Chúa Nhật XVII TN/C: Học và sống tinh thần cầu nguyện của Chúa
(St 18,20-32; Lc 11,1-13)
Một ngày kia Ðức Giêsu cầu nguyện cùng Chúa Cha, và có lẽ thái độ đầy thân tình và tin tưởng phó thác của Người khi cầu nguyện đã gây được một ấn tượng mạnh nơi các Tông đồ, nên khi Người vừa cầu nguyện xong, thì các ông đã thưa cùng Người: «Lạy Thầy, xin Thầy dạy chúng con cầu nguyện!»
Hôm nay cùng với các Tông đồ, chúng ta hãy chạy đến cùng Chúa và thành khẩn xin Người: «Lạy Chúa, xin dạy cho chúng con biết cầu nguyện!»
Chớ gì lời cầu nguyện của chúng ta là những thổ lộ tâm tình chân thành với Chúa, nhưng đồng thời cũng là con đường dẫn đưa chúng ta tới gần Người hơn, cũng như không làm chúng ta quên đi bất cứ nỗi thống khổ nào của anh chị em đồng loại của mình. Chớ gì lời cầu nguyện là lương thực thần linh nuôi dưỡng đức tin của chúng ta, nhưng đồng thời cũng mang lại cho chúng ta sự an bình giữa mọi truân chuyên của cuộc sống, chớ gì lời cầu nguyện của chúng ta cũng là nguồn ủi an nâng đỡ cho hết mọi người.
Trong nhiều trường hợp, Ðức Giêsu đã trả lời những câu hỏi người ta đặt ra cho Người, nhưng đồng thời Người cũng tránh né chúng. Quả vậy, người ta có thể nói được rằng hôm nay Ðức Giêsu đã không dạy chúng ta cầu nguyện, nhưng Người muốn giúp chúng ta tự kinh nghiệm lấy, là phải cầu nguyện ra sao. Vâng, Người không giải thích cầu nguyện là gì cả, Người chỉ nêu lên cho chúng ta một vài lời tượng trưng và Người tìm cách in sâu vào trong tâm khảm chúng ta tâm tình cầu nguyện. Ðúng vậy, nêu lên một vài lời và tiếp nhận tâm tình cầu nguyện, đó chính là câu trả lời của Ðức Giêsu, đó chính là điểm khởi đầu để mỗi người có thể học được cách thức cầu nguyện, nhưng nhất là tinh thần cầu nguyện.
Những lời mà Đức Giêsu dạy chúng ta phải nói lên khi cầu nguyện, tất cả chúng ta đều đã biết từ khi học giáo lý vỡ lòng. Ðó chính là những lời kinh tóm tắt toàn bộ các lời cầu nguyện trong Kinh Thánh - của người Do-thái cũng như của mọi Kitô hữu – và những lời cầu nguyện đó hầu như trùng hợp nhau từng chữ một. Ðó chính là «Kinh Lạy Cha»! Những lời trong Kinh Lạy Cha mà chúng ta vừa nghe, là do thánh sử Luca ghi lại và ngắn hơn Kinh Lạy Cha chúng ta thường quen đọc. Kinh Lạy Cha chúng ta đọc hằng ngày, được Giáo Hội trích dẫn từ Phúc Âm thánh Mát-thêu. Tuy nhiên nội dung tổng quát của hai bài Tin Mừng về Kinh Lạy Cha hoàn toàn giống nhau.
«Khi cầu nguyện, các con hãy nói: Lạy Cha chúng con ở trên Trời…». Ðức Giêsu đã dạy chúng ta phải bắt đầu cầu nguyện cùng Thiên Chúa với tâm tình cha con như thế. Dĩ nhiên, Người đã không nói cho chúng ta biết rõ Thiên Chúa là ai cả; Người chỉ dạy một cách đơn giản là: «Các con hãy nói: Lạy Cha chúng con… ». Như thế, rất có thể là chúng ta nói với một Ðấng nào đó mà chúng ta không quen biết, nhưng Ðấng đó lại biết chúng ta và lắng nghe chúng ta. Ðó là chính Ðấng mà Ðức Giêsu đã nói: « Người là Thiên Chúa của Thầy và cũng là Thiên Chúa của các con…» (Ga 20,17).
