NHƯ KHÍ CỤ TÌNH YÊU CỦA CHÚA

(Chúa Nhật 24 Thường niên năm C, 2010)

Dẫn nhập đầu lễ:

Lời Chúa hôm nay mời gọi chúng ta tiến bước trên con đường yêu thương. Đi trên nẻo đường đó, trước hết, mỗi người phải tin và cảm nhận được chính Thiên Chúa yêu thương mình. Và chính trong tình yêu sâu thẳm dạt dào đó, chúng ta mở lòng để yêu thương anh chị em và mỗi ngày trở nên khí cụ tình yêu của Thiên Chúa giữa lòng cuộc sống.

Để xứng đáng cử hành thánh lễ, một thể hiện tình yêu trọn vẹn của chính Đức Kitô dành cho Thiên Chúa và cho con người, chúng ta cùng sốt sắng thú nhận tội lỗi.

Chia sẻ Lời Chúa:

Một trong những lý do khiến nhiều người tìm tới cái chết “tự tử” đó là khi tình yêu bị đánh mất, khi tình yêu bị phản bội, khi không còn ai yêu thương…

Câu chuyện bi thảm về cái chết của Rômêo và Juliette trong bi hùng kịch bất hủ của William Shakespeare là một thuyết minh sống động cho ý nghĩa nầy.

Nhưng, cho dù bị mất hết tình yêu của con người, nếu, ai đó vẫn còn tin vào tình yêu của Thượng Đế thì vẫn còn cơ may để hy vọng, để vươn lên.

Nổi thất vọng lớn lao nhất, bi đát nhất chính là khi không còn tin vào tình yêu của Thiên Chúa, khi không còn điểm tựa nơi Thượng Đế. Tông Đồ Giuđa có thể đã thuộc đối tượng nầy khi thất vọng vì tội lỗi bán thầy đã quay lưng lại với chính Đấng đẫ từng dạy rằng: “Con phải tha thứ không phải 7 lần nhưng là 70 lần 7 lần” để tìm lấy cái chết thắt cổ tự vận.

Tin rằng “Thượng Đế là Một Đấng Từ Bi giàu lòng thương xót” mãi mãi vẫn là một thách đố, một “chuyện khó chấp nhận” đối với tâm thức của một số đông người, nhất là những người đã hơn một lần bị vùi dập dưới sức nặng của đau thương, tai họa, khổ sầu…

Thượng Đế của những con người nầy nếu không trở thành một thần tượng xa lạ trên mây trời, thì cũng chỉ là một Thượng đế của kinh hoàng sợ hải như lời than vãn của ông Gióp lúc bị thử thách đau thương:

“Nầy có sang Đông, tôi sẽ chẳng thấy Người,
Đi sang Đoài, cũng không gặp được.
Tôi lên Bắc tìm Người cũng không gặp thấy,
Có xuống Nam Người cũng biệt tăm…” (G 23, 8-9)
“Vì thế, trước nhan Người, tôi đâm sợ hải,
Chỉ nghĩ đến Người là đã khiếp kinh.
Thiên Chúa làm cho tôi nhát đảm,
Đấng Toàn Năng làm cho tôi phải kinh hoàng…” (G 23, 15-16)


