Chương trình Đào tạo Tông đồ Giáo dân - Khóa 2.2003: Dành cho Giáo dân Nòng cốt của Giáo xứ

Đề tài 3

Vai trò của Giáo dân nói chung và của Giáo dân nòng cốt nói riêng trong Giáo xứ

I. Mục đích

Giúp học viên hiểu rõ về vai trò của giáo dân nói chung và của giáo dân nòng cốt nói riêng trong giáo xứ, để tùy tinh thần, khả năng, hoàn cảnh mà tham gia đóng góp vào việc xây dựng Giáo xứ thành Cộng đoàn mà Chúa và Giáo hội mong muốn.

II. Tiếp cận vấn đề

1. Các bạn hiểu giáo dân là ai? có vai trò gì trong giáo xứ ?

2. Việc giáo dân cộng tác với linh mục trong giáo xứ có ý nghĩa gì? Giáo dân có thể cộng tác với linh mục trong các lãnh vực nào thuộc đời sống giáo xứ?

3. Theo các bạn thì Hội đồng Mục vụ Giáo xứ (có nơi gọi là Ban Hành Giáo), Ban Điều Hành các Giáo họ (hay Giáo khu), Ban Điều Hành các Giới, Ban Trị Sự các Hội đoàn tông đồ có vai trò quan trọng như thế nào trong sinh hoạt mục vụ của giáo xứ?

4. Để chu toàn trọng trách “đầu tầu” trong giáo xứ, các thành viên Hội đồng Mục vụ giáo xứ (Ban Hành Giáo), Ban Điều Hành các Giáo họ, Ban Điều Hành các Giới, Ban Trị Sự các Hội Đoàn…..cần được bồi dưỡng trong những lãnh vực nào? Giáo xứ phải làm gì để bồi dưỡng cho các thành phần quan trọng này?

III. Học hỏi trao đổi :

1. Giáo dân trong dòng lịch sử Giáo hội.

Sau 20 thế kỷ tồn tại, Giáo hội trong thế gian cũng trải qua nhiều thăng trầm như chính lịch sử của thế giới. Ý nghĩa về vai trò vị trí người giáo dân cũng được hiểu khác nhau qua những thời kỳ.

1.1 Giáo dân trong mấy thế kỷ đầu:

Không có sự phân biệt lớn giữa giáo sĩ và giáo dân. Họ được gọi chung là những người tin theo Đức Kitô [Christianos: Kitô hữu]. Các Tông đồ được kính trọng, và giảng dậy cho các tín hữu, nhưng sống chung gần gũi với họ: ”Các tín hữu chuyên cần nghe các tông đồ giảng dậy…Họ đồng tâm nhất trí, ngày ngày chuyên cần đến đề thờ. Khi làm lễ bẻ bánh tại tư gia, họ dùng bữa với lòng đơn sơ vui vẻ…Không một ai coi bất cứ cái gì mình có làm của riêng, nhưng đối với họ, mọi sự là của chung..” (Cv.2.42-47; 4,32-34). Nhìn chung Giáo hội hình thành như những cộng đoàn, không mấy chú ý đến cơ cấu. Người đã đón nhận Tin mừng trở thành nhân chứng Phúc âm cho người khác, cứ thế các cộng đoàn lan rộng.

1.2 Giáo dân từ thế kỷ thứ IV cho đến trước Công Đồng Vatican II (1962-1965):

Từ khi Kitô giáo được đế chế Roma công nhận và hỗ trợ, giáo hội ngày càng phát triển mạnh mẽ. Khắp Au châu, nẩy sinh nhu cầu tổ chức cơ cấu, đã hình thành trong giáo hội những chức danh và quyền hành, để quản trị giáo hội cũng như để loan báo và bảo vệ truyền thống Phúc âm. Cùng lúc hàng giáo sĩ cũng được các nhà cầm quyền đời tôn trọng, quyền lực đạo đời đan xen, Giáo hội được nhìn như một vương quốc trần gian, trong bối cảnh lịch sử của chủ nghĩa phong kiến phát triển (thế kỷ thứ 10). Quyền bính hiểu theo nghĩa thống trị được đề cao. Từ đó hình thành rõ nét sự phân cấp giáo sĩ, với giáo dân, thậm chí có lúc mâu thuẫn, e ngại. Giáo dân bị coi nhẹ, được nhìn dười nhãn quan trần thế hẹp hòi, hơn là theo tinh thần Phúc Âm:

“Giáo dân là những người được phép lấy vợ, canh tác kiện tụng, cúng tiền vào nhà thờ, nộp thuế thập phân. Dù vậy họ vẫn được cứu rỗi nếu họ làm lành lánh dữ
“ (Theo Bộ tập hợp Giáo Luật năm 1140)

Trong 8 thế kỷ tiếp theo, giáo dân đã có nhiều đóng góp trong việc bảo vệ giáo hội, hay đi đầu trong việc canh tân đời sống thiêng liêng (như trường hợp thánh Phanxicô thành Assisi) và cũng đã có những luồng gió đòi đổi mới, tìm cách trở về nguồn Tin Mừng. Đã có nhiều thay đổi trong cách định nghĩa về người giáo dân, tuy vậy vẫn chưa đầy đủ theo tinh thần Tin mừng, và có tính thụ động:

Bộ giáo luật năm 1917, điều 107: ”Giáo dân là người không phải là giáo sĩ “; điều 682: ”Giáo dân là những người nhận từ hàng giáo phẩm những ơn ích thiêng liêng, và nhất là những trợ lực cần thiết cho sự cứu rỗi”. Còn trước đó 47 năm, Công đồng Vatican I (1869- 1870) vẫn chưa chú ý mấy đến vai trò vị trí người giáo dân, chỉ đề cập đến một số tật xấu của họ vào thời đó.

1.3 Vai trò và vị trí giáo dân trong thế kỷ 20, đặc biệt sau Công đồng Vatican II:

Từ cuối thế kỷ 19 phong trào tục hóa lên đến đỉnh cao, thu hẹp tầm ảnh hưởng của hàng giáo sĩ, nhất là sau thế chiến I (1914-1917) phát triển các phong trào Công giáo Tiến hành, vị trí “có mặt khắp nơi” của giáo dân ngày càng nổi bật. Vai trò đặc biệt của họ được nhìn nhận, và Công Đồng Vatican II (1962-1965) đã phục hội giá trị cho người giáo dân, trên nền tảng Tin Mừng và có tính tích cực hơn:

Theo Giáo luật 1983, điều 207: ”Do sự thiết lập của Thiên Chúa, giữa các tín hữu trong Giáo hội, có các thừa tác viên có chức thánh, trong luật được gọi là các giáo sĩ, còn các người khác được gọi là giáo dân. Giáo dân là một trong hai thành phần tín hữu, do Phép Rửa và Thêm Sức, được Thiên Chúa ủy thác làm việc tông đồ, đặc biệt ở những nơi chỉ nhờ giáo dân người ta mới có thể nghe Phúc Am, và biết Đức Kitô” (điều 225).

2. Giáo dân trong Giáo hội và thế giới ngày nay.

2.1 Nền tảng Lời Chúa :

Tất cả chúng ta đã được rửa tội trong một Thánh Thần độc nhất để làm thành một thân thể” (1 Cr 12,13) “Anh em là Thân thể Chúa Kitô, vì mỗi người đều là chi thể “ (1 Cr 12,27) “Còn anh em là giống nòi được tuyển chọn, là hàng tư tế vương giả, là dân thánh, dân riêng của Thiên Chúa để loan truyền những kỳ công của Người” (1 Pr 2,9) “Anh em không còn là nô lệ, nhưng là con, mà đã là con thì cũng là người thừa kế, nhờ Thiên Chúa” (Gl 4,7; Rm 8,15-16).