Tiếp đến là hai ước nguyện: « Nguyện cho Danh Cha cả sáng » và « Nước Cha trị đến ». Hai ước nguyện này biểu lộ niềm mong ước sâu xa của chúng ta, đó là hiểu biết hoặc nhìn thấy được «Ðấng Hằng Hữu», Ðấng đã dựng nên chúng ta theo kế hoạch mà Người muốn thiết lập cho chúng ta, đó là: Công cuộc cứu độ của Nước Trời. Chúa Cha, Ðấng mà chúng ta thân thưa, chúng ta không biết Người, nên ước nguyện đầu tiên của chúng ta là được nhìn thấy Người, được chìm sâu vào trong sự tâm giao và tình nghĩa thiết của Người. Ðó chính là điều chúng ta khẩn khoản nài xin cùng Chúa Cha. Ðồng thời sự cầu nguyện cũng là phương tiện để chúng ta biến đổi chính mình, để chúng ta thực sự trở nên xứng đáng như Thiên Chúa hằng mong muốn.
Ở đây, chúng ta hãy nghe một câu truyện kể rằng: Lần kia có một chàng thanh niên tìm đến với một vị ẩn tu ở trên một ngọn núi cao. Khi gặp vị ẩn tu, chàng thanh niên quì gối xin: «Xin sư phụ dạy con cách cầu nguyện!» Bấy giờ vị ẩn tu nói: «Con hãy cầm cái rổ đầy bùn đất kia, đi xuống suối nước ở dưới chân núi kia và múc nước về cho ta đã, rồi ta sẽ dạy cho con cách cầu nguyện.» Nghe thế, chàng thanh niên bèn hí hửng cầm chiếc rổ xuống suối múc nước. Nhưng khi chàng leo lên đến đỉnh núi, thì chẳng còn một giọt nước nào trong rổ cả. Nhưng sau mỗi lần về đến nơi như thế, vị ẩn tu lại bảo chàng cứ xuống suối múc nước tiếp. Sau nhiều lần làm một công việc xem ra hoàn toàn vừa vô lý và vô ích như thế, chàng thanh niên bèn thành thật thưa vị ẩn tu: «Thưa sư phụ, ngài thấy đó, là cả buổi nay con đã làm một việc vô ích, vì có ai đi kín nước bằng rổ đâu. Con chẳng kín cho ngài được giọt nước nào cả.» Bấy giờ vị ẩn tu mỉm cười và ôn tồn bảo chàng thanh niên: «Con đã không hề làm một việc vô ích như con nghĩ đâu. Tuy con không múc được nước về cho ta, nhưng kìa con xem, cái rổ lấm bùn đất dơ bẩn trước kia nay đã sạch bóng. Sự cầu nguyện của chúng ta cũng thế: bề ngoài nhiều khi xem ra vô ích, không mang lại kết quả trông thấy nào cả; nhưng thực sự nó đã thanh luyện và thánh hóa tâm hồn chúng ta nên hoàn hảo!» Tiếp đến là ba ước nguyện khác, đó là: lương thực hằng ngày - ơn được tha thứ mọi tội lỗi - sự che chở phù trì của Chúa.
Khi mang nặng ước nguyện muốn được biết Thiên Chúa, Ðấng chúng ta đang thành tâm dâng lên tâm tình của mình, chúng ta đã nói lên sự mong muốn được hòa mình vào với công trình cứu độ của Người; tiếp đến, chúng ta xin Người ban cho những phương tiện cần thiết để thực hiện được ước nguyện và điều mong muốn đó.
Còn lương thực hằng ngày, trước hết là biểu tượng của năng lực để có thể thực hiện được công việc biến đổi chính mình và sự trung tín, do những ước nguyện trên nêu lên. Của ăn nuôi sống thân thể, của ăn Lời Chúa và Bánh Thánh Thể: Các Giáo Phụ đều cho rằng người tín hữu – một khi trọn cả cuộc sống đều tùy thuộc cả nơi Chúa – thì cũng phải cầu xin Người ban cho mọi lương thực cần thiết.
