Giáo Hội sống cho Đức Kitô và cho Nước Trời
Chúng ta nhận thấy trong chiều dài lịch sử có nhiều cái nhìn khác nhau về Giáo Hội. Những cái nhìn nhiều lúc trái ngược nhau: có những cái nhìn thiện cảm, tích cực, nhưng cũng có những cái nhìn ác cảm, hay thậm chí thù nghịch.
Ở Tây phương, sau thời hưng thịnh của Giáo Hội hay chúng ta còn gọi là “Thời Hoàng Kim”, nhiều người bắt đầu nghi ngờ về vai trò của Giáo Hội trong đời sống xã hội. Những gì đang diễn ra trên các phương tiện thông tin đại chúng ở châu Âu và ở Mỹ nói cho chúng ta điều này. Giáo Hội nhiều lúc bị xem là cơ chế làm giảm chậm sự phát triển con người và xã hội. Giáo Hội được nhìn như người luôn khắt khe với đời sống luân lý, là rào cản của sự tự do.
Giáo Hội Công Giáo Việt Nam cũng phải đối diện với những thách đố nhất định. Chúng ta có thể nêu lên ở đây một cách ngắn gọn một số điểm:
Trước hết, Giáo Hội Việt Nam gắn liền với lịch sử của sự “bách hại” ở những bình diện khác nhau. Sau giai đoạn Giáo Hội được xem là “tôn giáo ngoại lai”, Giáo Hội bị cho là kẻ đội lốt “kẻ thù dân tộc”. Người ta cho rằng Giáo Hội làm việc cho Vatican, cho Hoa Kỳ hay cho Tây phương….
Tiếp đến, ý tưởng về Giáo Hội như một thực tại trần thế và Nước Trời nhiều lúc làm cho người Kitô Hữu khó xác định giữa việc sống đạo trong nhà thờ và sống đạo trong lòng dân tộc trong bối cảnh xã hội – chính trị đặc biệt. Mặc dù Hiến chế Vui Mừng và Hy Vọng của Công đồng Vaticanô II, Hiến chế mục vụ về Giáo Hội trong thế giới ngày hôm nay đã xác định những nguyên tắc về việc dấn thân của người Kitô Hữu trong đời sống xã hội, tại Việt Nam vấn đề này vẫn còn gây tranh cãi. Bài viết của Đức Cha Phêrô Nguyễn Văn Khảm[1] và của Đức Cha Phaolô Bùi Văn Đọc[2] gần đây đã nói lên một phần thực tế này.
Sau cùng, chúng ta đang sống trong một hoàn cảnh văn hoá và tôn giáo phức hợp. Có nghĩa là Giáo Hội đang sống trong một thực tại văn hóa và tôn giáo mà trong đó những người Kitô Hữu chỉ là thiểu số. Tin Mừng đang tìm cách đi vào trong những giá trị nhân văn và tôn giáo khác.
Trong bối cảnh này, điều chắc hẳn phù hợp cho chúng ta là nhắc lại những tính chất của Giáo Hội. Công việc này giúp chúng ta sống căn tính của Giáo Hội một cách sâu xa hơn, đồng thời kiểm chứng lại những hoạt động của chúng ta có phù hợp hay chăng với căn tính của Giáo Hội.
Giáo Hội sống cho Đức Kitô và cho Nước Trời là xác tín sâu xa nói lên toàn bộ nội dung về tín điều về Giáo Hội mà chúng ta sẽ đi tìm những ý nghĩa của chúng. Chúng ta khởi đi từ tài liệu học hỏi trong Năm thánh: Giáo Hội tại Việt Nam: Mầu nhiệm - Hiệp thông - Sứ vụ. Chúng ta cũng sẽ tham chiếu các văn kiện của Công đồng Vaticanô II như Lumen gentium (Ánh sáng muôn dân), Gaudium et spes (Vui mừng và Hy vọng) hay Ecclesia in Asia (Tông Huấn của ĐGH Gioan Phaolô II gửi các Giáo Hội tại Á châu).
Giáo Hội sống cho Đức Kitô
Trước hết, khi nói tới khía cạnh Giáo Hội sống cho Đức Kitô chúng ta trước tiên phải nói tới Đức Kitô là nền tảng của Giáo Hội. Thánh Phaolô cho chúng ta biết rằng Giáo Hội là thân thể của Đức Kitô và chính Người là Đầu (x. Cl 1, 18).