2.2 Giáo huấn của Giáo hội:

* Giáo dân được định nghĩa cách tích cực và mới mẻ trong mối quan hệ trực tiếp với Đức Kitô và Giáo hội của Người:”Giáo dân là những người được tháp nhập vào thân Chúa Kitô, nhờ Phép rửa tội đã trở nên dân Chúa và tham dự vào chức vụ tư tế, ngôn sứ và vương giả của Chúa Kitô theo cách của họ” (Hiến chế TL về GH, 31)

* Giáo dân có phẩm giá bình đẳng như mọi tín hữu:”Chỉ có một Thiên Chúa, một đức tin, một Phép rửa, một dân riêng của Thiên Chúa, cùng chung một phẩm giá của những chi thể đã được tái sinh trongĐức Kitô, cùng có một ân huệ làm con cái Thiên chúa, một ơn gọi nên trọn lành, một ơn cứu độ và một niềm hy vọng duy nhất và một đức aí không phân chia. Vì thế trong Đức Kitô và trong Giáo hội không có sự hơn kém về nguồn gốc hay dân tộc, vì địa vị xã hội hoặc vì nam nữ “ (HCTLGH, 32).

* Giáo dân có ơn gọi và vị trí riêng, đó là vị trí giữa đời, đảm nhận các vai trò trong xã hội, họ có mặt khắp nơi, đặc biệt trong gia đình và những nơi hàng giáo sĩ không thể hiện diện. Nên họ có sứ mạng thánh hoá các trật tự trần thế, giữa những cảnh sống hàng ngày (HCTLGH số 31) có ơn gọi làm tông đồ giáo dân. Công đồng Vatican II có riêng một sắc lệnh cho vấn đề này: “Sắc lệnh Tông đồ giáo dân”. Năm 1988 Đức Gioan Phaolô II cũng đã ban hành Tông huấn Kitô hữu giáo dân. Theo tinh thần Tông huấn này, giáo dân được mời gọi tham gia vào công cuộc cứu rỗi của Giáo hội, tham dự vào chức năng tư tế, ngôn sứ và vương gỉa của Chúa Kitô (HCTLGH, 33-36).

3. Giáo dân nồng cốt trong Giáo xứ.

Trong giáo xứ nào cũng cần có một số giáo dân sốt sáng, nhiệt thành và có năng lực cùng góp công góp sức với nhau và với linh mục chánh xứ để làm cho mọi sinh hoạt mục vụ của giáo xứ được trôi chẩy và tốt đẹp. Chúng ta có thể gọi chung thành phần giáo dân ấy là “giáo dân nòng cốt” “giáo dân đầu tầu”, “giáo dân lãnh đạo” hay “cán bộ khung của giáo xứ”. Đó là thành viên của Hội đồng Mục vụ Giáo xứ (có giáo phận gọi là Ban Hành Giáo) và của Ban Điều Hành các Giáo họ (Giáo khu) và. Đó còn là thành viên các giới, hội viên các hội đoàn -gồm cả giáo lý viên- và nhất là những người có trách nhiệm về mỗi giới, mỗi hội đoàn, mỗi lãnh vực tông đồ thường được gọi là Ban Điều Hành, Ban Trị Sự hay Ban Trách Nhiệm.

3.1 Hội đồng Mục vụ giáo xứ (Ban hành giáo).

(1) Định nghĩa: Giáo luật điều 536:

# 1.Nếu Giám mục giáo phận xét là thuận lợi, sau khi đã tham khảo ý kiến của Hội đồng linh mục, thì trong mỗi giáo xứ nên thành lập Hội đồng Mục vụ giáo xứ (HĐMVGX), do cha chánh xứ chủ trì, và trong đó các tín hữu cùng với những người chiếu theo chức vụ, tham gia vào việc chăm sóc mục vụ trong giáo xứ cùng đóng góp sự cộng tác của mình vào việc cổ võ sinh hoạt mục vụ.

