất đẹp, tôi yêu thích nó hơn cả mọi sự. Tôi đã thường lắng nghe nó, nhìn ngắm nó và luôn học được ở nó một điều gì. Người ta có thể học được rất nhiều từ một dòng sông…Và tôi không chờ đợi ngài trả công hay cho chát gì tôi…Tôi đã học được điều nầy từ con sông nữa. Mọi sự đều trở về…Ngài cũng sẽ trở lại…” (Câu Chuyện Dòng Sông của Hermann Hesse, bản dịch của Phùng Khánh, Phùng Thăng, trang 49-50).
Và cũng như Tất Đạt, sau một thời gian ngược xuôi trên hành trình cuộc sống nội tâm, có ngày chúng ta sẽ trở lại với dòng sông để cũng như Tất Đạt, cùng ngắm lại dòng sông đời mình: “Chàng thương mến nhìn dòng sông chảy, nhìn màu xanh trong suốt, những đường pha lê vẽ nên bức tranh thần linh trong lòng nước…Chàng yêu dòng sông nầy biết bao, nó thật quyến rũ…Chàng nghe trong tim tiếng nói của thức tỉnh nói với chàng: ‘Hãy yêu dòng sông nầy, ở bên nó và học với nó.’Phải, chàng muốn học nơi nó, chàng muốn lắng nghe nó. Chàng thấy dường như bất cứ ai hiểu được dòng sông và những huyền bí của nó sẽ hiểu được nhiều điều hơn nữa, nhiều điều huyền bí, tất cả mọi huyền bí…Nhưng hôm nay chàng chỉ mới thấy một điều bí mật của con sông, điều bí mật đã đập mạnh vào tâm trí chàng. Chàng thấy dòng sông vẫn tiếp tục chảy như nó vẫn luôn luôn ở đấy, luôn luôn là dòng sông ấy trước mắt chàng, tuy nhiên mỗi lúc nó mỗi mới. Ai có thể hiểu được, quan niệm được điều nầy?” (trang 101-102).
Trong cuộc sống hằng ngày, chúng ta đã quá bận rộn trong việc ‘mua bán nước sông’ nên không thấy được dòng sông và nguồn nước trong lành ở trong sâu thẳm nội tâm chúng ta:
“Chúa là mục tử chăn dắt tôi, tôi chẳng thiếu thốn gì.
Trong đồng cỏ xanh tươi, Người cho tôi nằm nghỉ.
Người đưa tôi tới dòng nước trong lành
Và bổ sức cho tôi.” (Thánh Vịnh 23).
“Người sẽ như thửa vườn được tưới đẫm
Như mạch suối không cạn nước bao giờ.” (Is 58,11)
Nhưng với thân phận khốn khổ của con người, chúng ta đã ngụp lặn trong chốn vô minh mà không nhìn ra nguồn nước sống, như tiên tri Giêrêmi xưa kia đã than vản một cách ai oán:
“Dân ta đã làm hai điều gian ác: chúng nó đã lìa bỏ Ta là nguồn nước sống mà tự đào lấy những hồ nước, nhưng là những hồ bị rạn nứt, không chứa nước được.” (Giê 2:13)
Trong bài “MAI NẦY EM LÊN XE HOA” đăng trong EPHATA 112, giáo sư Trần Duy Nhiên đã mở đầu như sau:
“Em, vài ngày nữa, em sẽ lên xe hoa ở nơi xa và thầy không có cạnh em trong ngày trọng đại ấy. Thầy viết thư nầy cho em như một quà cưới và thay cho sự hiện diện của thầy.
Thế là em sắp đi qua một bước ngoặt dứt khoát trong đời mình. Em tiến vào một mảnh đất đầy hứa hẹn nhưng cũng đầy dẫy những bất ngờ mà em sẽ khám phá và vượt qua.
Trước hết, thầy muốn làm rõ một câu nói khá phổ biến: ‘Hôn nhân là mồ chôn của tình yêu’”.