Thế nhưng, cái “sợi chỉ đỏ xuyên suốt chân lý về Thiên Chúa” được chính Ngài mặc khải qua Thánh Kinh lại là “Một Thiên Chúa yêu thương”, “Một Đấng Thượng Đế giàu lòng thương xót”. Để cho con người mày mò học biết và cảm nhận chân lý cao siêu này, Thiên Chúa quả đã thực dày công và kiên nhẫn. Cả một chuổi dài lịch sử của dân tộc Ít-ra-en chưa đủ, cho dù Ngài đã thể hiện không biết bao nhiêu biến cố và kỳ công. Trích đoạn sách Xuất Hành của Bài Đọc I, Chúa Nhật 24 TN C, là một trong muôn vàn những cách mặc khải của Thiên Chúa trong Cựu ước về chân dung đích thực của Ngài: Nhờ lời can gián và cầu khẩn của Mô-sê, Vị Lãnh đạo sát cánh cùng Dân Chúa trên từng cây số lữ hành về đất hứa, Thiên Chúa đã “nguôi giận” và tha thứ cho tội bất trung, mê tín của dân, dám đúc hình bò thờ lạy thay vì trung tín với Giao ước…Trình thuật của sách “Xuất Hành” về biến cố “Bò Vàng” nầy đã nêu bật “hình tượng Môsê một Vị Trung Gian đầy ấn tượng” như một tiên báo rõ nét vai trò của “Vị Trung Gian Giao Uớc Mới, Đức Giêsu Kitô, Đấng sẽ đứng ra lấy máu mình để chuộc tội cho “bàn dân thiên hạ”…..Lòng khoan dung tha thứ, chậm bất bình và rất mực yêu thương của Thiên Chúa còn được tái diễn hoài hoài không phải chỉ ở giữa lòng lịch sử của dân Ít-ra-en, không phải chỉ trong một thời gian nhất định…mà cho muôn thế hệ loài người ở khắp muôn nơi và mọi miền thế giới. Và đó phải chăng là một trong những lý do để Thiên Chúa “ban tặng Người Con Một” (Ga 3,16) và cũng là tiêu đích để Người Con đó “cắm lều ở giữa chúng ta” (Ga 1,14).

Thật vậy, với Đức Giês-Kitô, con người từ đây có thể “rờ đụng” được một Thiên Chúa là Cha yêu thương, có thể cảm nhận được một Thượng Đế gần gũi biết “cảm thương” và giàu lòng lân tuất, có thể tiếp cận, ngỏ lời, van xin một “Ông Trời”, một Thượng Đế, một Đấng Tối Cao luôn biết lắng nghe và quan tâm đến từng hơi thở và nhịp đập của trái tim con người. Chân lý nầy đã được Công Đồng Vatican II trong Hiến Chế Mục vụ “Vui Mừng và hy vọng” xác quyết bằng những lời sau:

“Bởi vì, chính Con Thiên Chúa khi nhập thể, một cách nào đó đã kết hợp với tất cả mọi người. Ngài đã làm việc với bàn tay con người, đã suy nghĩ bằng trí óc con người, đã hành động với ý chí con người, đã yêu mến bằng quả tim con người. Sinh bởi trinh nữ Maria, Người đã thực sự trở nên một người giữa chúng ta, giống chúng ta mọi sự, ngoại trừ tội lỗi”. (G.S 22)

Nhập thể làm người để con người nhận ra Thiên Chúa, gặp gỡ Thiên Chúa, đó chính là sứ vụ của Ngôi Hai, là trọng tâm của chương trình cứu rỗi, là tiêu đích của “Lời mặc khải. Kể từ khi có tiếng khóc oa oa của Em bé Giêsu nơi hang lừa máng cỏ ở giữa đám mục đồng cù bơ cù bất tại Bêlem, kể từ lúc có người tử tội Giêsu bị đóng đinh trên đồi canvê vào chiều thứ Sáu giữa hai người trộm cướp…Thượng Đế không còn là một “Ông Trời Già” xa tít trên các tầng mây để chỉ biết “hù dọa”, đe phạt hay “bắt” con “bắt” cháu ngang ngược dã man…mà là một Thiên Chúa là Tình yêu, một Tình yêu khoan dung tha thứ, một tình yêu thông cảm quảng đại, một tình yêu rộng mở trao ban, một tình yêu cho đi và tận hiến.