# 2. Hội đồng Mục vụ giáo xứ chỉ có quyền tư vấn và được điều hành theo các qui tắc do Giám mục giáo phận ấn định.

(2) Chức năng nhiệm vụ của HĐMVGX:

(1o) Xác định ưu tiên và lên kế hoạch hoạt động cho giáo xứ trong cái nhìn hướng về tương lai.

(2o) Phối hợp các chương trình và sinh hoạt hiện có.

(3o) Làm cho mọi người tham gia vào công việc của giáo xứ.

(4o) Làm cho càng nhiều người càng tốt có thể tham gia đóng góp vào quá trình hình thành các quyết định chung của giáo xứ.

(5o) Cộng tác với các ban ngành của Giáo phận và thông qua Hội đồng Mục vụ Giáo hạt cộng tác với các giáo xứ khác và thực hiện công việc của Hội đồng Mục vụ Giáo hạt theo các ưu tiên và dưới sự hướng dẫn của Giáo phận.

(6o) Đóng góp vào việc hoạch định các mục tiêu và chương trình của Giáo phận.

3.2 Vai trò của các giới, hội đoàn và những người giữ vai trò lãnh đạo các giới, hội đoàn.

Trong giáo xứ, các Giới và các Hội Đoàn có một vai trò khá quan trọng, trong việc giúp giáo dân có một cách sống Phúc âm thích hợp với đoàn sủng của mỗi thành phần Dân Chúa. Mỗi giới, mỗi hội đoàn có con đường nên thánh hay đường lối tu đức riêng thường được gọi là linh đạo.

Ban Điều Hành các Giới và Ban Trị Sự các Hội đoàn tông đồ có trách nhiệm duy trì và linh hoạt “linh đạo” riêng của Giới và Hội đoàn mình, trong khuôn khổ đường hướng mục vụ chung của Giáo xứ và cộng tác chặt chẽ với các thành phần khác trong Giáo xứ.

IV. Áp dụng

Thể hiện vai trò và vị trí người giáo dân trong giáo xứ:

1. Trao đổi, góp ý, cộng tác với chủ chăn trong tinh thần “anh em trong Đức Kitô” (HCTLGH, 37).

2. Được hàng giáo sĩ nhìn nhận phẩm giá, lắng nghe và khuyến khích lãnh lấy trách nhiệm trong Giáo hội và thế giới.

3. “Mối tương quan mật thiết giữa giáo dân và chủ chăn sẽ mang lại rất nhiều lợi ích cho Giáo hội. Nhờ đó giáo dân ý thức trách nhiệm mình một cách vững vàng hơn và lòng hăng say của họ được phát triển “ (HCTLGH, 37).

4. Giữa các giáo dân tương giao với nhau và với chủ chăn trên tinh thần cùng một chi thể trong Đức Kitô. Và vì cùng chia sẻ sứ mạng tông đồ, nên cũng có tinh thần chủ động, tích cực, có sáng kiến.

5. Kiểm điểm xem chúng ta đang nhìn vai trò giáo dân theo tinh thần trước hay sau Công đồng Vatican II?

6. Quan tâm học hỏi và rèn luyện cho xứng với vai trò giáo dân, nhất là “giáo dân nòng cốt” trong Giáo xứ.

V. Chia sẻ

Xin mỗi người chia sẻ với các học viên khác.

1. Điều mình tâm đắc nhất trong các điều được trình bày trong đề tài 03 này.

2. Suy nghĩ và quyết tâm của mình về cách tham dự Khoá bồi dưỡng này.

3. Suy nghĩ và quyết tâm về việc nỗ lực chu toàn những công việc được cha chánh xứ và giáo xứ giao.

Ngày 02.05.2003

với sự cộng tác của FX Nguyễn Văn Ái

********

Chương Trình Đào Tạo Tông Đồ Giáo Dân- Khóa 2.2003:Dành cho giáo dân nòng cốt của giáo xứ

Đề tài 4

Ý nghĩa của quyền bính trong Giáo hội: Phục vụ cộng đoàn Dân Chúa

I. Mục đích

1. Giúp học viên hiểu rõ ý nghĩa của quyền bính trong cộng đoàn Giáo hội, đúng như Đức Giêsu Kitô đã hiểu, đã sống, và đã truyền đạt cho cộng đoàn môn đệ.

