HỌC HỎI HUẤN THỊ “XUẤT PHÁT LẠI TỪ Đ ỨC KI-TÔ”
PHẦN III
ĐỜI SỐNG THIÊNG LIÊNG ĐẶT LÊN HÀNG ĐẦU
42. Tại sao phải mở lòng và ngoan ngoãn với hoạt động của Thánh Khí?
Đ/ Bởi vì chỉ mình Thánh Khí mới giữ cho sống động sự tươi trẻ và tính xác thực của buổi ban đầu, đồng thời truyền cho sự can đảm của tinh thần lê thuộc lẫn nhau và óc sáng tạo cần thiết để đáp trả các dấu chỉ thời đại.
43. Thế nào là một cuộc sống theo Thánh Khí?
Đ/ Đó là một cuộc sống được Thánh Khí:
khai mở nguồn nước hằng sống tuôn trào từ Đức Ki-tô cách vô cùng phong phú;
làm cho chúng ta nhìn nhận Đức Giê-su Na-da-rét là Đức Chúa;
cho chúng ta nghe được lời mời gọi đi theo Đức Ki-tô và kết hiệp chúng ta trong Người;
biến chúng ta thành những người con trong Chúa Con, làm chứng về tình phụ tử của Thiên Chúa, giúp chúng ta ý thức đến tư cách là nghĩa tử và cho phép chúng ta dám gọi Thiên Chúa là “Abba, Cha ơi”;
đổ tràn tình yêu và làm nảy sinh sự hiệp thông.
44. Nỗ lực sống thánh thiện là gì?
Đ/ Đó là, trong sự giản dị của đời sống hằng ngày, ta nhắm đến tính triệt để của Bài giảng trên Núi và tình yêu có tính đòi hỏi, thể hiện qua mối tương quan với Chúa, qua đời sống hiệp thông và qua việc phục vụ mọi người nam nữ.
45. Xuất phát lại từ Đức Ki-tô là gì?
Đ/ Đó là gắn bó ngày càng mật thiết hơn với Đức Ki-tô, trung tâm của đời sống thánh hiến và lại một lần nữa đi lại con đường hoán cải và canh tân, giống như kinh nghiệm đầu tiên của các tông đồ, trước và sau biến cố phục sinh.
46. Làm sao người thánh hiến có thể và phải xuất phát lại từ Đức Ki-tô?
Đ/ Bởi vì chính Đức Ki-tô đã đến với họ trước và đồng hành với họ trên đường. Chính Đức Ki-tô hiện diện giữa cộng đoàn những kẻ suốt bao thế kỷ, tụ họp nhân danh Người, Người đã dạy dỗ họ về chính mình và về Thánh Khí, Người hướng họ về Chúa Cha, Người hướng dẫn họ trên các nẻo đường của trần gian để gặp gỡ các anh em, chị em, Người biến họ thành khí cụ tình yêu và người xây dựng Nước Trời trong sự thông hiệp với những ơn gọi khác trong Giáo hội.
47. Ý nghĩa đầu tiên của “xuất phát lại từ Đức Ki-tô” là gì?
Đ/ Xuất phát lại từ Đức Ki-tô có nghĩa là loan báo rằng đời sống thánh hiến là một cách đặc biệt đi theo Đức Ki-tô. Điều đó bao hàm một sự hiệp thông tình yêu đặc biệt với Đức Ki-tô, Đấng đã trở nên trung tâm của đời sống họ và nguồn mạch liên tục của mọi sáng kiến. Như tông huấn Đời sống thánh hiến nhắc nhở chúng ta, đó là một kinh nghiệm chia sẻ, “một ơn đặc biệt là sống trong tình thân thiết”. Đó là “trở nên một với Người, mang cùng những tâm tình, cùng một lối sống”, và đó là một cuộc sống “bị Đức Ki-tô chiếm hữu”, “được bàn tay Đức Ki-tô chạm đến, được tiếng nói của Người nhắn nhủ, được ân sủng của Người nâng đỡ”.
48. Tại sao sự hiệp thông tình yêu với Đức Ki-tô là điều hệ trọng nhất?
Đ/ Bởi vì toàn thể đời sống thánh hiến chỉ có thể hiểu được từ khởi điểm này:
các lời khuyên phúc âm có một ý nghĩa trong mức độ chúng giúp gìn giữ và tạo thuận lợi cho tình yêu đối với Chúa trong sự ngoan ngoãn hoàn toàn đối với thánh ý Người;
đời sống cộng đoàn được thúc đẩy nhờ Đấng đã quy tụ những người khác chung quanh mình và có mục tiêu là vui hưởng sự hiện diện thường hằng của Người;
sứ mệnh là lệnh truyền của Người dẫn dắt ta tìm kiếm khuôn mặt của Người trong những khuôn mặt của những người mà ta được sai đến để chia sẻ với họ kinh nghiệm về Đức Ki-tô.
49. Ý nghĩa thứ hai của “xuất phát lại từ Đức Ki-tô” là gì?
Đ/ Xuất phát lại từ Đức Ki-tô có nghĩa tìm lại một lần nữa tình yêu ban đầu của ta, tia sáng lôi cuốn làm ta đứng lên đi theo Người. Bước đầu là tình yêu của Thiên Chúa. Bước tiếp mới là sự đáp trả đầy lòng yêu mến đối với tình yêu Thiên Chúa.
50. Tại sao cảm nghiệm tình yêu thương vô biên của Đức Ki-tô là điều hệ trọng đối với chúng ta?
Đ/ Bởi vì chỉ khi ý thức mình được yêu thương vô cùng mới có thể giúp chúng ta vượt thắng mọi khó khăn riêng tư hay do cơ cấu. Người thánh hiến không thể có tính sáng tạo, có khả năng canh tân tu hội và mở ra những con đường mục vụ mới nếu họ không cảm thấy được yêu mến với tình yêu ấy. Chính tình yêu ấy làm cho họ trở nên mạnh mẽ, có thể dám làm mọi sự.