Sự tha thứ mọi nợ nần, tức mọi lỗi lầm chúng ta đã sai phạm, dĩ nhiên là một điều cần thiết. Nếu Nước Trời là sự tập hợp tất cả mọi người lại trong sự thân giao với Thiên Chúa, thì điều cần thiết là phải thể hiện được sư an bình và hòa giải giữa mỗi một người với Thiên Chúa, cũng như giữa tất cả mọi người với nhau. Ðó chính là sự an bình và hòa giải mà chúng ta cầu xin cùng Thiên Chúa trong Kinh Lạy Cha.
Sau cùng, chúng ta xin Thiên Chúa chớ để chúng ta sa chước cám dỗ, chớ để chúng ta sa ngã trước những thử thách trong cuộc sống. Mọi người đều biết được rằng bình thường tương lai sẽ không may mắn và dễ dàng hơn quá khứ; mà quá khứ thì đã rõ là chúng ta không tránh được bao lầm lỗi và bao thiếu sót. Do đó, chúng ta xin Thiên Chúa cho chúng ta biết giữ gìn và làm chủ được chính mình, chứ không phí phạm những năng lực của mình vào trong những mời mọc và quyến rũ nguy hiểm của tội lỗi.
Trong ba lời ước nguyện này, chúng ta khám phá ra điểm đặc biệt của lời kinh là làm cho Thiên Chúa lắng nghe theo sự mong muốn và hoàn cảnh cụ thể của chúng ta. Ðó cũng là điều đã được biểu lộ trong lời kinh của Tổ phụ Áp-ra-ham như chúng ta vừa nghe trong bài Sách Thánh Cựu Ước. Trong một cuộc đối thoại kỳ diệu giữa Thiên Chúa và Áp-ra-ham, một cuộc đối thoại đầy tâm tình thờ lạy, sự thân thiện, sự hiền dịu và sự táo bạo, được xen lẫn nhau một cách tuyệt vời, Áp-ra-ham đã can thiệp cùng Thiên Chúa để Người không tiêu diệt hai thành Sô-đô-ma và Gô-mô-ra, đúng theo tội lỗi của dân cư hai thành đó gây ra.
Qua các lời Ðức Giêsu dạy trong Kinh Lạy Cha, chúng ta khám phá ra được hai khía cạnh tương phản nhau và đồng thời cũng là hai khía cạnh chính yếu của lời kinh được mặc khải trong Thánh Kinh, đó là: Chính chúng ta phải làm cho mình biết vâng theo điều Thiên Chúa muốn và đồng thời cũng làm cho Thiên Chúa chiều theo điều chúng ta muốn.
Ðó chính là sự mặc khải về một mầu nhiệm, nên không hiển nhiên và minh bạch, nhưng lại sống động và tốt lành; trong đó lời khẩn cầu và sự ban tặng không, lời ca ngợi và sự bần cùng, sự vâng phục và sự tự do, đều hòa hợp khăng khít với nhau.
Ðức Giêsu biết rõ đó là điều khó khăn và chỉ một mình Thần Khí Thiên Chúa mới thực hiện được nơi mỗi người. Cũng vậy, sau khi dạy cho chúng ta những lời cầu nguyện mà có lẽ chúng ta sẽ không bao giờ nói lên cho đủ được, bởi vì đó là những lời mang lại sự sống, Ðức Giêsu khích lệ chúng ta hãy luôn nhắc lại không ngừng. Ðể thực hiện được điều đó, Người đã kể một câu chuyện, đưa ra những khẩu hiệu và so sánh với tình cha nhân hậu của loài người.
Qua đó, Ðức Giêsu muốn động viên tất cả mọi người hãy luôn biết can đảm tin tưởng, phó thác và bền tâm trong khi cầu nguyện, chứ đừng bao giờ bất nhẫn và chán nản! Ai lại có thể từ chối giúp đỡ một người bạn thân của mình, khi người này bất chợt có khách đến thăm mà lại không có đủ điều kiện để tiếp ? Hay có người cha nào lại nỡ từ chối lời kêu xin chính đáng của con cái mình?