Sau khi diễn giải quan điểm của mình về hôn nhân và tình yêu, giáo sư Nhiên đi đến nhận định như sau: “Vâng ‘hôn nhân là mồ chôn của tình yêu’ nhưng là của loại tình yêu chiếm đoạt, ích kỷ và quy hướng về mình. Tuy nhiên, cùng với hôn nhân, bắt đầu một tình yêu khác để dẫn đến một hạnh phúc khác: ‘tình yêu hiến dâng’”.
Bài viết của giáo sư Trần Duy Nhiên làm tôi liên tưởng tới một số chị em đã và đang ‘hiến dâng cuộc đời’ ở trong những môi trường khác nhau. Đặc biệt, những chị em đó mỗi người ở một phương trời xa lạ, không quen biết nhau nhưng đã gặp gỡ nhau qua “tiếng chim ca”.
Dịch phẩm “NHƯ TIẾNG CHIM CA” ra đời gần một năm rưỡi nay, ý kiến độc giả từ nhiều nơi gởi về, chứa chan niềm khích lệ. Nhưng điều đáng nói ở đây là một số độc giả - do sự liên kết nội tâm - đã trở nên những người anh em, chị em tinh thần, nằm trong định luật “đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu”. Tất cả họ đều đang sống hay sẽ sống đời hiến dâng: có người hiến dâng qua đời sống hôn nhân như giáo sư Trần Duy Nhiên đã đề cập; có người hiến dâng trực tiếp qua đời sống tu trì. Bài chia sẻ nầy, không chỉ nhắm tới một số người liên hệ được nhắc nhở ở đây, nhưng còn bao quát hết những anh chị em khác - tất cả những người đang dấn thân trên hành trình truy nội - nhằm mục đích phong phú hóa đời sống mình trên bình diện tâm linh.
Trước hết xin đề cập tới M.V. một chị Việt-Nam sinh sống ở miền Trung Hoa-Kỳ. M.V. sống đời hôn nhân và đã có mấy cháu vừa trai vừa gái: có người đã đỗ đạt thành tài, có người còn đang ngồi ở ghế đại học hay trung học. M.V. cũng như bao người khác đang sinh sống ở một nước tiến bộ bậc nhất thế giới, nhưng sự an toàn lại rất bấp bênh về mặt kinh tế tài chánh. M.V. là chuyên viên của một công ty bậc trung, nhưng chẳng may công ty bị phá sản nên đã mất việc một thời gian khá lâu và vừa tìm được một việc làm khác. Lúc niềm vui nho nhỏ vừa chớm nở - tôi dùng chữ ‘nho nhỏ’, bởi vì M.V. kiếm được việc làm không vừa ý lắm, không hợp với khả năng chuyên môn của mình, nhưng cũng tạm sống qua ngày - thì bất ngờ người chồng là một nhân viên kỹ thuật lại vừa thất nghiệp…và sự ưu tư về cuộc sống gia đình cứ còn dai dẳng. Nhưng ưu tư lớn nhất là thái độ sống của con cái trong tuổi vị thành niên, càng ngày càng xa cách cha mẹ, khiến M.V. có lần đã buồn bã tâm sự: “Cháu gái thứ hai là đứa đã cho em nhiều nước mắt nhưng cũng lắm ngọt ngào!”
Và còn gì ngot ngào hơn cho bằng trong ngày Hiền Mẫu 11 tháng 05 năm 2003 vừa qua, M.V. đã vui sướng viết lên những lời nầy: “Em có một cuối tuần thật vui: con trai lớn tặng em một bó bông rồi dẫn cả nhà đi ăn cơm Tàu; con gái kế cũng tặng bông và quyển sách ‘The Chicken soup for mother and daughter soul’, còn con gái út cho em con gấu có chữ #1 Mom (em biết nó xạo mà em vẫn thích). Làm mẹ thích nhỉ!”