Khi chúng ta nói Giáo Hội sống cho Đức Kitô chúng ta không chỉ hiểu Giáo Hội được “thánh hiến” cho Đức Kitô nhưng còn chính Đức Kitô trở nên “đá tảng góc tường” của toà nhà Giáo Hội. Giáo Hội sống cho Đức Kitô, trước hết đó là Đức Kitô trở nên tất cả cho Giáo Hội: “trở nên tất cả trong mọi sự”. Quả vậy, Đức Giêsu đã xây dựng Giáo Hội từ lời tuyên xưng đức tin của Phêrô: “Thầy là Đức Kitô, con Thiên Chúa hằng sống” (Mt 16,16). Trong Tông huấn Ecclesia in Asia (1999), ĐGH Gioan Phaolô II khẳng định: “Những gì làm nên sự khác biệt giữa Giáo Hội và các cộng đoàn tôn giáo khác đó là đức tin vào Đức Giêsu Kitô. […]. Đức tin vào Đức Giêsu Kitô linh ứng cho hành động rao giảng Tin Mừng của Giáo Hội Á châu, thường được thực hiện trong những hoàn cảnh khó khăn và nguy hiểm” (số 10). Khó khăn và nguy hiểm ở đây chính là Giáo Hội tuyên xưng Đức Giêsu Kitô là nền tảng của đời sống mình và là Đấng cứu độ duy nhất. Lịch sử của Giáo Hội Việt Nam đã cho thấy: đức tin vào Đức Giêsu Kitô làm cho những người Công Giáo trở nên những con người phi thường, tuy nhiên sứ mạng của họ chưa bao giờ là một sứ mạng dễ dàng (x. “Nhìn lại chặng đường lịch sử Giáo hội trưởng thành tại Việt Nam” trong Giáo hội tại Việt Nam, Mầu nhiệm - Hiệp Thông - Sứ vụ).
Điểm thứ hai, Giáo Hội sống cho Đức Kitô đó là Giáo Hội rao giảng Tin Mừng. Chúa Giêsu mời gọi những người môn đệ: “Anh em hãy đi khắp tứ phương thiên hạ, loan báo Tin Mừng cho mọi loài thọ tạo” (Mc 16, 15). Căn tính của Giáo Hội là rao giảng Tin Mừng. Căn tính này được Công đồng Vaticanô II nhắc lại trong Hiến chế Lumen gentium (s. 5; 17). Tự bản chất Giáo Hội không tồn tại cho chính mình mà cho Đức Kitô và cho Tin Mừng. Giáo Hội không phải là cùng đích của ơn cứu độ, nghĩa là extra ecclesiam nulla salus, nhưng là dấu chỉ của ơn cứu độ; Giáo Hội mạc khải cho con người gương mặt của Thiên Chúa trong Đức Giêsu Kitô chết và phục sinh. Đó là điều mà chúng ta gọi Giáo Hội là bí tích ơn cứu độ. Cũng trong Tông huấn Ecclesia in Asia, ĐGH Gioan Phaolô II cho rằng: “Không thể có được công cuộc Tin Mừng hóa đích thực nếu không loan báo một cách rõ ràng Đức Giêsu Kitô là Chúa” (số 19). Điều này cho chúng ta hiểu Giáo Hội sống là sống cho Đức Kitô.
Điểm thứ ba, Giáo Hội sống cho Đức Kitô là Giáo Hội sống sự hợp nhất và hiệp thông. Sự hợp nhất không chỉ được hiểu ở cấp độ của cơ cấu tổ chức, nhưng là sự hiệp thông với Đức Kitô và với nhau một cách trọn vẹn trong việc cử hành hy tế của Người. Hiến chế Lumen gentium xác định: “Bí Tích Thánh Thể biểu thị và thực hiện sự hiệp nhất các tín hữu là những kẻ hợp thành một thân thể trong Chúa Kitô” (số 3). Quả thực, thánh Phaolô cho biết: “Bởi vì chỉ có một tấm Bánh, và tất cả chúng ta chia sẻ cùng một Bánh ấy, nên tuy nhiều người, chúng ta chỉ là một thân thể” (x. 1Cor 10, 17). Điều làm chúng ta trở nên một là vì chúng ta cùng chia sẻ một tấm Bánh. Chính tấm Bánh làm chúng ta trở nên hợp nhất và hiệp thông với nhau. Nói cách khác, chỉ qua việc tham dự vào việc bẻ Bánh chúng ta mới có thể thực sự hiểu ý nghĩa đích thực của sự hợp nhất và hiệp thông và chúng ta cũng chỉ có thể học biết sống sự hợp nhất và hiệp thông như thế nào: nơi đó chính Thiên Chúa là nguồn của sự hợp nhất và hiệp thông của chúng ta.
Giáo Hội sống cho Nước Trời
Nước Trời hay Nước Thiên Chúa là gì?
