CHÚA NHẬT XIV TN (2010)

Kitô hữu, những sứ giả của hòa bình

Dẫn nhập đầu lễ: Anh chị em thân mến,

Một cách nào đó, chúng ta có thể nói được rằng: mục tiêu của chương trình cứu độ mà Thiên Chúa thực hiện qua Con Một Người là Đức Giêsu Kitô chính là điều được các thiên sứ ở Bê lem hát lên trong đêm Ngôi Lời Nhập Thể: “Vinh danh Thiên Chúa trên trời, Bình an dưới thế cho loài người Chúa thương”. Và Đức Kitô phục sinh đã khẳng định lại điều đó vào hôm “Ngày thứ nhất trong tuần” khi Ngài hiện ra với các môn sinh: ”Bình an cho anh em”.

Sứ điệp Phụng vụ Chúa Nhật 14 TN hôm nay cũng muốn tiếp tục đào sâu và khai triển nội dung nầy qua góc cạnh: mỗi người chúng ta, những Kitô hữu, những môn sinh của Chúa Kitô, luôn phải là những sứ giả đem tin bình an cho nhân loại, những người thợ miệt mài với công cuộc xây dựng sự bình an đích thực cho thế giới, một thế giới đang bị tác động và bủa vây giăng mắc bới chiến tranh, bạo lực, bất an, chia rẽ và hận thù…; nhưng cũng là một thế giới đang khát khao hòa bình, công lý và ơn cứu độ như cánh đồng lúa vàng đang đợi những người thợ gặt.

Giờ đây, chúng ta hãy nhìn nhận tội lỗi để xứng đáng cử hành mầu nhiệm thánh.

Chia sẻ Lời Chúa:

Trong cánh cá cược bóng đá, chắc chắn trong đêm vừa qua, những ai chọn đội tuyển Ác-hen-ti-na đã phải thất vọng nảo nề khi tiếng còi chung cuộc vang lên. Đối với họ, quả thật, đội tuyển Ác-hen-ti-na đã mang đến một “tin buồn” đứt ruột. Chắc chắn, không ít kẻ tan gia bại sản, dám có kẻ đã tự tử vì thất bại quá lớn lao…Trong khi đó, toàn dân Đức, từ những vị lãnh đạo cao cấp như bà thủ tướng Merkel cho đến những người dân lao động bình thường, chắc chăn đang vui mừng phở lỡ trước chiến thắng dòn dã của đội tuyển nhà.

Chỉ trong một không gian nhỏ với vài ngàn mét vuông của sân vận động mà đã vang lên hai bản tin: một tin buồn chiến bại và một tin vui chiến thắng. Và chính hai bản tin đó đã tác động rất nhiều lên cuộc sống của nhiều người của xã hội của cả thế giới.

Cách đây 2000 năm, trên một dãi đất bên bờ Địa Trung Hải, thuộc quyền cai trị của đế quốc Rôma, xứ Palestine, cũng đã vang lên một Tin Mừng đã làm choáng ngợp bao người: vị ngôn sứ đến từ Na-da-rét, người thợ mộc mang tên Giêsu, đã công bố một giáo lý đặc biệt về Thiên Chúa rồi còn ra tay uy quyền cho kẻ điếc nghe, kẻ câm nói, kẻ què nhảy cững như nai, người phung cùi bị cách lý bi đát nơi hoang mạc khi gặp Ngài đã được chữa lành; đó là chưa kể những người đàn bà bị loạn hyết, những chàng thanh niên (có kẻ chết thúi 4 ngày trong mộ)…cũng đã được chữa lành và phục sinh vào cõi sống.

Đứng trước tin vui trọng đại nầy, người ta ùn ùn kéo đến để nghe Ngài thuyết pháp và nhất là để chứng kiến các dấu lạ Ngài thực hiện. Có hôm họ kéo cả bao nhiêu ngàn người vào luôn trong hoang mạc để nghe Ngài giảng dạy, đến độ cuối ngày không có gì ăn khiến Ngài lại phải ra tay dùng quyền năng khiến chỉ với 2 con cá và 5 chiếc bánh, biến nên bữa tiệc diệu kỳ đãi cả mấy ngàn người no nê chắc dạ.

Vào những ngày đó, khi tập trung ở bênh cạnh thầy Giêsu, hình như người ta đã cảm nhận được một bầu khí của hòa bình, yêu thương phát ra từ Lời quyền năng của Ngài, từ lối sống và từ cõi lòng rộng mở bao dung yêu thương phục vụ của Ngài và của các môn sinh do Ngài huấn luyện. Từ đó người ta lại liên tưởng tới những dự báo về cảnh bình an thái hòa của sứ ngôn Isaia mấy trăm năm trước mà một trích đoạn được trích đọc hôm nay nơi Bài Đọc 1:

“Này Ta tuôn đổ xuống Thành Đô ơn thái bình tựa dòng sống cả, và Ta đã khiến của cải chư dân chảy về tran lan như thác vỡ bờ. Các ngươi sẽ được nuôi bằng sửa mẹ, được bồng ẵm bên hông, nâng niu trên đầu gối. Như mẹ hiền an ủi con thơ, Ta sẽ an ủi các ngươi như vậy…”

Nhưng rồi, niềm mơ ước có được một triều đại hòa bình, thịnh vượng, giàu có ấm no mà người xây dựng sẽ chính là Thầy Giêsu đã sớm biến tan khi hung tin xuất hiện: Giêsu Na-da-rét bị kết án chết trên thập giá. Thì ra nội dung sứ điệp và chính cuộc đời của Chúa Giêsu đã không dừng lại để giải quyết các như cầu cơm áo gạo tiền của đời thường nhân loại; Ngài muốn dẫn nhân loại đi cao hơn và xa hơn trong cuộc lữ hành về vĩnh cửu, mà cái chết và nhất là sự phục sinh của Ngài như một con đường, một cánh cửa đã mở ra.