Vâng, Thiên Chúa của Đức Giêsu là một Thiên Chúa “không nỡ lòng nhìn thằng vào đôi mắt thẹn thùng, hổ thẹn, mặc cảm của người phụ nữ bị bắt quả tang ngoại tình” để rồi ân cần chia sẻ một tín thư hy vọng, yêu thương thay vì lời tuyên án: “Phần tôi, tôi cũng không kết án chị đâu…” (Ga 7,1-11). Thiên Chúa của Đức Giêsu là một Thiên Chúa sẵn sàng để cho người “đàn bà tội lỗi” nhỏ những giọt nước mắt hối cãi ăn năn trên chân mình mà làm lại cuộc đời…(Lc 7,46-38). Thiên Chúa của Đức Giêsu là một Thiên Chúa vẫn đưa mắt nhân từ “nhìn lại” để mở đường cho bao nhiêu Phêrô biết sám hối ăn năn sau những lần bội phản….(Lc 22,61-62), cho người thu thuế Gia-Kê hân hoan làm lại cuộc đời (Lc 19,1-10). Thiên Chúa của Đức Giêsu Kitô là một Thiên Chúa biết thổn thức trước cái chết của người bạn Ladarô (Lc 11,35), biết cảm thông nổi xót xa đau đớn của người mẹ góa Naim khi mất đứa con một (Lc 7,11-17), nổi khốn khổ của người đàn bà Canaan bị loạn huyết chỉ dám ước mơ rờ đụng tới cái gấu áo của Thầy để được khỏi….(Lc 8,43-48). Và hôm nay, liên tiếp mấy dụ ngôn của Tin Mừng Luca, Đức Giêsu muốn tuyên cáo một cách cách dõng dạc: Thiên Chúa một người cha rất mực yêu thương sẵn sàng mở rộng vòng tay tha thứ chờ đón những đứa con hư trở về, sẵn sàng mở tiệc hoan vui để tội nhân được khoác áo mới làm lại cuộc đời trong tin yêu hy vọng…(Lc 15,1-32).

Chính Thánh Phaolô vói trích đoạn thư thứ nhất gởi đồ đệ Timôthê trong BĐ 2 hôm nay, đã chia sẻ kinh nghiệm được yêu thương như một chứng từ sống động:

“Trước kia tôi là kẻ nói lộng ngôn, bắt đạo và ngạo ngược, nhưng tôi đã được Người xót thương, vì tôi đã hành động một cách vô ý thức, trong lúc chưa có lòng tin. Đức Kitô Giêsu, Chúa chúng ta, đã ban cho tôi đầy tràn ân sủng cùng với đức tin và đức mến của một kẻ được kết hợp với Người…Đức Kitô Giêsu đã đến thế gian để cứu những người tội lỗi, mà kẻ đầu tiên là tôi…”

Sống niềm tin kitô hữu là luôn trở thành “bài thuyết minh sinh động” về chân lý nền tảng đó: Thiên Chúa là tình yêu. Và những ai có tham vọng trở thành đại thánh nhân giữa lòng Hội Thánh thì cũng chỉ cần sống đạt tiêu chí “tình yêu” mà Phúc âm của Đức Kitô đã vạch lối chỉ đường đó thôi, như một Têrêsa Hài Đồng: “ Ở giữa lòng Hội Thánh, em sẽ là tình yêu”, hay như Á Thánh Anrê Phú Yên “Hỡi anh em, đối với Chúa Giêsu rất yêu dấu của chúng ta, chúng ta hãy lấy tình yêu đáp lại tình yêu. Chúa đã chịu chết đau khổ vì chúng ta, chúng ta hãy đem mạng sống đáp đền mạng sống”.

Giá cao luôn được dành cho của quí. Tình yêu lớn đòi phải hy sinh nhiều. Như câu chuyện ngụ ngôn của Oscar Wide "Con chim hoạ mi và cây hoa hồng": Để làm nên quà tặng tình yêu, chim hoạ mi chấp nhận ép tim vào gai nhọn của hoa hồng để cây hoa hút máu tạo nên một cánh hoa hồng đẹp, làm quà tặng tình yêu". Chính Đức Kitô đã thể hiện “tình yêu lớn” cho tất cả chúng ta khi Ngài chấp nhận chết khổ hình thập giá như một chứng minh cho lời dạy trước đó của mình: “Không có tình thương nào cao cả hơn tình thương của người đã hy sinh tính mạng vì bạn hữu của mình” (Ga 15,13).

Và như thế, lời cầu xin hôm nay, trong thánh lễ nầy, cho chính chúng ta cũng như cho mọi người là hãy xin cho được “trở nên khí cụ tình yêu của Chúa” như lời kinh hòa bình của thánh Phanxicô khó khăn. Chúng ta hãy cùng hát lên bài ca kinh đó như lời kết cho bài giảng hôm nay:

“Lạy Chúa từ nhân, xin cho con biết mến yêu và phụng sự Chúa trong mọi người…Lạy Chúa xin hãy dùng con như khí cụ tình yêu của Chúa…”

LM. Giuse Trương Đình Hiền.