2. Giúp các học viên liên hệ với thực tế để sửa sai quan niệm và điều chỉnh cách sử dụng quyền bính trong nhóm hay hội đoàn tông đồ, trong giáo họ và giáo xứ cho phù hợp với Phúc Âm hơn.

II. Tiếp cận vấn đề

Mỗi tổ thảo luận về 3 câu hỏi sau, rồi chia sẻ lại với cả lớp:

1. Người đời thường hiểu quyền bính như thế nào? và thường sử dụng quyền bính vào những mục đích gì?

2. Trong Cộng đoàn Giáo hội, quyền bính phải được hiểu và sử dụng như thế nào cho phù hợp với tinh thần và giáo huấn của Đức Giêsu?

3. Trong Cộng đoàn Giáo hội - cụ thể là trong nhóm hay hội đoàn tông đồ, giáo họ và giáo xứ - người có quyền bính hay lãnh đạo phải là người thế nào?

III. Học hỏi

1. Quyền bính theo quan niệm thông thường của người đời.

Trong quan niệm thông thường của con người thời nay, quyền bính thường được đồng hóa với quyền lực, với sức mạnh (pouvoir, power). Vì thế người nắm quyền bính hay lãnh đạo là người nắm quyền lực, là người có sức mạnh trong tay khiến mọi người phải kính nể, lụy phục. Thế nên người ta thường tìm mọi cách - thậm chí sử dụng cả thủ đoạn, mánh lới - để có quyền, có địa vị. Vì có quyền, có địa vị cũng đồng nghĩa với có tiền.

Nhưng xét theo nguyên ngữ thì quyền bính có một ý nghĩa hoàn toàn khác: trong cổ ngữ la tinh quyền bính = auctoritas (tiếng Anh là authorithy, tiếng Pháp là autorité) là danh từ xuất phát từ động từ augere mà ra. Augere có nghĩa là “tăng thêm”. Vậy quyền bính hay cụ thể là người cầm quyền hay lãnh đạo là người làm cho những người dưới quyền mình được có thêm; được có nhiều hơn; được sung sướng, hạnh phúc hơn; được phát triển, hoàn hảo hơn.

Ý nghĩa nguyên ngữ này rất gần với quan điểm của Đức Giêsu. Khi kêu gọi và tập hợp một số người đi theo Người, Đức Giêsu cũng phải đương đầu với quan niệm thông thường về quyền bính, về vai trò và vị trí của người lãnh đạo của chính các môn đệ thân tín của Người. Sách Phúc Am để lại cho chúng ta những bằng chứng rất rõ ràng về quan niệm sai lầm của các môn đệ. Cũng như cho chúng ta thấy rõ quan điểm của Đức Giêsu về quyền bính, về trách nhiệm của người nắm quyền trong Cộng đoàn Giáo hội.

2. Quyền bính dưới ánh sáng Tin Mừng và theo giáo huấn của Đức Giê-su Kitô.

2.1 Quan điểm về quyền bính của các môn đệ trước Phục Sinh: Ít nhất là một lần đã nổ ra cuộc tranh cãi giữa các môn đệ về chuyện: “Ai là người lớn nhất trong Nước Trời” (Lc 22,24). Cuộc tranh cãi chắc là gay go, vì giữa các ông đã không giải quyết được với nhau nên mới phải nhờ đến sự phân xử của Đức Giêsu (Mt 8,1-4). Rồi việc bà mẹ hai ông Gioan và Giacôbê (theo Mt) hoặc chính hai ông ấy (theo Mc) đến xin Đức Giêsu dành cho người ngồi bên hữu, người ngồi bên tả khi Người được vinh quang là một câu chuyện rất tiêu biểu và đầy ý nghĩa (Mt 20,20-23 và Mc 10,35-40). Thật ra không chỉ có hai môn đệ Gioan và Giacôbê ham hố quyền lực mà là tất cả mười hai môn đệ đều ham hố quyền lực và muốn được Thầy dành cho mình chỗ tốt nhất, cao nhất. Bằng chứng là mười môn đệ kia tỏ ra ghen tỵ, tức tối với hai anh em Gioan và Giacôbê: Mt 20,24 và Mc 10,41.