Trong lịch sử của Giáo Hội nhiều người vẫn nhầm lẫn Nước Thiên Chúa với vương triều của thực tại trần thế. Cuốn sách « Thành đô Thiên Chúa » của thánh Augustinô là một ví dụ điển hình nói cho chúng ta về sự hiểu lầm này. Nhiều Kitô Hữu xem thành Rôma là vương quốc của Thiên Chúa, « Thành đô vĩnh cửu » và vì thế trái tim của họ tan vỡ khi nó bị những người man di Alaric phá hủy vào năm 410. Từ sự kiện này thánh Augustinô xây dựng tác phẩm thần học đồ sộ của mình: « Thành đô Thiên Chúa » trong đó thánh nhân phân biệt thành đô trần thế với thành đô thiên quốc. Thánh Augustinô viết: « Hai tình yêu làm nên hai thành đô: tình yêu vị kỷ đến nỗi khinh thị Thiên Chúa, đó là thành đô trần thế; tình yêu dành cho Thiên Chúa đến nổi tự hủy chính mình, đó là thành đô thiên quốc. Tình yêu thứ nhất tự tôn vinh trong chính mình và tình yêu thứ hai vinh danh trong Thiên Chúa »[3].
Đọc Tin Mừng nhất lãm chúng ta thấy: Nước Thiên Chúa là mối quan tâm chính yếu của Chúa Giêsu, là trung tâm của việc rao giảng của Người. Khởi đầu Tin Mừng, thánh Mác-cô viết: « Đức Giêsu đến miền Ga-li-lê rao giảng Tin Mừng của Thiên Chúa. Người nói: « Thời kỳ đã mãn, và Triều Đại Thiên Chúa đã đến gần. Anh em hãy sám hối và tin vào Tin Mừng » (Mc 1,14-15).
Cũng trong Tin Mừng nhất lãm, Chúa Giêsu nói về nhiều cách khác nhau của Nước Trời, nhất là trong các dụ ngôn: « Chuyện Nước Thiên Chúa thì cũng tựa như chuyện một người vãi giống xuống đất » (Mc 4, 26) hay: « Chúng ta ví Nước Thiên Chúa với cái gì đây ? Lấy dụ ngôn nào mà hình dung được ? » (Mc 4, 30). Chúa Giêsu thường nói về Nước Trời, nhưng bằng những dụ ngôn, bằng những phép ẩn dụ, những hình ảnh. Chúa Giêsu không bao giờ định nghĩa nó là gì. Đó cũng là lý do khó khăn để chúng ta có thể làm một bản tổng luận về Nước Trời. Như vậy, đâu là ý nghĩa của Nước Thiên Chúa ?
Nếu như Chúa Giêsu không đưa ra cho chúng ta bất cứ một định nghĩa nào về Nước Trời, Nước này cũng được bộc lộ qua chính đời sống và sứ mạng của Người. Nước Trời là một thực tại khó hiểu nhưng con người có thể khám phá ra nó khi sống theo bước chân của Đức Giêsu ngày mỗi ngày, và đặt niềm tin vào lời của Người. Bước theo Đức Giêsu Kitô là đồng hành với Người: khởi đi từ sứ mạng công khai, khiêm tốn nhập hàng giữa những người tội lỗi, công bố Triều Đại Thiên Chúa trong sự khiêm tốn, chấp nhận sự khinh rẽ của người đời. Nói tóm lại, Nước Trời là Đức Giêsu Kitô hay Đức Giêsu Kitô là hiện thân của Nước Trời qua đời sống, sứ mạng, cái chết và sự phục sinh của Người.
Riêng đối với thánh Phaolô, dù không xây dựng một tổng luận về Nước Trời, thánh nhân đã soi dẫn cho chúng ta một số điểm trong các lá thơ mục vụ của ngài về Nước Trời. Chúng ta có thể đơn cử một ví dụ: « Nước Thiên Chúa không phải là chuyện ăn chuyện uống, nhưng là sự công chính, bình an và hoan lạc trong Thánh Thần » (Rm 14, 17). Đây gần như là câu định nghĩa đẹp nhất về Triều Đại Thiên Chúa. Nước Thiên Chúa là sự công chính, bình an và hoan lạc trong Thánh Thần.
Giáo Hội sống cho Nước Trời là sống giữa hai lần đến của Đức Kitô: “đã đến” và “chưa đến”.
“Đã đến”:
Giáo Hội xác tín ơn cứu độ của thế giới đã được lĩnh hội trong Đức Giêsu Kitô. Các Kitô Hữu không thất vọng về tương lai cũng không chờ đợi một tương lai khác ngoài Đức Kitô. Họ tin tưởng rằng những cánh cửa của sự sống đã thực sự được mở cho họ một lần toàn vẹn trong lễ Phục Sinh. Bởi lẽ, qua cái chết và sự phục sinh của Đức Kitô, Thiên Chúa đã tiêu diệt sự chết.