51. Các lời khấn giúp chúng ta triệt để đáp lại tình yêu như thế nào?
Đ/ Lời khấn khiết tịnh mở rộng con tim cho đến chiều kích của con tim Đức Ki-tô và làm cho nó có thể yêu mến như Người đã yêu.
Lời khấn nghèo khó giải thoát ta khỏi nô lệ các sự vật và các nhu cầu giả tạo đang lôi cuốn xã hội tiêu dùng và dẫn ta đến việc tái khám phá Đức Ki-tô, kho tàng duy nhất đáng để ta tìm kiếm.
Lời khấn vâng phục đặt cuộc sống hoàn toàn trong bàn tay Đức Ki-tô ngõ hầu Người có thể sử dụng theo kế hoạch của Thiên Chúa và biến nó trở nên một tuyệt tác.
52. Chúng ta chiêm ngưỡng cách cụ thể khuôn mặt Đức Ki-tô ở đâu?
Đ/ Có vô vàn sự hiện diện cần được khám phá ra theo những cách thức luôn luôn mới mẻ:
Đức Ki-tô thực sự hiện diện trong Lời của Người và trong các bí tích, đặc biệt trong bí tích Thánh Thể.
Đức Ki-tô sống trong Giáo hội, Người làm cho mình hiện diện trong cộng đoàn những người tụ họp vì danh Người.
Người đứng trước mặt chúng ta trong mọi người, đồng hoá cách đặc biệt với những người bé nhỏ, người nghèo, người đau khổ và người đang thiếu thốn nhất.
Người gặp gỡ chúng ta trong mọi biến cố vui buồn, trong thử thách hay trong niềm vui, trong đau khổ hay trong bệnh tật.
53. Muốn nhận ra Người thì cần đến điều gì?
Đ/ Muốn nhận ra Người thì cần đến một cái nhìn đức tin, cái nhìn có được nhờ đọc Lời Chúa, nhờ cầu nguyện và trên hết nhờ thực thi bác ái bởi vì Mầu nhiệm chỉ có thể hiểu biết trọn vẹn nhờ tình yêu.
54. Huấn thị nhắc lại một vài nơi chốn đặc biệt nào mà ta có thể chiêm ngưỡng khuôn mặt Đức Ki-tô?
Đ/ Đó là:
Lời Thiên Chúa
Cầu nguyện và chiêm ngưỡng
Bí tích Thánh Thể
Khuôn mặt Đức Ki-tô đang gặp thử thách
55. Tại sao không thể có được sự thánh thiện nếu không lắng nghe lời Thiên Chúa?
Đ/ Bởi vì:
Chính nơi Lời Chúa mà Thầy mặc khải chính mình và giáo dục tâm trí và con tim.
Chính nơi đó mà cái nhìn đức tin nên trưởng thành, bằng cách học biết nhìn thực tại và các biến cố qua con mắt của Thiên Chúa, đến mức có được “tư tưởng của Đức Ki-tô”.
Mọi đoàn sủng và mọi luật lệ xuất phát từ đó và tìm cách trở nên một sự diễn tả của Lời Chúa. Tiếp nối các vị sáng lập, các môn đệ của họ ngày hôm nay được mời gọi đón nhận và gìn giữ trong lòng Lời Chúa để nó trở nên chiếc đèn soi bước chân đi và ánh sáng rọi soi con đường của họ.
Lời Thiên Chúa là của ăn cho đời sống, cho việc cầu nguyện và cho cuộc hành trình hằng ngày, nguyên lý hiệp nhất cộng đoàn nên một lòng một ý, cảm hứng cho việc canh tân của thường huấn và những sáng kiến tông đồ.
56. Huấn thị mời gọi người thánh hiến phải làm gì?
Đ/ Người thánh hiến phải:
tiếp xúc sống động và trực tiếp hơn với Lời Chúa;
đón nhận, suy niệm, cùng sống Lời Chúa, thông truyền những kinh nghiệm trổ sinh từ đó;
thường xuyên quy chiếu về Luật dòng và Hiến chương “đó là bản đồ cho toàn thể lộ trình của người môn đệ tương ứng với một đoàn sủng riêng đã được Giáo hội chuẩn nhận”;
trở nên những tôi tớ đích thực của Lời trong công việc truyền giáo.
57. Đâu là nhiệm vụ đầu tiên của người thánh hiến?
Đ/ Đức Gio-an Phao-lô II nhắn nhủ với các người thánh hiến: “Nhiệm vụ đầu tiên của các con không thể là gì khác ngoài chiêm ngưỡng. Mọi thực tại của đời sống thánh hiến được sinh ra và phục hồi mỗi ngày bằng việc chiêm ngưỡng không ngừng khuôn mặt Đức Ki-tô”.
58. Chiêm ngưỡng là gì?
Đ/ Chiêm ngưỡng là:
những giây phút hiệp thông sâu xa với Đức Ki-tô;
sống mối tương quan bằng hữu sâu sắc với Người;
nhìn thấy vẻ đẹp và ánh sáng chiếu tỏa trên khuôn mặt Người.
59. Mỗi hình thái khác nhau của đời sống thánh hiến có thể sóng đời chiêm ngưỡng như thế nào?
Đ/ Các đan sĩ và các nữ tu kín cũng như các ẩn sĩ dành nhiều thời giờ để ca ngợi Thiên Chúa cũng như cho việc cầu nguyện thinh lặng kéo dài.
Các thành viên của tu hội đời, cũng như những trinh nữ thánh hiến trong thế gian, dâng lên Thiên Chúa niềm vui và nỗi buồn, hi vọng và khẩn cầu cho mọi người và chiêm ngưỡng khuôn mặt Đức Ki-tô mà họ nhận ra nơi khuôn mặt của anh em, chị em, trong các biến cố lịch sử, trong việc tông đồ và công việc mỗi ngày.
Các tu sĩ nam nữ dấn thân trong việc giáo dục, chăm sóc người bệnh, phục vụ người nghèo, gặp được khuôn mặt Người nơi đó.
Các nhà truyền giáo và các thành viên của hiệp hội tông đồ xem việc loan báo Tin mừng như sự thờ phượng đích thực.