2.2 Quan điểm và thái độ của Đức Giêsu về quyền bính: Nhưng quan điểm và thái độ của Đức Giêsu về quyền bính hết sức minh bạch. Tuy lời giảng giải ôn hòa, nhưng rất dứt khoát, quyết liệt:

Các ông còn cãi nhau sôi nổi xem ai trong nhóm được coi là lớn nhất. Đức Giêsu bảo các ông: “Vua của các dân thì lấy quyền mà thống trị dân, và những ai cầm quyền thì tự xưng là ân nhân. Anh em thì không như thế, trái lại ai lớn nhất trong anh em, thì phải nên như người nhỏ nhất, và kẻ làm đầu phải nên như người phục vụ. Bởi lẽ giữa người ngồi ăn và kẻ phục vụ, ai lớn hơn ai? Hẳn phải là người ngồi ăn chứ? Thế mà Thầy đây, Thầy sống ở giữa anh em như người phục vụ.” (Lc 22,25-27).

Nhưng Đức Giêsu gọi các ông lại và nói: “Anh em biết thủ lãnh các dân thì lấy quyền mà thống trị dân, những người làm lớn thì dùng uy mà cai quản dân. Giữa anh em thì không được như vậy: Ai muốn làm lớn giữa anh em, thì phải làm người phục vụ anh em, và ai muốn làm đầu anh em thì phải làm đầy tớ anh em. Cũng như Con Người đến không phải để được người ta phục vụ nhưng là để phục vụ và hiến mạng sống làm giá chuộc muôn người” (Mt 20,25-28; xem Mc 10,42-45).

2.3 Bài học Đức Giêsu để lại cho những ai được giao quyền lãnh đạo Cộng đoàn Giáo hội: Dường như Đức Giêsu cho rằng những lời giảng dạy, dặn dò trên chưa đủ nên Người muốn để lại trong tâm trí các môn đệ một ấn tượng mạnh, thật mạnh, một kỷ niệm không thể tàn phai, để cho các môn đệ nhớ đời. Và cũng để cho bài học của Người được các môn đệ mọi thời mọi nơi nhắc nhở và học tập:

Trước lễ Vượt Qua, Đức Giêsu biết giờ của Người đã đến…nên bấy giờ Người đứng dậy, rời bàn ăn, cởi áo ngoài ra và lấy khăn mà thắt lưng. Rồi Đức Giêsu đổ nước vào chậu, bắt đầu rửa chân cho các môn đệ và lấy khăn thắt lưng mà lau…

“Khi rửa chân cho các môn đệ xong, Đức Giêsu mặc áo vào, về chỗ và nói: “Anh em có hiểu việc Thầy mới làm cho anh em không? Anh em gọi Thầy là Thầy là Chúa, điều đó phải lắm, vì quả thật Thầy là Thầy là Chúa. Vậy nếu Thầy là Chúa, là Thầy mà còn rửa chân cho anh em, thì anh em cũng phải rửa chân cho nhau.Thầy đã nêu gương cho anh em, để anh em cũng làm như Thầy đã làm cho anh em. Thật, Thầy bảo thật anh em: tôi tớ không lớn hơn chủ nhà, kẻ được sai đi không lớn hơn người sai đi
“ (Ga13,1-16).