Nhưng rồi ngày Hiền Mẫu cũng không đánh tan hết những mây mù ảm đạm đang bủa giăng trên cuộc sống của mình nên M.V. viết tiếp: “Phần em về nhà má chồng, nấu cơm cho bà ăn. Má chồng em đã ngoài 90 tuổi, không đi đâu được. Em lấy bông con trai em tặng để tặng lại cho má chồng, dĩ nhiên em không nói cho bà biết! Còn mẹ ruột em đang ở một tiểu bang khác, vừa trải qua những trận bão khủng khiếp trong tháng rồi khiến mẹ em và gia đình chị em chưa được hoàn hồn: nhà cửa hư hại nặng nề, đang đóng nylông và họ định giá sửa sang lại hết US$85,000. Chưa kể đồ đạc hư hại bên trong nhà. Hãng bảo hiểm định giá sẽ bồi thường US$55,000. Còn đang thương lượng chưa giải quyết xong.”
Như giáo sư Trần Duy Nhiên đã viết ở trên:”Hôn nhân là mồ chôn của tình yêu”. Điều đó không có nghĩa là tình yêu đã chết. Tình yêu vẫn còn có đó nhưng ở dưới một dạng thức khác, một trạng thái khác. Đã qua rồi cái thời kỳ được ghi nhận:
“Cái thuở ban đầu lưu luyến ấy,
Nghìn năm chưa dễ đã ai quên.”
Hoặc :
“Tình chỉ đẹp khi còn dang dở,
Tình mất vui khi trọn câu thề.”
Có qua chăng là tính cách rạo rực, băn khoăn, đứng ngôi không yên khi vừa mới chớm yêu mà chưa trở thành ván đóng thuyền. Nhưng khi đã bước lên ‘thuyền tình’ thì phải xông pha với bão táp: không ai đóng thuyền, đóng tàu để rồi cho thuyền, cho tàu nghỉ yên ở trong bến bờ an toàn, thiếu vắng phong ba bão táp.
Tuy nhiên ca dao Việt Nam có câu:
“Nỉ non đêm vắng ngày dài,
Tu là cỗi phúc tình là dây oan.”
Trong nhãn quan Kitô giáo, vấn đề đi tu - tức thoát tục - hoặc sống ở đời - tức nhập thế - đều không có tính cách ảm đạm, thê lương và tiêu cực như thế. Cái vui thú của đời tu trì là được hiến dâng cuộc sống của mình cho Chúa để phục vụ tha nhân như lời Thánh Vịnh đã chép: “Một ngày nhà Chúa, ngàn ngày thế gian!”
Dưới đây là tâm tư của hai chị em, những người đã và đang vui sống hồn nhiên, hiến trọn cuộc đời của mình cho Thiên Chúa Tình Yêu.
L. N. là một nữ tu Việt-Nam ở miền Tây Hoa-Kỳ. L. N. đã có lòng ao ước hiến dâng đời mình cho Chúa lúc 17 tuổi, nhưng hoàn cảnh không cho phép vì mẹ qua đời lúc lên 15 và là chị lớn trong gia đình, mặc dù có anh trai cả nhưng anh ấy phải đi học xa. L. N. còn có một anh trai khác và hai em gái nhỏ hơn L. N. từ 4 tới 6 tuổi. Sau khi mẹ qua đời, cha của L. N. không được khỏe lắm, nhất là từ sau 1975 và cụ đã sống đơn độc như thế để nuôi đàn con dại.
Gia đình L N. đã đi định cư ở Hoa-Ky từ năm 1990 với sự bảo lãnh của người anh trai nhưng cha của L. N. đã được Chúa gọi về đúng một năm sau.