60. Huấn thị nhắc nhở người thánh hiến điều gì?
Đ/ “Một đời sống thiêng liêng đích thực đòi hỏi mỗi người, trong mọi ơn gọi khác nhau, dành riêng thường xuyên, mỗi ngày, những thời gian thích hợp để tiến sâu vào việc đàm thoại trong thinh lặng với Người, Đấng mà họ biết rằng họ được yêu mến, để chia sẻ chính cuộc sống họ với Người và để đón nhận những soi sáng hầu tiếp tục cuộc hành trình mỗi ngày. Đó là một sự thao luyện đòi hỏi lòng trung thành, bởi vì chúng ta thường bị tấn công bởi sự tha hoá và sự phóng túng đến từ xã hội hôm nay, đặc biệt từ các phương tiện truyền thông. Đôi khi sự trung thành với đời sống cầu nguyện riêng tư và phụng vụ sẽ đòi hỏi một nỗ lực thực sự để không bị nuốt chửng trong chủ nghĩa hoạt động vô độ.”
61. Vì Bí tích Thánh Thể là nơi chốn đặc trưng để gặp gỡ Chúa, là nguồn mạch đời sống thiêng liêng của Giáo hội và của cộng đoàn, Đức Giáo hoàng đã khuyên nhủ người thánh hiến làm gì?
Đ/ Đức Giáo hoàng khuyên nhủ:
hãy gặp gỡ và chiêm ngưỡng Đức Ki-tô cách đặc biệt trong bí tích Thánh Thể;
hãy tham dự bí tích Thánh Thể và chuyên cần chầu Thánh Thể lâu giờ mỗi ngày.
Hãy tha thứ lẫn nhau và dấn thân yêu mến lẫn nhau theo giáo huấn của Chúa; cần có sự hoà giải trọn vẹn trước khi dâng của lễ nơi bàn thờ.
62. Tại sao phải thường xuyên chiêm ngưỡng khuôn mặt của Đấng chịu đóng đinh?
Đ/ Bởi vì Người là nguồn mạch từ đó chúng ta học biết tình yêu là gì, Thiên Chúa và nhân loại phải được yêu như thế nào, nguồn mạch của mọi đoàn sủng, bản tổng hợp của mọi đoàn sủng.
63. Chiêm ngưỡng Đức Ki-tô chịu đóng đinh được thể hiện qua những việc làm nào?
Đ/ Đó là:
thực hành khổ chế, “rất cần thiết để người thánh hiến trung thành với ơn gọi của mình và bước theo Đức Giê-su trên con đường thánh giá”;
chiến đấu chống lại tội lỗi và những hậu quả tai hại của nó;
đến với người khác và đem niềm hi vọng của đời sống mới đến nơi thất vọng và cái chết ngự trị;
nhận ra, yêu mến và phục vụ khuôn mặt Đức Ki-tô, nơi những khuôn mặt mới của ngày hôm nay; đó là những tình trạng nghèo đói mới về phương diện vật chất, luân lý và tinh thần được sản sinh bởi xã hội đương thời.
64. Đức Giáo hoàng nói thách đố lớn mà chúng ta đối diện trong thiên niên kỷ đang khởi đầu là gì?
Đ/ “Biến Giáo hội thành ngôi nhà và trường học của sự hiệp thông: đó là thách đố lớn mà chúng ta đối diện trong thiên niên kỷ đang khởi đầu, nếu chúng ta muốn trung thành với kế hoạch của Thiên Chúa và đáp trả những khát vọng sâu xa nhất của thế giới”.
65. Giáo hội mong chờ sự đóng góp nào từ phía những người thánh hiến?
Đ/ Trong Vita Consecrata chúng ta đọc: “Những người thánh hiến được yêu cầu trở thành những chuyên viên thực sự về hiệp thông và thực hành linh đạo hiệp thông như những chứng nhân và những người kiến tạo kế hoạch hiệp thông, đỉnh cao của lịch sử nhân loại theo ý muốn của Thiên Chúa”.
66. Nhiệm vụ ấy cần đến những con người và những cộng đoàn như thế nào?
Đ/ Đó là một nhiệm vụ cần đến những con người thiêng liêng được Thiên Chúa nắn đúc bên trong bằng sự hiệp thông tràn đầy tình yêu và lòng thương xót, và những cộng đoàn trưởng thành nơi đó linh đạo hiệp thông là luật sống.
67. Linh đạo hiệp thông là gì?
Đ/ “Một linh đạo hiệp thông hệ tại trước tiên là một cái nhìn của tâm hồn hướng về mầu nhiệm Ba Ngôi đang ngự trong chúng ta và chúng ta cũng phải có khả năng thấy ánh sáng của Người sáng chói trên gương mặt của anh chị em xung quanh chúng ta. Một linh đạo hiệp thông cũng có nghĩa là một khả năng chú ý đến anh chị em chúng ta trong đức tin, trong sự hiệp nhất sâu xa của Thân Thể mầu Nhiệm và vì thế như "những chi thể của tôi"...”
68. Linh đạo hiệp thông dẫn đến những cảm xúc và hành động nào?
Đ/ Đó là:
chia sẻ niềm vui và những đau khổ của anh chị em chúng ta;
nhạy cảm trước những ước muốn và chú ý đến các nhu cầu của họ;
tặng ban cho họ tình bạn sâu sắc và chân chính;
khả năng nhìn thấy những gì tích cực nơi người khác, đón nhận và khen ngợi điều đó như là một hồng ân Thiên Chúa ban;
biết dành một chỗ cho người khác, bằng cách mang gánh nặng cho nhau.
69. Sự hiệp thông với những Tu hội và những hình thức khác của sự thánh hiến mang lại những lợi ích cụ thể nào?
Đ/ Khi nới rộng sự hiệp thông với những Tu hội và những hình thức khác của sự thánh hiến, họ có thể :
truyền bá sự hiệp thông;
tái khám phá gốc rễ Tin mừng chung;
cùng nhau hiểu thấu rõ ràng hơn vẻ đẹp của căn tính riêng của mình trong số các đặc sủng khác nhau;
cùng sống cuộc phiêu lưu của Thánh Khí và của việc bước theo Kitô, bằng cách thông truyền kinh nghiệm sống Tin mừng, bằng cách yêu mến cộng đoàn và gia đình tu sĩ của người khác như của chính mình.