Nhưng cái “đã đến” đồng thời là cái “chưa đến”:
Ơn cứu độ thực sự được lĩnh hội đã không biến đổi gương mặt của thế giới và cuộc sống cá nhân của chúng ta một cách thần diệu, cũng không kết thúc lịch sử. Lịch sử vẫn tiếp tục, bởi lẽ, cho dù đã thật sự được lĩnh hội, ơn cứu độ chưa thiết lập tình trạng cuối cùng của tất cả mọi sự. Từ khía cạnh này, xây dựng thế giới chúng ta đang sống là xây dựng Nước Trời. Nước Thiên Chúa là “sự công chính, bình an và hoan lạc trong Chúa Thánh Thần”. “Phúc cho ai xây dựng hòa bình”!
Nước Thiên Chúa chưa thật sự đến, vì chúng ta còn phải chờ lần trở lại thứ hai của Đức Giêsu Kitô, cuối cùng của lịch sử. Sự trở lại được loan báo trong Tân Ước, được gọi là “Parousie” (Quang lâm), tiếng hy lạp có nghĩa “tới” và “hiện diện”. Trong lúc cử hành bí tích Thánh Thể Giáo Hội công bố bằng những lời mà Giáo Hội gọi là “mầu nhiệm đức tin”: “Chúng con nhớ lại việc Chúa chết; chúng con cử hành việc Chúa sống lại và chúng con mong đợi Ngài lại đến trong vinh quang”. Hy vọng Kitô Giáo là Thiên Chúa hoàn toàn “đặt mọi thế lực thù địch dưới chân Ngài” và một viễn cảnh “trời mới đất mới” vĩnh viễn: cái chết, sự hận thù… không còn chổ đứng trong cuộc sống của con người mới.
Quả thực, chúng ta không biết thời gian hoàn tất của trái đất này, nhưng chúng ta biết Thiên Chúa dọn sẵn một nơi trời mới đất mới nơi đó công lý ngự trị (2Cr 5, 2), hạnh phúc và ước vọng hòa bình được đắp đầy (1Cor 2, 9); nơi đó sự chết bị đánh bại (1Cor 15, 42), con người được giải thoát khỏi ách nô lệ (Rm 8, 19-21).
Đối với người Kitô Hữu, sự trông đợi trời mới đất mới không làm suy giảm tính hiện tại và trách nhiệm xây dựng thế giới này, trái lại nó còn tạo thêm những động lực mới giúp họ hoàn tất những bổn phận ấy. Nhiều người lầm tưởng rằng niềm tin Kitô Giáo, sự hướng về những giá trị siêu việt làm con người lãng quên những thực tại trần thế. Tuy nhiên, chỉ có những thực tại siêu việt mới có thể soi chiếu ý nghĩa của những thực tại trần thế[4]. Nếu không phải vì một tương lai lâu bền hơn mà con người không ngừng nổ lực làm việc và phấn đấu cho đến cùng?
Kết: Giáo Hội sống cho Đức Kitô và cho Nước Trời. Khằng định này mời gọi chúng ta trở về nguồn: Giáo Hội sống trong Đức Giêsu Kitô và cho Tin Mừng. Chiều kích nền tảng này cho phép chúng ta hiểu Giáo Hội như thực tại thiêng liêng và hữu hình hay mầu nhiệm, hiệp thông và sứ vụ. Căn tính này làm nên sự khác biệt giữa Giáo Hội với tất cả mọi tổ chức xã hội và chính trị khác. Và như vậy, tiếng nói của Giáo Hội cũng là tiếng nói khác khi Giáo Hội cần phải lên tiếng đối với những vấn đề xã hội.
Lm Phêrô Trần Văn Khuê
--------------------------------------------------------------------------------
[1] ĐC Phêrô Nguyễn Văn Khảm, Quan điểm Công Giáo về trách nhiệm của Giáo Hội trước các vấn đề xã hội (http://vietcatholic.net/News/Clients/ReadArticle.aspx?ID=64363).
[2] ĐC Phaolô Bùi Văn Đọc, Phương hướng đối thoại và hợp tác của Giáo Hội tại Việt Nam với Nhà nước theo tinh thần của Đức Thánh Cha Bênêđíctô XVI trong Huấn từ cho các Giám Mục Việt Nam nhân chuyến viếng thăm Ad Limina (http://hdgmvietnam.org/News.aspx?Type=8&Act=Detail&ID=1115&CateID=63).
[3] Trích từ Initiation à Saint Augustin (Marcel Neusch), nxb Cerf, 2003, tr. 139.
[4] Chúng ta có thể đọc thông điệp Caritas in veritate của ĐTC Bênêđictô XVI.