Sự thật, L. N. không muốn định cư ở Hoa-Kỳ, nhưng cha của L. N. không muốn xa cách con gái. Thế rồi, bao thăng trầm trong cuộc sống mới với ngôn ngữ bất đồng và văn hóa cùng nếp sống khác biệt, đã làm nhụt chí L. N. trong việc hiến dâng đời mình cho Chúa. Việc sống đời hôn nhân lại không nằm trong sở thích của L.N. Trong gần 10 năm, L. N. đã sống qua ngày trong nỗi niềm thất vọng chán nản ở vùng tuyết lạnh Nửu-Ước và Pensylvannia. Đã hai lần L. N. về thăm Việt-Nam nhưng cũng chưa đi đến quyết định nào cho lý tưởng đời mình. Năm 1997, L. N. dời qua miền tây Hoa-Kỳ để sinh sống vì thời tiết ấm áp hơn và nhất là ở gần người em gái kế tiếp đã lập gia đình. Một ngày không ngờ, L. N. đến thăm viếng một nhà dòng nữ tu người Hoa-Kỳ ở đây và đã được ơn Chúa gọi. Đó cũng là nơi mà L. N. muốn dừng chân cho cuộc đời mình: L. N. đã quyết định vào tu dòng đó vào năm 2000. Hiện tại L. N. khấn tạm và rồi đây, nếu đẹp lòng Chúa, L. N. sẽ khấn trọn đời vào một năm không xa.
Thật đúng là ơn gọi của Chúa muốn L. N. tận hiến trong môi trường đó. Đến bây giờ đây, L. N. cũng không trả lời được cho chính mình câu hỏi tại sao đi tu dòng Mỹ, vì L. N. không thông thạo Anh văn. Khi mới đặt chân đến đất Mỹ, L. N. đã khóc hơn một năm trời chỉ vì khó khăn trong việc trau dồi Anh ngữ. Ngay cả gia đình của L. N. cũng ngạc nhiên tại sao L. N. lại chọn dòng Mỹ, trong khi có biết bao dòng nữ Việt-Nam ở trên đất nước Mỹ. Và ngay cả ở thành phố mà L. N. cư ngụ, một nhà dòng nữ Việt-Nam cũng chỉ cách nhà dòng Mỹ của L. N. nửa giờ lái xe hơi. L. N. tự nghĩ có lẽ sự kêu gọi và lựa chọn của Chúa là muốn thanh luyện con nguời yếu hèn của mình. Sáu tháng nhà thử và hai năm nhà tập là những thời gian mà L. N. đã rơi nước mắt nhiều nhất. Nhưng vì L. N. đã kiên trì theo tiếng Chúa gọi trong bất cứ hoàn cảnh nào nên đã được Chúa cho nếm sự dịu ngọt và yêu thương của Ngài, như L. N. đã viết: “Không ngôn ngữ nào diễn tả hết được!”
Vì sống trong nhà dòng Mỹ và không ăn được đồ Mỹ bởi dị ứng nhiều thứ, chẳng hạn bột mì, nuts, bơ, sữa, nước trái cây và một số trái cây, cũng như không thể ăn đồ cay, chua hoặc lạnh, nên L. N. nấu một ít thức ăn riêng (thức ăn mặn) cho cả tuần lễ để dùng vào hôm nào có những món không ăn được. Nhiều khi L. N. ăn cũng một món cả trưa và chiều trong suốt tuần lễ. Nhưng L. N. đã vui vẻ chấp nhận và đã viết như sau: “Tất cả vì lòng mến Chúa Giêsu thì mọi sự đều tốt đẹp hết!”
Hiện L. N. đang còn bước những bước chập chững theo Chúa Giêsu nhưng rất hâm mộ gương Thánh Têrêxa nên đã mang tên Sr. Têrêxa và rất vui khi được phục vụ ở nhà giữ trẻ. Những gương mặt đơn sơ và hồn nhiên của đám trẻ thơ khiến L. N. cảm thấy an toàn về phương diện nội tâm, không còn phải lo lắng gì nữa mà hoàn toàn tín thác ở nơi Thiên Chúa Tình yêu.