70. Tại sao gặp gỡ và liên đới giữa các tu hội là điều đáng được khuyến khích?
Đ/ Bởi vì:
đó có thể là khởi đầu cùng nhau tìm kiếm một đường lối chung để phục vụ Giáo hội;
nó dẫn đến việc phối hợp các nỗ lực trong lãnh vực huấn luyện, quản lý các tài sản, giáo dục và truyền giáo.
71. Sự phong phú mới mẻ nào có thể nảy sinh từ cuộc gặp gỡ và hiệp thông với đoàn sủng của các phong trào giáo hội?
Đ/ Có sự phong phú hỗ tương:
Các phong trào thường có thể trao ban một mẫu gương về sự tươi trẻ của Tin mừng và đoàn sủng, chẳng hạn như những khởi xướng quảng đại và có tính sáng tạo trong việc phúc âm hoá.
Các phong trào cũng như những hình thức sống Tin mừng mới có thể học hỏi rất nhiều từ lòng trung thành, chứng tá tươi vui và thuyết phục của đời sống thánh hiến với một gia sản thiêng liêng rất phong phú, nhiều kho tàng kinh nghiệm và khôn ngoan và nhiều dấn thân tông đồ và truyền giáo đa dạng.
72. Tại sao kinh nghiệm hiệp thông giữa các người thánh hiến phải dẫn đến một sự hiệp thông mở rộng hơn với mọi thành phần khác của Giáo hội?
Đ/ Bởi vì lệnh truyền yêu thương người khác, được sống bên trong khuôn viên cộng đoàn, đòi buộc phải chuyển từ bình diện cá nhân đến bình diện những thực tại khác nhau trong Giáo Hội. Chỉ trong một khoa Giáo hội học hội nhập, nơi mà nhiều ơn gọi khác nhau tập trung lại như một đoàn dân của Thiên Chúa, mà ơn gọi đời sống thánh hiến có thể tìm thấy căn tính riêng của mình như là một dấu chỉ và chứng tá.
73. Sự hiệp thông với giáo dân có thể diễn tả qua những hình thức nào?
Đ/ Mỗi hình thái đời sống thánh hiến có thể diễn tả bằng những hình thức khác nhau:
Các hội dòng đan tu và chiêm ngưỡng có thể trao ban cho người giáo dân một mối tương quan chủ yếu thiêng liêng và một không gian cần thiết cho việc thinh lặng và cầu nguyện.
Các tu hội dấn thân trong việc tông đồ có thể giúp họ tham gia vào các hình thức cộng tác mục vụ.
Các thành viên của các tu hội đời, giáo dân hoặc giáo sĩ, liên kết với những tín hữu ở bình diện của cuộc sống hằng ngày.
74. Sự nở rộ những hiệp hội giáo dân và những phong trào mới nối kết với những gia đình tu sĩ và những tu hội đời cho ta thấy điều gì?
Đ/ Điều đó cho ta thấy nhu cầu chia sẻ trách nhiệm của người giáo dân, không chỉ trong việc chu toàn các công việc của tu hội, nhưng nhất là trong khát vọng chia sẻ những khía cạnh và những thời gian đặc biệt của linh đạo và sứ mệnh của tu hội.
75. Để bảo đảm một sự cộng tác làm phong phú lẫn cho nhau, ta cần đến điều gì?
Đ/ Ta cần đến một sự huấn luyện tương xứng cho cả những người thánh hiến lẫn giáo dân để hiểu biết về đặc điểm riêng và vẻ đẹp của mỗi bậc sống. Sự hiệp thông và tương trợ trong Giáo hội không bao giờ chỉ là một chiều. Trong bầu khí mới này của hiệp thông giáo hội, các linh mục, tu sĩ và giáo dân, thay vì không biết gì lẫn nhau hoặc đến với nhau chỉ vì một hoạt động chung, lại một lần nữa có thể tìm lại mối tương quan đúng đắn của tình hiệp thông và một kinh nghiệm đổi mới về tình huynh đệ tin mừng và về sự quý trọng hỗ tương các đoàn sủng trong một sự bổ túc đầy lòng kính trọng đối với các khác biệt.
76. Trong mối tương quan hiệp thông giáo hội với mọi ơn gọi và bậc sống, một khía cạnh rất đặc biệt là gì?
Đ/ Đó là sự hiệp nhất với các giám mục. Khát vọng xây dựng một linh đạo hiệp thông sẽ là hão huyền nếu không có một mối tương quan tích cực và thân thiết với các giám mục, trước tiên với Đức Giáo hoàng, trung tâm hiệp nhất của Giáo hội và với huấn quyền của ngài.
77. Tại sao?
Đ/ Bởi vì không thể chiêm ngưỡng khuôn mặt của Thiên Chúa mà không thấy khuôn mặt ấy toả sáng nơi khuôn mặt của Giáo hội. Yêu mến Đức Kitô là yêu mến Giáo hội qua những con người và những định chế.
78. Ngày hôm nay, đối diện với những lực ly tâm tái diễn và gieo rắc sự ngờ vực đối với những nguyên tắc nền tảng của đức tin công giáo và luân lý, những người thánh hiến và những định chế của họ được mời gọi làm gì?
Đ/ Họ được mời gọi làm chứng cho sự hiệp nhất không bao giờ bất đồng với huấn quyền của Giáo hội, bằng cách trở nên những phát ngôn viên xác tín và vui tươi trước mặt mọi người.
79. Các tài liệu của Giáo hội trong các thập niên vừa qua đã thường xuyên nhắc lại quy định nào của Công đồng?
Đ/ Đó là:
các giám mục có bổn phận biện phân các đoàn sủng khác nhau;
những người thánh hiến có quyền trình bày và đưa ra cách rõ ràng và tin tưởng các đề nghị hiện diện và hoạt động phù hợp với ơn gọi riêng của mình.