Chúng ta nhận thấy trong chiều dài lịch sử có nhiều cái nhìn khác nhau về Giáo Hội. Những cái nhìn nhiều lúc trái ngược nhau: có những cái nhìn thiện cảm, tích cực, nhưng cũng có những cái nhìn ác cảm, hay thậm chí thù nghịch.
Ở Tây phương, sau thời hưng thịnh của Giáo Hội hay chúng ta còn gọi là “Thời Hoàng Kim”, nhiều người bắt đầu nghi ngờ về vai trò của Giáo Hội trong đời sống xã hội. Những gì đang diễn ra trên các phương tiện thông tin đại chúng ở châu Âu và ở Mỹ nói cho chúng ta điều này. Giáo Hội nhiều lúc bị xem là cơ chế làm giảm chậm sự phát triển con người và xã hội. Giáo Hội được nhìn như người luôn khắt khe với đời sống luân lý, là rào cản của sự tự do.
Giáo Hội Công Giáo Việt Nam cũng phải đối diện với những thách đố nhất định. Chúng ta có thể nêu lên ở đây một cách ngắn gọn một số điểm:
Trước hết, Giáo Hội Việt Nam gắn liền với lịch sử của sự “bách hại” ở những bình diện khác nhau. Sau giai đoạn Giáo Hội được xem là “tôn giáo ngoại lai”, Giáo Hội bị cho là kẻ đội lốt “kẻ thù dân tộc”. Người ta cho rằng Giáo Hội làm việc cho Vatican, cho Hoa Kỳ hay cho Tây phương….
Tiếp đến, ý tưởng về Giáo Hội như một thực tại trần thế và Nước Trời nhiều lúc làm cho người Kitô Hữu khó xác định giữa việc sống đạo trong nhà thờ và sống đạo trong lòng dân tộc trong bối cảnh xã hội – chính trị đặc biệt. Mặc dù Hiến chế Vui Mừng và Hy Vọng của Công đồng Vaticanô II, Hiến chế mục vụ về Giáo Hội trong thế giới ngày hôm nay đã xác định những nguyên tắc về việc dấn thân của người Kitô Hữu trong đời sống xã hội, tại Việt Nam vấn đề này vẫn còn gây tranh cãi. Bài viết của Đức Cha Phêrô Nguyễn Văn Khảm[1] và của Đức Cha Phaolô Bùi Văn Đọc[2] gần đây đã nói lên một phần thực tế này.
Sau cùng, chúng ta đang sống trong một hoàn cảnh văn hoá và tôn giáo phức hợp. Có nghĩa là Giáo Hội đang sống trong một thực tại văn hóa và tôn giáo mà trong đó những người Kitô Hữu chỉ là thiểu số. Tin Mừng đang tìm cách đi vào trong những giá trị nhân văn và tôn giáo khác.
Trong bối cảnh này, điều chắc hẳn phù hợp cho chúng ta là nhắc lại những tính chất của Giáo Hội. Công việc này giúp chúng ta sống căn tính của Giáo Hội một cách sâu xa hơn, đồng thời kiểm chứng lại những hoạt động của chúng ta có phù hợp hay chăng với căn tính của Giáo Hội.
Giáo Hội sống cho Đức Kitô và cho Nước Trời là xác tín sâu xa nói lên toàn bộ nội dung về tín điều về Giáo Hội mà chúng ta sẽ đi tìm những ý nghĩa của chúng. Chúng ta khởi đi từ tài liệu học hỏi trong Năm thánh: Giáo Hội tại Việt Nam: Mầu nhiệm - Hiệp thông - Sứ vụ. Chúng ta cũng sẽ tham chiếu các văn kiện của Công đồng Vaticanô II như Lumen gentium (Ánh sáng muôn dân), Gaudium et spes (Vui mừng và Hy vọng) hay Ecclesia in Asia (Tông Huấn của ĐGH Gioan Phaolô II gửi các Giáo Hội tại Á châu).
Giáo Hội sống cho Đức Kitô
Trước hết, khi nói tới khía cạnh Giáo Hội sống cho Đức Kitô chúng ta trước tiên phải nói tới Đức Kitô là nền tảng của Giáo Hội. Thánh Phaolô cho chúng ta biết rằng Giáo Hội là thân thể của Đức Kitô và chính Người là Đầu (x. Cl 1, 18).