Một người chị em khác là nữ tu P.V. vốn sinh ra là một trẻ khuyết tật, nhưng sau những năm tháng cầu nguyện, P.V. đã được giải phẫu và trị liệu có kết quả nên đã trở nên một người bình thường. Trước 1975, P.V. sau khi tốt nghiệp đại học ở miền Nam Việt-Nam, đã được học bổng đi du học ở Pháp. Vừa tốt nghiệp một đại học danh tiếng ở Paris, P.V. đã nghe theo tiếng gọi của Chúa mà dâng hiến đời mình làm nữ tu chiêm niệm, theo linh đạo của các Thánh nữ Têrêxa Avila và Têrêxa Hài Đồng Giêsu.
Cuộc đời dâng hiến của P.V. hiện nay - ngoài những bổn phận và trách nhiệm của một nữ tu chiêm niệm - chuyên lo phục vụ cho một số nữ tu già yếu trên 80 tuổi. Một phụ nữ trí thức, thông thạo Anh Pháp, với bao mộng đẹp ở đời, nhưng đã chọn cuộc sống âm thầm trong đời chiêm niệm ở một nơi xa xôi hẻo lánh ở vùng cực Bắc, để phục vụ những nữ tu già yếu trong dòng. Mỗi đêm P.V. phải dìu dắt những nữ tu già yếu đó lên giường ngủ, thoa bóp, dỗ dành…Và mỗi sáng sớm P.V. đánh thức họ dậy, lo mọi việc vệ sinh tươm tất và trong ngày săn sóc cho họ từ miếng ăn cho đến kinh nguyện, giải trí… chưa kể những lúc đau yếu phải đưa đi bệnh viện săn sóc. P.V. đảm trách công việc của một nữ y tá vì đã được cơ hội học thêm ngành chuyên môn đó. Và đời sống cứ tiếp diễn như thế, ngày nầy qua ngày khác, ngày làm việc cũng như ngày nghỉ lễ, mùa đông cũng như mùa hè. Nếu không có sự hiến dâng trọn vẹn và ơn Chúa gọi thì sẽ không thể bền đỗ đến cùng. Và P.V. cũng như L.N. đều tìm được nguồn vui bất tận trong đời tận hiến âm thầm, hoàn toàn là những nữ tì của Chúa, theo linh đạo của Thánh nữ Têrêxa Hài Đồng Giêsu.
Bên cạnh những người chị em trên đây đã quyết định dâng hiến đời mình qua cuộc sống hôn nhân như M.V. hay tu trì như L.N. và P.V., người ta không khỏi ngậm ngùi khi nghĩ tới T. T. là một nữ sinh viên đang sửa soạn trình luận án tiến sĩ ở Saigon, đồng thời dạy học với đồng lương “bèo” để sống, nhưng vẫn hiên ngang vui vẻ, mặc dù đôi lúc lãnh lương đã bị tự động khấu trừ để giúp đỡ người nghèo và mua công trái giáo dục! Tuy vậy, T.T. vẫn vui sống và nuôi hoài bão một ngày nào đó nếu được Chúa thương, sẽ sống đời tận hiến cho Chúa để phục vụ tha nhân, nhưng giờ đây đang còn trên đường tìm hiểu…
Mấy năm trước đây, T.T. được học bổng du học ở Pháp và trong thời gian đó, đã có dịp tham dự đám táng Đức cố Hồng Y Nguyễn Văn Thuận ở Roma nhưng sau đó đã cương quyết trở về quê nhà để phục vụ trong ngành giáo dục Việt-Nam. Mặc dù T.T. được nhiều công ty ngoại quốc ở Saigon sẵn sàng mướn làm chuyên viên với đồng lương rất cao, nhưng vì yêu mến lý tưởng giáo dục nhằm mục đích giáo huấn những thanh thiếu niên là những mầm non thế hệ nên T.T. đã vui vẻ chấp nhận cuộc sống hiện tại để hướng về một tương lai mà mình có thể sống lý tưởng phục vụ một cách trọn vẹn.