80. Huấn thị khuyên nhủ điều gì về mối hiệp thông giữa các linh mục và những người thánh hiến?
Đ/ Đó là: cần đưa ra những sáng kiến nhằm gia tăng sự hiểu biết và quý trọng lẫn nhau.
PHẦN III
ĐỜI SỐNG THIÊNG LIÊNG ĐẶT LÊN HÀNG ĐẦU
42. Tại sao phải mở lòng và ngoan ngoãn với hoạt động của Thánh Khí?
Đ/ Bởi vì chỉ mình Thánh Khí mới giữ cho sống động sự tươi trẻ và tính xác thực của buổi ban đầu, đồng thời truyền cho sự can đảm của tinh thần lê thuộc lẫn nhau và óc sáng tạo cần thiết để đáp trả các dấu chỉ thời đại.
43. Thế nào là một cuộc sống theo Thánh Khí?
Đ/ Đó là một cuộc sống được Thánh Khí:
khai mở nguồn nước hằng sống tuôn trào từ Đức Ki-tô cách vô cùng phong phú;
làm cho chúng ta nhìn nhận Đức Giê-su Na-da-rét là Đức Chúa;
cho chúng ta nghe được lời mời gọi đi theo Đức Ki-tô và kết hiệp chúng ta trong Người;
biến chúng ta thành những người con trong Chúa Con, làm chứng về tình phụ tử của Thiên Chúa, giúp chúng ta ý thức đến tư cách là nghĩa tử và cho phép chúng ta dám gọi Thiên Chúa là “Abba, Cha ơi”;
đổ tràn tình yêu và làm nảy sinh sự hiệp thông.
44. Nỗ lực sống thánh thiện là gì?
Đ/ Đó là, trong sự giản dị của đời sống hằng ngày, ta nhắm đến tính triệt để của Bài giảng trên Núi và tình yêu có tính đòi hỏi, thể hiện qua mối tương quan với Chúa, qua đời sống hiệp thông và qua việc phục vụ mọi người nam nữ.
45. Xuất phát lại từ Đức Ki-tô là gì?
Đ/ Đó là gắn bó ngày càng mật thiết hơn với Đức Ki-tô, trung tâm của đời sống thánh hiến và lại một lần nữa đi lại con đường hoán cải và canh tân, giống như kinh nghiệm đầu tiên của các tông đồ, trước và sau biến cố phục sinh.
46. Làm sao người thánh hiến có thể và phải xuất phát lại từ Đức Ki-tô?
Đ/ Bởi vì chính Đức Ki-tô đã đến với họ trước và đồng hành với họ trên đường. Chính Đức Ki-tô hiện diện giữa cộng đoàn những kẻ suốt bao thế kỷ, tụ họp nhân danh Người, Người đã dạy dỗ họ về chính mình và về Thánh Khí, Người hướng họ về Chúa Cha, Người hướng dẫn họ trên các nẻo đường của trần gian để gặp gỡ các anh em, chị em, Người biến họ thành khí cụ tình yêu và người xây dựng Nước Trời trong sự thông hiệp với những ơn gọi khác trong Giáo hội.
47. Ý nghĩa đầu tiên của “xuất phát lại từ Đức Ki-tô” là gì?
Đ/ Xuất phát lại từ Đức Ki-tô có nghĩa là loan báo rằng đời sống thánh hiến là một cách đặc biệt đi theo Đức Ki-tô. Điều đó bao hàm một sự hiệp thông tình yêu đặc biệt với Đức Ki-tô, Đấng đã trở nên trung tâm của đời sống họ và nguồn mạch liên tục của mọi sáng kiến. Như tông huấn Đời sống thánh hiến nhắc nhở chúng ta, đó là một kinh nghiệm chia sẻ, “một ơn đặc biệt là sống trong tình thân thiết”. Đó là “trở nên một với Người, mang cùng những tâm tình, cùng một lối sống”, và đó là một cuộc sống “bị Đức Ki-tô chiếm hữu”, “được bàn tay Đức Ki-tô chạm đến, được tiếng nói của Người nhắn nhủ, được ân sủng của Người nâng đỡ”.
48. Tại sao sự hiệp thông tình yêu với Đức Ki-tô là điều hệ trọng nhất?
Đ/ Bởi vì toàn thể đời sống thánh hiến chỉ có thể hiểu được từ khởi điểm này:
các lời khuyên phúc âm có một ý nghĩa trong mức độ chúng giúp gìn giữ và tạo thuận lợi cho tình yêu đối với Chúa trong sự ngoan ngoãn hoàn toàn đối với thánh ý Người;
đời sống cộng đoàn được thúc đẩy nhờ Đấng đã quy tụ những người khác chung quanh mình và có mục tiêu là vui hưởng sự hiện diện thường hằng của Người;
sứ mệnh là lệnh truyền của Người dẫn dắt ta tìm kiếm khuôn mặt của Người trong những khuôn mặt của những người mà ta được sai đến để chia sẻ với họ kinh nghiệm về Đức Ki-tô.
49. Ý nghĩa thứ hai của “xuất phát lại từ Đức Ki-tô” là gì?
Đ/ Xuất phát lại từ Đức Ki-tô có nghĩa tìm lại một lần nữa tình yêu ban đầu của ta, tia sáng lôi cuốn làm ta đứng lên đi theo Người. Bước đầu là tình yêu của Thiên Chúa. Bước tiếp mới là sự đáp trả đầy lòng yêu mến đối với tình yêu Thiên Chúa.
50. Tại sao cảm nghiệm tình yêu thương vô biên của Đức Ki-tô là điều hệ trọng đối với chúng ta?
Đ/ Bởi vì chỉ khi ý thức mình được yêu thương vô cùng mới có thể giúp chúng ta vượt thắng mọi khó khăn riêng tư hay do cơ cấu. Người thánh hiến không thể có tính sáng tạo, có khả năng canh tân tu hội và mở ra những con đường mục vụ mới nếu họ không cảm thấy được yêu mến với tình yêu ấy. Chính tình yêu ấy làm cho họ trở nên mạnh mẽ, có thể dám làm mọi sự.