Khi chúng ta nói Giáo Hội sống cho Đức Kitô chúng ta không chỉ hiểu Giáo Hội được “thánh hiến” cho Đức Kitô nhưng còn chính Đức Kitô trở nên “đá tảng góc tường” của toà nhà Giáo Hội. Giáo Hội sống cho Đức Kitô, trước hết đó là Đức Kitô trở nên tất cả cho Giáo Hội: “trở nên tất cả trong mọi sự”. Quả vậy, Đức Giêsu đã xây dựng Giáo Hội từ lời tuyên xưng đức tin của Phêrô: “Thầy là Đức Kitô, con Thiên Chúa hằng sống” (Mt 16,16). Trong Tông huấn Ecclesia in Asia (1999), ĐGH Gioan Phaolô II khẳng định: “Những gì làm nên sự khác biệt giữa Giáo Hội và các cộng đoàn tôn giáo khác đó là đức tin vào Đức Giêsu Kitô. […]. Đức tin vào Đức Giêsu Kitô linh ứng cho hành động rao giảng Tin Mừng của Giáo Hội Á châu, thường được thực hiện trong những hoàn cảnh khó khăn và nguy hiểm” (số 10). Khó khăn và nguy hiểm ở đây chính là Giáo Hội tuyên xưng Đức Giêsu Kitô là nền tảng của đời sống mình và là Đấng cứu độ duy nhất. Lịch sử của Giáo Hội Việt Nam đã cho thấy: đức tin vào Đức Giêsu Kitô làm cho những người Công Giáo trở nên những con người phi thường, tuy nhiên sứ mạng của họ chưa bao giờ là một sứ mạng dễ dàng (x. “Nhìn lại chặng đường lịch sử Giáo hội trưởng thành tại Việt Nam” trong Giáo hội tại Việt Nam, Mầu nhiệm - Hiệp Thông - Sứ vụ).
Điểm thứ hai, Giáo Hội sống cho Đức Kitô đó là Giáo Hội rao giảng Tin Mừng. Chúa Giêsu mời gọi những người môn đệ: “Anh em hãy đi khắp tứ phương thiên hạ, loan báo Tin Mừng cho mọi loài thọ tạo” (Mc 16, 15). Căn tính của Giáo Hội là rao giảng Tin Mừng. Căn tính này được Công đồng Vaticanô II nhắc lại trong Hiến chế Lumen gentium (s. 5; 17). Tự bản chất Giáo Hội không tồn tại cho chính mình mà cho Đức Kitô và cho Tin Mừng. Giáo Hội không phải là cùng đích của ơn cứu độ, nghĩa là extra ecclesiam nulla salus, nhưng là dấu chỉ của ơn cứu độ; Giáo Hội mạc khải cho con người gương mặt của Thiên Chúa trong Đức Giêsu Kitô chết và phục sinh. Đó là điều mà chúng ta gọi Giáo Hội là bí tích ơn cứu độ. Cũng trong Tông huấn Ecclesia in Asia, ĐGH Gioan Phaolô II cho rằng: “Không thể có được công cuộc Tin Mừng hóa đích thực nếu không loan báo một cách rõ ràng Đức Giêsu Kitô là Chúa” (số 19). Điều này cho chúng ta hiểu Giáo Hội sống là sống cho Đức Kitô.
Điểm thứ ba, Giáo Hội sống cho Đức Kitô là Giáo Hội sống sự hợp nhất và hiệp thông. Sự hợp nhất không chỉ được hiểu ở cấp độ của cơ cấu tổ chức, nhưng là sự hiệp thông với Đức Kitô và với nhau một cách trọn vẹn trong việc cử hành hy tế của Người. Hiến chế Lumen gentium xác định: “Bí Tích Thánh Thể biểu thị và thực hiện sự hiệp nhất các tín hữu là những kẻ hợp thành một thân thể trong Chúa Kitô” (số 3). Quả thực, thánh Phaolô cho biết: “Bởi vì chỉ có một tấm Bánh, và tất cả chúng ta chia sẻ cùng một Bánh ấy, nên tuy nhiều người, chúng ta chỉ là một thân thể” (x. 1Cor 10, 17). Điều làm chúng ta trở nên một là vì chúng ta cùng chia sẻ một tấm Bánh. Chính tấm Bánh làm chúng ta trở nên hợp nhất và hiệp thông với nhau. Nói cách khác, chỉ qua việc tham dự vào việc bẻ Bánh chúng ta mới có thể thực sự hiểu ý nghĩa đích thực của sự hợp nhất và hiệp thông và chúng ta cũng chỉ có thể học biết sống sự hợp nhất và hiệp thông như thế nào: nơi đó chính Thiên Chúa là nguồn của sự hợp nhất và hiệp thông của chúng ta.
Giáo Hội sống cho Nước Trời
Nước Trời hay Nước Thiên Chúa là gì?