Điều đó đã được ấn chứng vào chính ngày Ngài sống lại khi hiện ra với các môn sinh đang còn sợ hải đóng kín cửa vì sợ người Do Thái. Chính Ngài đã thổi hơi sự sống Thần Linh trên các môn sinh và chúc: “Bình an cho anh em”. Chính sức mạnh của Thần Khí được trao ban cùng với sự bình an của Đấng sống lại từ cõi chết, các môn sinh của Chúa ra đi khắp bốn phương trời để công bố “Tin vui trọng đại nầy”: “Thiên Chúa đã yêu thế gian đến nỗi đã ban Người Con Một; để ai tin vào Người Con đó thì không phải chết nhưng được sống muôn đời”.

Và suốt 2000 năm nay, có hàng hàng lớp lớp các thế hệ môn sinh Đức Kitô nối tiếp nhau ra đi công bố Tin Mừng Cứu Độ cho thế giới. Ngày nay, hơn lúc nào hết, tin mừng cứu độ, tin vui hòa bình của Đức Kitô đang rất cần cho mọi miền thế giới, một thế giới đang bị vùi dập dưới bao nhiêu sức tác động của tội ác, sự dữ, chiến tranh, bạo lực, khủng bố, nghèo túng, bị bóc lột…

Nếu ngày xưa Đức Kitô, vị sứ ngôn nghèo khổ, vất vả, giản đơn, như một tên lang thang “không viên đá gối đầu”, đã rao giảng Tin Mừng đầy thuyết phục. Thì Ngài cũng muốn sai các môn sinh tiếp tục sứ mạng của mình cũng theo phương cách ấy: khẩn trương nhưng không bị động vì kềnh càng, chất lượng nhưng không lảng phí vì xuê xua, hình thức. Tất cả những điều đó đã được gói ghém trong “lệnh lên đường” mà Tin Mừng Thánh Luca vừa trình bày cho chúng ta:

“Lúa chín đầy đồng mà thợ gặt lại ít. Vậy anh em ãy sai chủ mùa gặt sai thợ ra gặt lúa về. Anh em hãy ra đi. Nầy Thầy sai anh em đi như chiên con đi vào giữa bầy sói. Đừng mang theo túi tiên, bao bị, dạy dép…Cũng dừng chào hỏi ai dọc đường. Vào bất cứ nhà nào trước tin hãy nói: “Bình an cho nhà nầy”…”

Đọc lại lịch sử 2000 năm của Hội Thánh, hình như khi nào Giáo Hội trung thành với “Phu quân Giêsu” trong cung cách rao giảng Tin Mừng, làm chứng cho chân lý cứu độ bằng con đường chịu “bách hại vì chính đạo”, con đường khó nghèo, con đường quảng đại vị tha và khoan dung…thì Giáo Hội được đón nhận, kính nễ và thuyết phục. Trái lại hay làm khác đi những giá trị đó, tức khắc Giáo Hội bị cách ly, xem thường và đào thải.

Lịch sử truyền giáo tại Việt Nam cũng không đi ngoài lộ trình cơ bản này. Sở dĩ có được ngày hôm nay: một Hội Thánh Việt Nam với 6 triệu tín hữu, với 5000 linh mục, với mấy chục ngàn tu sĩ nam nữ, chủng sinh, với 26 giáo phận chính tòa, với một Hội đồng Giám Mục Việt nam trí thức tài ba…là do các thế hệ cha ông chúng ta đã đổ biết bao máu xương cùng nước mắt; đã nhờ hàng trăm ngàn chứng nhân tử đạo, đã được dâng lên bao nhiêu hy sinh với lời kinh và thánh lễ…

Như thế, lời nhắn gởi của sứ điệp Phụng vụ hôm nay dành cho mỗi người chúng ta đó chính là: hãy tiếp tục là những sứ giả của hòa bình, là những môn sinh của Đức Kitô ra đi công bố tin mừng bình an và sự giải thoát, những chứng nhân cho niềm hy vọng về một thế giới mới, một triều đại mới của tình yêu, chân lý và ân sủng. Và hành trang mang theo cũng chính là những giá trị ngàn đời của Phúc âm: niềm tin yêu phó thác, sự đơn giản khó nghèo, lòng can đảm nhiệt thành cho sứ vụ, và liên kết mật thiết với Đức Kitô, Đấng là Đường, Sự Thạt, Sự sống, là Đấng mà chính vị Tông Đồ thời danh Phaolô, trong khi ra đi rao giảng Tin Mừng đã khẳng quyết:

“Tôi chẳng hãnh diện về điều gì, ngoài thập giá Đức Giêsu-Kitô, Chúa chúng ta ! Nhờ thập giá Người, thế gian đã bị đóng đinh vào thập giá đối với tôi, và tôi đối với thế gian…Từ nay, xin đừng ai gây phiền tóa cho tôi nữa, vì tôi mang trên mình tôi những dấu tích của Đức Giêsu…”

Nếu lời chúc cuối cùng của thánh lễ chính là “chúc anh em ra về bình an”. Điều đó cũng có nghĩa anh em hãy ra đi và chia sẻ an bình cho mọi người chung quanh, hãy là sứ giả hòa bình trên mọi nẻo đường đời để môi trường chúng ta đang sống, để thế giới chúng ta đang hiện diện sẽ là một “thế giới an bình của những người được Chúa thương”, như lời chúc ngày nào của các thiên sứ ở Bê Lem: “Bình an dưới thế cho loài người được Chúa thương”.