51. Các lời khấn giúp chúng ta triệt để đáp lại tình yêu như thế nào?
Đ/ Lời khấn khiết tịnh mở rộng con tim cho đến chiều kích của con tim Đức Ki-tô và làm cho nó có thể yêu mến như Người đã yêu.
Lời khấn nghèo khó giải thoát ta khỏi nô lệ các sự vật và các nhu cầu giả tạo đang lôi cuốn xã hội tiêu dùng và dẫn ta đến việc tái khám phá Đức Ki-tô, kho tàng duy nhất đáng để ta tìm kiếm.
Lời khấn vâng phục đặt cuộc sống hoàn toàn trong bàn tay Đức Ki-tô ngõ hầu Người có thể sử dụng theo kế hoạch của Thiên Chúa và biến nó trở nên một tuyệt tác.
52. Chúng ta chiêm ngưỡng cách cụ thể khuôn mặt Đức Ki-tô ở đâu?
Đ/ Có vô vàn sự hiện diện cần được khám phá ra theo những cách thức luôn luôn mới mẻ:
Đức Ki-tô thực sự hiện diện trong Lời của Người và trong các bí tích, đặc biệt trong bí tích Thánh Thể.
Đức Ki-tô sống trong Giáo hội, Người làm cho mình hiện diện trong cộng đoàn những người tụ họp vì danh Người.
Người đứng trước mặt chúng ta trong mọi người, đồng hoá cách đặc biệt với những người bé nhỏ, người nghèo, người đau khổ và người đang thiếu thốn nhất.
Người gặp gỡ chúng ta trong mọi biến cố vui buồn, trong thử thách hay trong niềm vui, trong đau khổ hay trong bệnh tật.
53. Muốn nhận ra Người thì cần đến điều gì?
Đ/ Muốn nhận ra Người thì cần đến một cái nhìn đức tin, cái nhìn có được nhờ đọc Lời Chúa, nhờ cầu nguyện và trên hết nhờ thực thi bác ái bởi vì Mầu nhiệm chỉ có thể hiểu biết trọn vẹn nhờ tình yêu.
54. Huấn thị nhắc lại một vài nơi chốn đặc biệt nào mà ta có thể chiêm ngưỡng khuôn mặt Đức Ki-tô?
Đ/ Đó là:
Lời Thiên Chúa
Cầu nguyện và chiêm ngưỡng
Bí tích Thánh Thể
Khuôn mặt Đức Ki-tô đang gặp thử thách
55. Tại sao không thể có được sự thánh thiện nếu không lắng nghe lời Thiên Chúa?
Đ/ Bởi vì:
Chính nơi Lời Chúa mà Thầy mặc khải chính mình và giáo dục tâm trí và con tim.
Chính nơi đó mà cái nhìn đức tin nên trưởng thành, bằng cách học biết nhìn thực tại và các biến cố qua con mắt của Thiên Chúa, đến mức có được “tư tưởng của Đức Ki-tô”.
Mọi đoàn sủng và mọi luật lệ xuất phát từ đó và tìm cách trở nên một sự diễn tả của Lời Chúa. Tiếp nối các vị sáng lập, các môn đệ của họ ngày hôm nay được mời gọi đón nhận và gìn giữ trong lòng Lời Chúa để nó trở nên chiếc đèn soi bước chân đi và ánh sáng rọi soi con đường của họ.
Lời Thiên Chúa là của ăn cho đời sống, cho việc cầu nguyện và cho cuộc hành trình hằng ngày, nguyên lý hiệp nhất cộng đoàn nên một lòng một ý, cảm hứng cho việc canh tân của thường huấn và những sáng kiến tông đồ.
56. Huấn thị mời gọi người thánh hiến phải làm gì?
Đ/ Người thánh hiến phải:
tiếp xúc sống động và trực tiếp hơn với Lời Chúa;
đón nhận, suy niệm, cùng sống Lời Chúa, thông truyền những kinh nghiệm trổ sinh từ đó;
thường xuyên quy chiếu về Luật dòng và Hiến chương “đó là bản đồ cho toàn thể lộ trình của người môn đệ tương ứng với một đoàn sủng riêng đã được Giáo hội chuẩn nhận”;
trở nên những tôi tớ đích thực của Lời trong công việc truyền giáo.
57. Đâu là nhiệm vụ đầu tiên của người thánh hiến?
Đ/ Đức Gio-an Phao-lô II nhắn nhủ với các người thánh hiến: “Nhiệm vụ đầu tiên của các con không thể là gì khác ngoài chiêm ngưỡng. Mọi thực tại của đời sống thánh hiến được sinh ra và phục hồi mỗi ngày bằng việc chiêm ngưỡng không ngừng khuôn mặt Đức Ki-tô”.
58. Chiêm ngưỡng là gì?
Đ/ Chiêm ngưỡng là:
những giây phút hiệp thông sâu xa với Đức Ki-tô;
sống mối tương quan bằng hữu sâu sắc với Người;
nhìn thấy vẻ đẹp và ánh sáng chiếu tỏa trên khuôn mặt Người.
59. Mỗi hình thái khác nhau của đời sống thánh hiến có thể sóng đời chiêm ngưỡng như thế nào?
Đ/ Các đan sĩ và các nữ tu kín cũng như các ẩn sĩ dành nhiều thời giờ để ca ngợi Thiên Chúa cũng như cho việc cầu nguyện thinh lặng kéo dài.
Các thành viên của tu hội đời, cũng như những trinh nữ thánh hiến trong thế gian, dâng lên Thiên Chúa niềm vui và nỗi buồn, hi vọng và khẩn cầu cho mọi người và chiêm ngưỡng khuôn mặt Đức Ki-tô mà họ nhận ra nơi khuôn mặt của anh em, chị em, trong các biến cố lịch sử, trong việc tông đồ và công việc mỗi ngày.
Các tu sĩ nam nữ dấn thân trong việc giáo dục, chăm sóc người bệnh, phục vụ người nghèo, gặp được khuôn mặt Người nơi đó.
Các nhà truyền giáo và các thành viên của hiệp hội tông đồ xem việc loan báo Tin mừng như sự thờ phượng đích thực.