Chính khi chúng ta kiên tâm bền chí trong lúc cầu nguyện, chúng ta đã thực hiện được chính điều chung ta đang nắm giữ, đó là khám phá ra và sống mầu nhiệm cầu nguyện.
Tiếp đến, là một điều xúc phạm đến Thiên Chúa, khi chúng ta cho rằng tình thương và lòng nhân hậu của Người kém thực dụng và kém hiệu quả hơn tình thương và lòng nhân hậu của chúng ta đối với con cái mình! Nếu chúng ta biết cho con cái ăn khi chúng nó đói, thì Thiên Chúa cũng không bao giờ từ chối ban Thần Khí của Người cho những người mong muốn nhờ Thần Khí để chìm sâu vào mầu nhiệm của sự cầu nguyện.
Sau cùng, như chúng ta đã xin cùng Thiên Chúa: « Xin Chúa dạy cho chúng con biết cầu nguyện ». Trước hết, câu trả lời của Người chắc chắn sẽ làm chúng ta thất vọng; tiếp đến, sau khi đã làm cho sự phong phú của Người phát triển lên trong chúng ta, chúng ta sẽ khám phá ra được rằng Người đã thực hiện nhiều bội phần, chứ không chỉ thông ban cho chúng ta sự hiểu biết về lời kinh. Ðức Giêsu đã cho chúng ta được nếm thử sự ngọt ngào êm ái khi thưa lên cùng Thiên Chúa: «Lạy Cha chúng con ở trên Trời… !» Nếu chúng ta chấp nhận để cho những lời cầu nguyện đó và tâm tình được gói ghém trong những lời đó uốn nắn mình, thì bấy giờ lời cầu nguyện sẽ mỗi ngày một trở nên sống động và cần thiết. Và có lẽ chúng ta sẽ không bao giờ diễn tả đầy đủ được về lời kinh của Chúa, nhưng chúng ta sẽ thực hiện được lời kinh đó trong cuộc sống thực tế của mình hơn !
(St 18,20-32; Lc 11,1-13)
Một ngày kia Ðức Giêsu cầu nguyện cùng Chúa Cha, và có lẽ thái độ đầy thân tình và tin tưởng phó thác của Người khi cầu nguyện đã gây được một ấn tượng mạnh nơi các Tông đồ, nên khi Người vừa cầu nguyện xong, thì các ông đã thưa cùng Người: «Lạy Thầy, xin Thầy dạy chúng con cầu nguyện!»
Hôm nay cùng với các Tông đồ, chúng ta hãy chạy đến cùng Chúa và thành khẩn xin Người: «Lạy Chúa, xin dạy cho chúng con biết cầu nguyện!»
Chớ gì lời cầu nguyện của chúng ta là những thổ lộ tâm tình chân thành với Chúa, nhưng đồng thời cũng là con đường dẫn đưa chúng ta tới gần Người hơn, cũng như không làm chúng ta quên đi bất cứ nỗi thống khổ nào của anh chị em đồng loại của mình. Chớ gì lời cầu nguyện là lương thực thần linh nuôi dưỡng đức tin của chúng ta, nhưng đồng thời cũng mang lại cho chúng ta sự an bình giữa mọi truân chuyên của cuộc sống, chớ gì lời cầu nguyện của chúng ta cũng là nguồn ủi an nâng đỡ cho hết mọi người.
Trong nhiều trường hợp, Ðức Giêsu đã trả lời những câu hỏi người ta đặt ra cho Người, nhưng đồng thời Người cũng tránh né chúng. Quả vậy, người ta có thể nói được rằng hôm nay Ðức Giêsu đã không dạy chúng ta cầu nguyện, nhưng Người muốn giúp chúng ta tự kinh nghiệm lấy, là phải cầu nguyện ra sao. Vâng, Người không giải thích cầu nguyện là gì cả, Người chỉ nêu lên cho chúng ta một vài lời tượng trưng và Người tìm cách in sâu vào trong tâm khảm chúng ta tâm tình cầu nguyện. Ðúng vậy, nêu lên một vài lời và tiếp nhận tâm tình cầu nguyện, đó chính là câu trả lời của Ðức Giêsu, đó chính là điểm khởi đầu để mỗi người có thể học được cách thức cầu nguyện, nhưng nhất là tinh thần cầu nguyện.