Trong lịch sử của Giáo Hội nhiều người vẫn nhầm lẫn Nước Thiên Chúa với vương triều của thực tại trần thế. Cuốn sách « Thành đô Thiên Chúa » của thánh Augustinô là một ví dụ điển hình nói cho chúng ta về sự hiểu lầm này. Nhiều Kitô Hữu xem thành Rôma là vương quốc của Thiên Chúa, « Thành đô vĩnh cửu » và vì thế trái tim của họ tan vỡ khi nó bị những người man di Alaric phá hủy vào năm 410. Từ sự kiện này thánh Augustinô xây dựng tác phẩm thần học đồ sộ của mình: « Thành đô Thiên Chúa » trong đó thánh nhân phân biệt thành đô trần thế với thành đô thiên quốc. Thánh Augustinô viết: « Hai tình yêu làm nên hai thành đô: tình yêu vị kỷ đến nỗi khinh thị Thiên Chúa, đó là thành đô trần thế; tình yêu dành cho Thiên Chúa đến nổi tự hủy chính mình, đó là thành đô thiên quốc. Tình yêu thứ nhất tự tôn vinh trong chính mình và tình yêu thứ hai vinh danh trong Thiên Chúa »[3].
Đọc Tin Mừng nhất lãm chúng ta thấy: Nước Thiên Chúa là mối quan tâm chính yếu của Chúa Giêsu, là trung tâm của việc rao giảng của Người. Khởi đầu Tin Mừng, thánh Mác-cô viết: « Đức Giêsu đến miền Ga-li-lê rao giảng Tin Mừng của Thiên Chúa. Người nói: « Thời kỳ đã mãn, và Triều Đại Thiên Chúa đã đến gần. Anh em hãy sám hối và tin vào Tin Mừng » (Mc 1,14-15).
Cũng trong Tin Mừng nhất lãm, Chúa Giêsu nói về nhiều cách khác nhau của Nước Trời, nhất là trong các dụ ngôn: « Chuyện Nước Thiên Chúa thì cũng tựa như chuyện một người vãi giống xuống đất » (Mc 4, 26) hay: « Chúng ta ví Nước Thiên Chúa với cái gì đây ? Lấy dụ ngôn nào mà hình dung được ? » (Mc 4, 30). Chúa Giêsu thường nói về Nước Trời, nhưng bằng những dụ ngôn, bằng những phép ẩn dụ, những hình ảnh. Chúa Giêsu không bao giờ định nghĩa nó là gì. Đó cũng là lý do khó khăn để chúng ta có thể làm một bản tổng luận về Nước Trời. Như vậy, đâu là ý nghĩa của Nước Thiên Chúa ?
Nếu như Chúa Giêsu không đưa ra cho chúng ta bất cứ một định nghĩa nào về Nước Trời, Nước này cũng được bộc lộ qua chính đời sống và sứ mạng của Người. Nước Trời là một thực tại khó hiểu nhưng con người có thể khám phá ra nó khi sống theo bước chân của Đức Giêsu ngày mỗi ngày, và đặt niềm tin vào lời của Người. Bước theo Đức Giêsu Kitô là đồng hành với Người: khởi đi từ sứ mạng công khai, khiêm tốn nhập hàng giữa những người tội lỗi, công bố Triều Đại Thiên Chúa trong sự khiêm tốn, chấp nhận sự khinh rẽ của người đời. Nói tóm lại, Nước Trời là Đức Giêsu Kitô hay Đức Giêsu Kitô là hiện thân của Nước Trời qua đời sống, sứ mạng, cái chết và sự phục sinh của Người.
Riêng đối với thánh Phaolô, dù không xây dựng một tổng luận về Nước Trời, thánh nhân đã soi dẫn cho chúng ta một số điểm trong các lá thơ mục vụ của ngài về Nước Trời. Chúng ta có thể đơn cử một ví dụ: « Nước Thiên Chúa không phải là chuyện ăn chuyện uống, nhưng là sự công chính, bình an và hoan lạc trong Thánh Thần » (Rm 14, 17). Đây gần như là câu định nghĩa đẹp nhất về Triều Đại Thiên Chúa. Nước Thiên Chúa là sự công chính, bình an và hoan lạc trong Thánh Thần.
Giáo Hội sống cho Nước Trời là sống giữa hai lần đến của Đức Kitô: “đã đến” và “chưa đến”.
“Đã đến”:
Giáo Hội xác tín ơn cứu độ của thế giới đã được lĩnh hội trong Đức Giêsu Kitô. Các Kitô Hữu không thất vọng về tương lai cũng không chờ đợi một tương lai khác ngoài Đức Kitô. Họ tin tưởng rằng những cánh cửa của sự sống đã thực sự được mở cho họ một lần toàn vẹn trong lễ Phục Sinh. Bởi lẽ, qua cái chết và sự phục sinh của Đức Kitô, Thiên Chúa đã tiêu diệt sự chết.