60. Huấn thị nhắc nhở người thánh hiến điều gì?
Đ/ “Một đời sống thiêng liêng đích thực đòi hỏi mỗi người, trong mọi ơn gọi khác nhau, dành riêng thường xuyên, mỗi ngày, những thời gian thích hợp để tiến sâu vào việc đàm thoại trong thinh lặng với Người, Đấng mà họ biết rằng họ được yêu mến, để chia sẻ chính cuộc sống họ với Người và để đón nhận những soi sáng hầu tiếp tục cuộc hành trình mỗi ngày. Đó là một sự thao luyện đòi hỏi lòng trung thành, bởi vì chúng ta thường bị tấn công bởi sự tha hoá và sự phóng túng đến từ xã hội hôm nay, đặc biệt từ các phương tiện truyền thông. Đôi khi sự trung thành với đời sống cầu nguyện riêng tư và phụng vụ sẽ đòi hỏi một nỗ lực thực sự để không bị nuốt chửng trong chủ nghĩa hoạt động vô độ.”
61. Vì Bí tích Thánh Thể là nơi chốn đặc trưng để gặp gỡ Chúa, là nguồn mạch đời sống thiêng liêng của Giáo hội và của cộng đoàn, Đức Giáo hoàng đã khuyên nhủ người thánh hiến làm gì?
Đ/ Đức Giáo hoàng khuyên nhủ:
hãy gặp gỡ và chiêm ngưỡng Đức Ki-tô cách đặc biệt trong bí tích Thánh Thể;
hãy tham dự bí tích Thánh Thể và chuyên cần chầu Thánh Thể lâu giờ mỗi ngày.
Hãy tha thứ lẫn nhau và dấn thân yêu mến lẫn nhau theo giáo huấn của Chúa; cần có sự hoà giải trọn vẹn trước khi dâng của lễ nơi bàn thờ.
62. Tại sao phải thường xuyên chiêm ngưỡng khuôn mặt của Đấng chịu đóng đinh?
Đ/ Bởi vì Người là nguồn mạch từ đó chúng ta học biết tình yêu là gì, Thiên Chúa và nhân loại phải được yêu như thế nào, nguồn mạch của mọi đoàn sủng, bản tổng hợp của mọi đoàn sủng.
63. Chiêm ngưỡng Đức Ki-tô chịu đóng đinh được thể hiện qua những việc làm nào?
Đ/ Đó là:
thực hành khổ chế, “rất cần thiết để người thánh hiến trung thành với ơn gọi của mình và bước theo Đức Giê-su trên con đường thánh giá”;
chiến đấu chống lại tội lỗi và những hậu quả tai hại của nó;
đến với người khác và đem niềm hi vọng của đời sống mới đến nơi thất vọng và cái chết ngự trị;
nhận ra, yêu mến và phục vụ khuôn mặt Đức Ki-tô, nơi những khuôn mặt mới của ngày hôm nay; đó là những tình trạng nghèo đói mới về phương diện vật chất, luân lý và tinh thần được sản sinh bởi xã hội đương thời.
64. Đức Giáo hoàng nói thách đố lớn mà chúng ta đối diện trong thiên niên kỷ đang khởi đầu là gì?
Đ/ “Biến Giáo hội thành ngôi nhà và trường học của sự hiệp thông: đó là thách đố lớn mà chúng ta đối diện trong thiên niên kỷ đang khởi đầu, nếu chúng ta muốn trung thành với kế hoạch của Thiên Chúa và đáp trả những khát vọng sâu xa nhất của thế giới”.
65. Giáo hội mong chờ sự đóng góp nào từ phía những người thánh hiến?
Đ/ Trong Vita Consecrata
66. Nhiệm vụ ấy cần đến những con người và những cộng đoàn như thế nào?
Đ/ Đó là một nhiệm vụ cần đến những con người thiêng liêng được Thiên Chúa nắn đúc bên trong bằng sự hiệp thông tràn đầy tình yêu và lòng thương xót, và những cộng đoàn trưởng thành nơi đó linh đạo hiệp thông là luật sống.
67. Linh đạo hiệp thông là gì?
Đ/ “Một linh đạo hiệp thông hệ tại trước tiên là một cái nhìn của tâm hồn hướng về mầu nhiệm Ba Ngôi đang ngự trong chúng ta và chúng ta cũng phải có khả năng thấy ánh sáng của Người sáng chói trên gương mặt của anh chị em xung quanh chúng ta. Một linh đạo hiệp thông cũng có nghĩa là một khả năng chú ý đến anh chị em chúng ta trong đức tin, trong sự hiệp nhất sâu xa của Thân Thể mầu Nhiệm và vì thế như "những chi thể của tôi"...”
68. Linh đạo hiệp thông dẫn đến những cảm xúc và hành động nào?
Đ/ Đó là:
chia sẻ niềm vui và những đau khổ của anh chị em chúng ta;
nhạy cảm trước những ước muốn và chú ý đến các nhu cầu của họ;
tặng ban cho họ tình bạn sâu sắc và chân chính;
khả năng nhìn thấy những gì tích cực nơi người khác, đón nhận và khen ngợi điều đó như là một hồng ân Thiên Chúa ban;
biết dành một chỗ cho người khác, bằng cách mang gánh nặng cho nhau.
69. Sự hiệp thông với những Tu hội và những hình thức khác của sự thánh hiến mang lại những lợi ích cụ thể nào?
Đ/ Khi nới rộng sự hiệp thông với những Tu hội và những hình thức khác của sự thánh hiến, họ có thể :
truyền bá sự hiệp thông;
tái khám phá gốc rễ Tin mừng chung;
cùng nhau hiểu thấu rõ ràng hơn vẻ đẹp của căn tính riêng của mình trong số các đặc sủng khác nhau;
cùng sống cuộc phiêu lưu của Thánh Khí và của việc bước theo Kitô, bằng cách thông truyền kinh nghiệm sống Tin mừng, bằng cách yêu mến cộng đoàn và gia đình tu sĩ của người khác như của chính mình.