Những lời mà Đức Giêsu dạy chúng ta phải nói lên khi cầu nguyện, tất cả chúng ta đều đã biết từ khi học giáo lý vỡ lòng. Ðó chính là những lời kinh tóm tắt toàn bộ các lời cầu nguyện trong Kinh Thánh - của người Do-thái cũng như của mọi Kitô hữu – và những lời cầu nguyện đó hầu như trùng hợp nhau từng chữ một. Ðó chính là «Kinh Lạy Cha»! Những lời trong Kinh Lạy Cha mà chúng ta vừa nghe, là do thánh sử Luca ghi lại và ngắn hơn Kinh Lạy Cha chúng ta thường quen đọc. Kinh Lạy Cha chúng ta đọc hằng ngày, được Giáo Hội trích dẫn từ Phúc Âm thánh Mát-thêu. Tuy nhiên nội dung tổng quát của hai bài Tin Mừng về Kinh Lạy Cha hoàn toàn giống nhau.
«Khi cầu nguyện, các con hãy nói: Lạy Cha chúng con ở trên Trời…». Ðức Giêsu đã dạy chúng ta phải bắt đầu cầu nguyện cùng Thiên Chúa với tâm tình cha con như thế. Dĩ nhiên, Người đã không nói cho chúng ta biết rõ Thiên Chúa là ai cả; Người chỉ dạy một cách đơn giản là: «Các con hãy nói: Lạy Cha chúng con… ». Như thế, rất có thể là chúng ta nói với một Ðấng nào đó mà chúng ta không quen biết, nhưng Ðấng đó lại biết chúng ta và lắng nghe chúng ta. Ðó là chính Ðấng mà Ðức Giêsu đã nói: « Người là Thiên Chúa của Thầy và cũng là Thiên Chúa của các con…» (Ga 20,17).
Tiếp đến là hai ước nguyện: « Nguyện cho Danh Cha cả sáng » và « Nước Cha trị đến ». Hai ước nguyện này biểu lộ niềm mong ước sâu xa của chúng ta, đó là hiểu biết hoặc nhìn thấy được «Ðấng Hằng Hữu», Ðấng đã dựng nên chúng ta theo kế hoạch mà Người muốn thiết lập cho chúng ta, đó là: Công cuộc cứu độ của Nước Trời. Chúa Cha, Ðấng mà chúng ta thân thưa, chúng ta không biết Người, nên ước nguyện đầu tiên của chúng ta là được nhìn thấy Người, được chìm sâu vào trong sự tâm giao và tình nghĩa thiết của Người. Ðó chính là điều chúng ta khẩn khoản nài xin cùng Chúa Cha. Ðồng thời sự cầu nguyện cũng là phương tiện để chúng ta biến đổi chính mình, để chúng ta thực sự trở nên xứng đáng như Thiên Chúa hằng mong muốn.