Tất cả những chị em trên đây đã gặp gỡ nhau qua quyển sách “NHƯ TIẾNG CHIM CA” vì như cha Anthony de Mello đã viết trong sách đó: “Chim ca không phải vì công bố điều gì nhưng vì có một bài ca.” (trang 5). Bài ca của loài chim ‘hay’ hay ‘dở’ thì chính loài chim không hay biết nhưng khi chim cất tiếng ca thì có người bị dị ứng bỏ đi, nhưng có người đã ‘đồng cảm’, dừng lại lắng nghe để ‘đồng hành’.
Và ‘tiếng chim ca’ vô tình trở nên giống như ‘con sông tuyệt đẹp’ mà ông lái đò đã đưa Tất Đạt qua dòng sông đó trong một ngày tất bật với những lời dặn dò như sau:“Con sông rất đẹp, tôi yêu thích nó hơn cả mọi sự. Tôi đã thường lắng nghe nó, nhìn ngắm nó và luôn học được ở nó một điều gì. Người ta có thể học được rất nhiều từ một dòng sông…Và tôi không chờ đợi ngài trả công hay cho chát gì tôi…Tôi đã học được điều nầy từ con sông nữa. Mọi sự đều trở về…Ngài cũng sẽ trở lại…” (Câu Chuyện Dòng Sông của Hermann Hesse, bản dịch của Phùng Khánh, Phùng Thăng, trang 49-50).
Và cũng như Tất Đạt, sau một thời gian ngược xuôi trên hành trình cuộc sống nội tâm, có ngày chúng ta sẽ trở lại với dòng sông để cũng như Tất Đạt, cùng ngắm lại dòng sông đời mình: “Chàng thương mến nhìn dòng sông chảy, nhìn màu xanh trong suốt, những đường pha lê vẽ nên bức tranh thần linh trong lòng nước…Chàng yêu dòng sông nầy biết bao, nó thật quyến rũ…Chàng nghe trong tim tiếng nói của thức tỉnh nói với chàng: ‘Hãy yêu dòng sông nầy, ở bên nó và học với nó.’Phải, chàng muốn học nơi nó, chàng muốn lắng nghe nó. Chàng thấy dường như bất cứ ai hiểu được dòng sông và những huyền bí của nó sẽ hiểu được nhiều điều hơn nữa, nhiều điều huyền bí, tất cả mọi huyền bí…Nhưng hôm nay chàng chỉ mới thấy một điều bí mật của con sông, điều bí mật đã đập mạnh vào tâm trí chàng. Chàng thấy dòng sông vẫn tiếp tục chảy như nó vẫn luôn luôn ở đấy, luôn luôn là dòng sông ấy trước mắt chàng, tuy nhiên mỗi lúc nó mỗi mới. Ai có thể hiểu được, quan niệm được điều nầy?” (trang 101-102).
Trong cuộc sống hằng ngày, chúng ta đã quá bận rộn trong việc ‘mua bán nước sông’ nên không thấy được dòng sông và nguồn nước trong lành ở trong sâu thẳm nội tâm chúng ta:
“Chúa là mục tử chăn dắt tôi, tôi chẳng thiếu thốn gì.
Trong đồng cỏ xanh tươi, Người cho tôi nằm nghỉ.
Người đưa tôi tới dòng nước trong lành
Và bổ sức cho tôi.” (Thánh Vịnh 23).
“Người sẽ như thửa vườn được tưới đẫm
Như mạch suối không cạn nước bao giờ.” (Is 58,11)
Nhưng với thân phận khốn khổ của con người, chúng ta đã ngụp lặn trong chốn vô minh mà không nhìn ra nguồn nước sống, như tiên tri Giêrêmi xưa kia đã than vản một cách ai oán:
“Dân ta đã làm hai điều gian ác: chúng nó đã lìa bỏ Ta là nguồn nước sống mà tự đào lấy những hồ nước, nhưng là những hồ bị rạn nứt, không chứa nước được.” (Giê 2:13)