70. Tại sao gặp gỡ và liên đới giữa các tu hội là điều đáng được khuyến khích?
Đ/ Bởi vì:
đó có thể là khởi đầu cùng nhau tìm kiếm một đường lối chung để phục vụ Giáo hội;
nó dẫn đến việc phối hợp các nỗ lực trong lãnh vực huấn luyện, quản lý các tài sản, giáo dục và truyền giáo.
71. Sự phong phú mới mẻ nào có thể nảy sinh từ cuộc gặp gỡ và hiệp thông với đoàn sủng của các phong trào giáo hội?
Đ/ Có sự phong phú hỗ tương:
Các phong trào thường có thể trao ban một mẫu gương về sự tươi trẻ của Tin mừng và đoàn sủng, chẳng hạn như những khởi xướng quảng đại và có tính sáng tạo trong việc phúc âm hoá.
Các phong trào cũng như những hình thức sống Tin mừng mới có thể học hỏi rất nhiều từ lòng trung thành, chứng tá tươi vui và thuyết phục của đời sống thánh hiến với một gia sản thiêng liêng rất phong phú, nhiều kho tàng kinh nghiệm và khôn ngoan và nhiều dấn thân tông đồ và truyền giáo đa dạng.
72. Tại sao kinh nghiệm hiệp thông giữa các người thánh hiến phải dẫn đến một sự hiệp thông mở rộng hơn với mọi thành phần khác của Giáo hội?
Đ/ Bởi vì lệnh truyền yêu thương người khác, được sống bên trong khuôn viên cộng đoàn, đòi buộc phải chuyển từ bình diện cá nhân đến bình diện những thực tại khác nhau trong Giáo Hội. Chỉ trong một khoa Giáo hội học hội nhập, nơi mà nhiều ơn gọi khác nhau tập trung lại như một đoàn dân của Thiên Chúa, mà ơn gọi đời sống thánh hiến có thể tìm thấy căn tính riêng của mình như là một dấu chỉ và chứng tá.
73. Sự hiệp thông với giáo dân có thể diễn tả qua những hình thức nào?
Đ/ Mỗi hình thái đời sống thánh hiến có thể diễn tả bằng những hình thức khác nhau:
Các hội dòng đan tu và chiêm ngưỡng có thể trao ban cho người giáo dân một mối tương quan chủ yếu thiêng liêng và một không gian cần thiết cho việc thinh lặng và cầu nguyện.
Các tu hội dấn thân trong việc tông đồ có thể giúp họ tham gia vào các hình thức cộng tác mục vụ.
Các thành viên của các tu hội đời, giáo dân hoặc giáo sĩ, liên kết với những tín hữu ở bình diện của cuộc sống hằng ngày.
74. Sự nở rộ những hiệp hội giáo dân và những phong trào mới nối kết với những gia đình tu sĩ và những tu hội đời cho ta thấy điều gì?
Đ/ Điều đó cho ta thấy nhu cầu chia sẻ trách nhiệm của người giáo dân, không chỉ trong việc chu toàn các công việc của tu hội, nhưng nhất là trong khát vọng chia sẻ những khía cạnh và những thời gian đặc biệt của linh đạo và sứ mệnh của tu hội.
75. Để bảo đảm một sự cộng tác làm phong phú lẫn cho nhau, ta cần đến điều gì?
Đ/ Ta cần đến một sự huấn luyện tương xứng cho cả những người thánh hiến lẫn giáo dân để hiểu biết về đặc điểm riêng và vẻ đẹp của mỗi bậc sống. Sự hiệp thông và tương trợ trong Giáo hội không bao giờ chỉ là một chiều. Trong bầu khí mới này của hiệp thông giáo hội, các linh mục, tu sĩ và giáo dân, thay vì không biết gì lẫn nhau hoặc đến với nhau chỉ vì một hoạt động chung, lại một lần nữa có thể tìm lại mối tương quan đúng đắn của tình hiệp thông và một kinh nghiệm đổi mới về tình huynh đệ tin mừng và về sự quý trọng hỗ tương các đoàn sủng trong một sự bổ túc đầy lòng kính trọng đối với các khác biệt.
76. Trong mối tương quan hiệp thông giáo hội với mọi ơn gọi và bậc sống, một khía cạnh rất đặc biệt là gì?
Đ/ Đó là sự hiệp nhất với các giám mục. Khát vọng xây dựng một linh đạo hiệp thông sẽ là hão huyền nếu không có một mối tương quan tích cực và thân thiết với các giám mục, trước tiên với Đức Giáo hoàng, trung tâm hiệp nhất của Giáo hội và với huấn quyền của ngài.
77. Tại sao?
Đ/ Bởi vì không thể chiêm ngưỡng khuôn mặt của Thiên Chúa mà không thấy khuôn mặt ấy toả sáng nơi khuôn mặt của Giáo hội. Yêu mến Đức Kitô là yêu mến Giáo hội qua những con người và những định chế.
78. Ngày hôm nay, đối diện với những lực ly tâm tái diễn và gieo rắc sự ngờ vực đối với những nguyên tắc nền tảng của đức tin công giáo và luân lý, những người thánh hiến và những định chế của họ được mời gọi làm gì?
Đ/ Họ được mời gọi làm chứng cho sự hiệp nhất không bao giờ bất đồng với huấn quyền của Giáo hội, bằng cách trở nên những phát ngôn viên xác tín và vui tươi trước mặt mọi người.
79. Các tài liệu của Giáo hội trong các thập niên vừa qua đã thường xuyên nhắc lại quy định nào của Công đồng?
Đ/ Đó là:
các giám mục có bổn phận biện phân các đoàn sủng khác nhau;
những người thánh hiến có quyền trình bày và đưa ra cách rõ ràng và tin tưởng các đề nghị hiện diện và hoạt động phù hợp với ơn gọi riêng của mình.
80. Huấn thị khuyên nhủ điều gì về mối hiệp thông giữa các linh mục và những người thánh hiến?
Đ/ Đó là: cần đưa ra những sáng kiến nhằm gia tăng sự hiểu biết và quý trọng lẫn nhau.