Ở đây, chúng ta hãy nghe một câu truyện kể rằng: Lần kia có một chàng thanh niên tìm đến với một vị ẩn tu ở trên một ngọn núi cao. Khi gặp vị ẩn tu, chàng thanh niên quì gối xin: «Xin sư phụ dạy con cách cầu nguyện!» Bấy giờ vị ẩn tu nói: «Con hãy cầm cái rổ đầy bùn đất kia, đi xuống suối nước ở dưới chân núi kia và múc nước về cho ta đã, rồi ta sẽ dạy cho con cách cầu nguyện.» Nghe thế, chàng thanh niên bèn hí hửng cầm chiếc rổ xuống suối múc nước. Nhưng khi chàng leo lên đến đỉnh núi, thì chẳng còn một giọt nước nào trong rổ cả. Nhưng sau mỗi lần về đến nơi như thế, vị ẩn tu lại bảo chàng cứ xuống suối múc nước tiếp. Sau nhiều lần làm một công việc xem ra hoàn toàn vừa vô lý và vô ích như thế, chàng thanh niên bèn thành thật thưa vị ẩn tu: «Thưa sư phụ, ngài thấy đó, là cả buổi nay con đã làm một việc vô ích, vì có ai đi kín nước bằng rổ đâu. Con chẳng kín cho ngài được giọt nước nào cả.» Bấy giờ vị ẩn tu mỉm cười và ôn tồn bảo chàng thanh niên: «Con đã không hề làm một việc vô ích như con nghĩ đâu. Tuy con không múc được nước về cho ta, nhưng kìa con xem, cái rổ lấm bùn đất dơ bẩn trước kia nay đã sạch bóng. Sự cầu nguyện của chúng ta cũng thế: bề ngoài nhiều khi xem ra vô ích, không mang lại kết quả trông thấy nào cả; nhưng thực sự nó đã thanh luyện và thánh hóa tâm hồn chúng ta nên hoàn hảo!» Tiếp đến là ba ước nguyện khác, đó là: lương thực hằng ngày - ơn được tha thứ mọi tội lỗi - sự che chở phù trì của Chúa.
Khi mang nặng ước nguyện muốn được biết Thiên Chúa, Ðấng chúng ta đang thành tâm dâng lên tâm tình của mình, chúng ta đã nói lên sự mong muốn được hòa mình vào với công trình cứu độ của Người; tiếp đến, chúng ta xin Người ban cho những phương tiện cần thiết để thực hiện được ước nguyện và điều mong muốn đó.
Còn lương thực hằng ngày, trước hết là biểu tượng của năng lực để có thể thực hiện được công việc biến đổi chính mình và sự trung tín, do những ước nguyện trên nêu lên. Của ăn nuôi sống thân thể, của ăn Lời Chúa và Bánh Thánh Thể: Các Giáo Phụ đều cho rằng người tín hữu – một khi trọn cả cuộc sống đều tùy thuộc cả nơi Chúa – thì cũng phải cầu xin Người ban cho mọi lương thực cần thiết.
Sự tha thứ mọi nợ nần, tức mọi lỗi lầm chúng ta đã sai phạm, dĩ nhiên là một điều cần thiết. Nếu Nước Trời là sự tập hợp tất cả mọi người lại trong sự thân giao với Thiên Chúa, thì điều cần thiết là phải thể hiện được sư an bình và hòa giải giữa mỗi một người với Thiên Chúa, cũng như giữa tất cả mọi người với nhau. Ðó chính là sự an bình và hòa giải mà chúng ta cầu xin cùng Thiên Chúa trong Kinh Lạy Cha.
Sau cùng, chúng ta xin Thiên Chúa chớ để chúng ta sa chước cám dỗ, chớ để chúng ta sa ngã trước những thử thách trong cuộc sống. Mọi người đều biết được rằng bình thường tương lai sẽ không may mắn và dễ dàng hơn quá khứ; mà quá khứ thì đã rõ là chúng ta không tránh được bao lầm lỗi và bao thiếu sót. Do đó, chúng ta xin Thiên Chúa cho chúng ta biết giữ gìn và làm chủ được chính mình, chứ không phí phạm những năng lực của mình vào trong những mời mọc và quyến rũ nguy hiểm của tội lỗi.
Trong ba lời ước nguyện này, chúng ta khám phá ra điểm đặc biệt của lời kinh là làm cho Thiên Chúa lắng nghe theo sự mong muốn và hoàn cảnh cụ thể của chúng ta. Ðó cũng là điều đã được biểu lộ trong lời kinh của Tổ phụ Áp-ra-ham như chúng ta vừa nghe trong bài Sách Thánh Cựu Ước. Trong một cuộc đối thoại kỳ diệu giữa Thiên Chúa và Áp-ra-ham, một cuộc đối thoại đầy tâm tình thờ lạy, sự thân thiện, sự hiền dịu và sự táo bạo, được xen lẫn nhau một cách tuyệt vời, Áp-ra-ham đã can thiệp cùng Thiên Chúa để Người không tiêu diệt hai thành Sô-đô-ma và Gô-mô-ra, đúng theo tội lỗi của dân cư hai thành đó gây ra.