2.4 Quan điểm về quyền bính của các môn đệ sau Phục Sinh:

* Hơn ai hết, Thánh Phêrô, Tông đồ trưởng, sau khi Đức Giêsu phục sinh, đã hiểu ý nghĩa của quyền bính là phục vụ:

Ơn riêng Thiên Chúa đã ban, mỗi người trong anh em phải dùng mà phục vụ kẻ khác. Như vậy anh em mới là những người khéo quản lý ân huệ thiên hình vạn trạng của Thiên Chúa. Ai có nói, thì nói lời Thiên Chúa; ai phục vụ, thì phục vụ bằng sức mạnh Thiên Chúa ban. Như thế trong mọi việc, chúng ta tôn vinh Thiên Chúa nhờ Đức Giêsu Kitô. Kính dâng Người vinh quang và uy quyền đến muôn thưở muôn đời” (1 Pr 4,10-11).

“Cùng các bậc kỳ mục trong anh em, tôi xin có mấy lời khuyên nhủ, vì tôi cũng thuộc hàng kỳ mục, lại là chứng nhân những đau khổ của Đức Kitô và được dự phần vinh quang sắp tỏ hiện trong tương lai. Anh em hãy chăn dắt đoàn chiên mà Thiên Chúa đã giao phó cho anh em: lo lắng cho họ không phải vì miễn cưỡng, nhưng hoàn toàn tự nguyện như Thiên Chúa muốn, không phải vì ham hố lợi ích thấp hèn, nhưng vì lòng nhiệt tình tận tụy. Đừng lấy quyền mà thống trị những người mà Thiên Chúa đã giao phó cho anh em, nhưng hãy nêu gương sáng cho đoàn chiên
” [1 Pr, 5.1-4].

* Thánh Phaolô, Vị Tông đồ dân ngoại cũng thấu hiểu và tích cực áp dụng tinh thần phục vụ ấy của người lãnh đạo, dù ngài giỏi giang trổi vượt hơn các Tông đồ khác và đã từng thành công trong các hành trình tryền giáo:

Bởi thế, vì Thiên Chúa đoái thương giao cho chúng tôi công việc phục vụ, nên chúng tôi không sờn lòng nản chí. Trái lại chúng tôi khước từ những cách hành động ám muội, đáng xấu hổ và không dùng mưu mô mà xử trí, cũng chẳng xuyên tạc Lời Thiên Chúa…Bởi chúng tôi không rao giảng chính mình mà chỉ rao giảng Đức Giêsu là Chúa, còn chúng tôi, chúng tôi chỉ là tôi tớ của anh em, vì Đức Giêsu “ (2 Cr 4, 1-3.5).

Trong niềm xác tín mỗi người là khí cụ của Chúa, ngài chấp nhận để anh em lớn lên, còn mình thì nhỏ đi:

Thiên Chúa đã đặt chúng tôi làm tông đồ hạng chót, như những kẻ bị án tử hình bởi vì chúng tôi đã nên trò cười cho thế gian cho thiên thần và loài người. Chúng tôi điên dại vì Đức Kitô, còn anh em thì khôn ngoan trong Đức Kitô; chúng tôi yếu đuối còn anh em thì mạnh mẽ; anh em được kính trọng còn chúng tôi bị khinh khi….Cho đến bây giờ, chúng tôi đã nên như rác rưởi của thế gian, như phế vật đối với mọi người “ (1 Cr. 4.9-13).

2.5 Quan điểm về quyền bính của Giáo hội Công giáo:

* Các vị Giáo hoàng luôn xưng mình là “Tôi tớ của các tôi tớ” (servus servorum) theo giáo huấn và gương sáng của Đức Giêsu để lại.

* Khi ngỏ lời với thế giới, Công Đồng Vatican II (1962-1965) đã long trọng tuyên bố về mối tương quan giữa Giáo hội và thế giới:

Không bị một tham vọng trần thế nào thúc đẩy, Giáo hội chỉ nhắm một điều là dưới sự dẫn dắt của Chúa Thánh Thần, Giáo hội tiếp tục công cuộc của Chúa Kitô, Đấng đã đến thế gian để làm chứng cho chân lý, để cứu rỗi chứ không luậ