Nhưng cái “đã đến” đồng thời là cái “chưa đến”:
Ơn cứu độ thực sự được lĩnh hội đã không biến đổi gương mặt của thế giới và cuộc sống cá nhân của chúng ta một cách thần diệu, cũng không kết thúc lịch sử. Lịch sử vẫn tiếp tục, bởi lẽ, cho dù đã thật sự được lĩnh hội, ơn cứu độ chưa thiết lập tình trạng cuối cùng của tất cả mọi sự. Từ khía cạnh này, xây dựng thế giới chúng ta đang sống là xây dựng Nước Trời. Nước Thiên Chúa là “sự công chính, bình an và hoan lạc trong Chúa Thánh Thần”. “Phúc cho ai xây dựng hòa bình”!
Nước Thiên Chúa chưa thật sự đến, vì chúng ta còn phải chờ lần trở lại thứ hai của Đức Giêsu Kitô, cuối cùng của lịch sử. Sự trở lại được loan báo trong Tân Ước, được gọi là “Parousie” (Quang lâm), tiếng hy lạp có nghĩa “tới” và “hiện diện”. Trong lúc cử hành bí tích Thánh Thể Giáo Hội công bố bằng những lời mà Giáo Hội gọi là “mầu nhiệm đức tin”: “Chúng con nhớ lại việc Chúa chết; chúng con cử hành việc Chúa sống lại và chúng con mong đợi Ngài lại đến trong vinh quang”. Hy vọng Kitô Giáo là Thiên Chúa hoàn toàn “đặt mọi thế lực thù địch dưới chân Ngài” và một viễn cảnh “trời mới đất mới” vĩnh viễn: cái chết, sự hận thù… không còn chổ đứng trong cuộc sống của con người mới.
Quả thực, chúng ta không biết thời gian hoàn tất của trái đất này, nhưng chúng ta biết Thiên Chúa dọn sẵn một nơi trời mới đất mới nơi đó công lý ngự trị (2Cr 5, 2), hạnh phúc và ước vọng hòa bình được đắp đầy (1Cor 2, 9); nơi đó sự chết bị đánh bại (1Cor 15, 42), con người được giải thoát khỏi ách nô lệ (Rm 8, 19-21).
Đối với người Kitô Hữu, sự trông đợi trời mới đất mới không làm suy giảm tính hiện tại và trách nhiệm xây dựng thế giới này, trái lại nó còn tạo thêm những động lực mới giúp họ hoàn tất những bổn phận ấy. Nhiều người lầm tưởng rằng niềm tin Kitô Giáo, sự hướng về những giá trị siêu việt làm con người lãng quên những thực tại trần thế. Tuy nhiên, chỉ có những thực tại siêu việt mới có thể soi chiếu ý nghĩa của những thực tại trần thế[4]. Nếu không phải vì một tương lai lâu bền hơn mà con người không ngừng nổ lực làm việc và phấn đấu cho đến cùng?
Kết: Giáo Hội sống cho Đức Kitô và cho Nước Trời. Khằng định này mời gọi chúng ta trở về nguồn: Giáo Hội sống trong Đức Giêsu Kitô và cho Tin Mừng. Chiều kích nền tảng này cho phép chúng ta hiểu Giáo Hội như thực tại thiêng liêng và hữu hình hay mầu nhiệm, hiệp thông và sứ vụ. Căn tính này làm nên sự khác biệt giữa Giáo Hội với tất cả mọi tổ chức xã hội và chính trị khác. Và như vậy, tiếng nói của Giáo Hội cũng là tiếng nói khác khi Giáo Hội cần phải lên tiếng đối với những vấn đề xã hội.
Lm Phêrô Trần Văn Khuê
--------------------------------------------------------------------------------
[1] ĐC Phêrô Nguyễn Văn Khảm, Quan điểm Công Giáo về trách nhiệm của Giáo Hội trước các vấn đề xã hội (http://vietcatholic.net/News/Clients/ReadArticle.aspx?ID=64363).
[2] ĐC Phaolô Bùi Văn Đọc, Phương hướng đối thoại và hợp tác của Giáo Hội tại Việt Nam với Nhà nước theo tinh thần của Đức Thánh Cha Bênêđíctô XVI trong Huấn từ cho các Giám Mục Việt Nam nhân chuyến viếng thăm Ad Limina (http://hdgmvietnam.org/News.aspx?Type=8&Act=Detail&ID=1115&CateID=63).
[3] Trích từ Initiation à Saint Augustin (Marcel Neusch), nxb Cerf, 2003, tr. 139.
[4] Chúng ta có thể đọc thông điệp Caritas in veritate của ĐTC Bênêđictô XVI.