Qua các lời Ðức Giêsu dạy trong Kinh Lạy Cha, chúng ta khám phá ra được hai khía cạnh tương phản nhau và đồng thời cũng là hai khía cạnh chính yếu của lời kinh được mặc khải trong Thánh Kinh, đó là: Chính chúng ta phải làm cho mình biết vâng theo điều Thiên Chúa muốn và đồng thời cũng làm cho Thiên Chúa chiều theo điều chúng ta muốn.
Ðó chính là sự mặc khải về một mầu nhiệm, nên không hiển nhiên và minh bạch, nhưng lại sống động và tốt lành; trong đó lời khẩn cầu và sự ban tặng không, lời ca ngợi và sự bần cùng, sự vâng phục và sự tự do, đều hòa hợp khăng khít với nhau.
Ðức Giêsu biết rõ đó là điều khó khăn và chỉ một mình Thần Khí Thiên Chúa mới thực hiện được nơi mỗi người. Cũng vậy, sau khi dạy cho chúng ta những lời cầu nguyện mà có lẽ chúng ta sẽ không bao giờ nói lên cho đủ được, bởi vì đó là những lời mang lại sự sống, Ðức Giêsu khích lệ chúng ta hãy luôn nhắc lại không ngừng. Ðể thực hiện được điều đó, Người đã kể một câu chuyện, đưa ra những khẩu hiệu và so sánh với tình cha nhân hậu của loài người.
Qua đó, Ðức Giêsu muốn động viên tất cả mọi người hãy luôn biết can đảm tin tưởng, phó thác và bền tâm trong khi cầu nguyện, chứ đừng bao giờ bất nhẫn và chán nản! Ai lại có thể từ chối giúp đỡ một người bạn thân của mình, khi người này bất chợt có khách đến thăm mà lại không có đủ điều kiện để tiếp ? Hay có người cha nào lại nỡ từ chối lời kêu xin chính đáng của con cái mình?
Chính khi chúng ta kiên tâm bền chí trong lúc cầu nguyện, chúng ta đã thực hiện được chính điều chung ta đang nắm giữ, đó là khám phá ra và sống mầu nhiệm cầu nguyện.
Tiếp đến, là một điều xúc phạm đến Thiên Chúa, khi chúng ta cho rằng tình thương và lòng nhân hậu của Người kém thực dụng và kém hiệu quả hơn tình thương và lòng nhân hậu của chúng ta đối với con cái mình! Nếu chúng ta biết cho con cái ăn khi chúng nó đói, thì Thiên Chúa cũng không bao giờ từ chối ban Thần Khí của Người cho những người mong muốn nhờ Thần Khí để chìm sâu vào mầu nhiệm của sự cầu nguyện.
Sau cùng, như chúng ta đã xin cùng Thiên Chúa: « Xin Chúa dạy cho chúng con biết cầu nguyện ». Trước hết, câu trả lời của Người chắc chắn sẽ làm chúng ta thất vọng; tiếp đến, sau khi đã làm cho sự phong phú của Người phát triển lên trong chúng ta, chúng ta sẽ khám phá ra được rằng Người đã thực hiện nhiều bội phần, chứ không chỉ thông ban cho chúng ta sự hiểu biết về lời kinh. Ðức Giêsu đã cho chúng ta được nếm thử sự ngọt ngào êm ái khi thưa lên cùng Thiên Chúa: «Lạy Cha chúng con ở trên Trời… !» Nếu chúng ta chấp nhận để cho những lời cầu nguyện đó và tâm tình được gói ghém trong những lời đó uốn nắn mình, thì bấy giờ lời cầu nguyện sẽ mỗi ngày một trở nên sống động và cần thiết. Và có lẽ chúng ta sẽ không bao giờ diễn tả đầy đủ được về lời kinh của Chúa, nhưng chúng ta sẽ thực hiện được lời kinh đó trong cuộc sống thực tế của mình hơn !