TIN VÀ SỐNG 2
(Tiếp theo)
II. SỐNG
Khi chúng ta nhận lãnh bí tích Rửa Tội, mọi người trong chúng ta đều ước ao
sống và quyết tâm sao cho được lên Thiên đàng. Để giúp chúng ta đạt được điều đó, Thiên Chúa mời chúng ta sống Nên Thánh bằng vác Thánh Giá theo chân Đức Kitô, tức hoàn thành bổn phận của mình trong hoàn cảnh mình sống.
1. Sống nơi trần thế.
Rất ít Kitô hữu, ngay sau khi nhận bí tích Rửa Tội, trong tình trạng đầy Ơn nghĩa Chúa, có diễm phúc được Thiên Chúa gọi ra khỏi thế gian. Đại đa số chúng ta tiếp tục con đường lữ thứ trần gian. Để giúp đỡ, Thiên Chúa đã thiết lập các phương cách mà chúng ta có tự do tìm kiếm để dùng cho mình:
A. Các Bí tích (bảy) do chính Chúa Giêsu đã lập cho chúng ta, nhất là Thánh Thể để đón nhận Đức Kitô hầu nuôi duỡng phần hồn chúng ta và Thống Hối (hay Giải Tội) để chúng ta hòa giải với Thiên Chúa khi phạm tội. Thêm vào đó, còn có các Á bí tích do Giáo Hội thiết lập giúp chúng ta chuẩn bị tâm hồn để lãnh nhận Bí tích hoặc chúng nối dài hiệu quả của Bí tích.
B. Thánh Kinh:
Các nghị phụ tham dự Công Đồng Vaticanô II đã dành chương cuối của Hiến Chế về Mặc Khải để nói về tầm quan trọng của Kinh Thánh trong đời sống Giáo Hội và đời sống của từng Kitô hữu.
Công Đồng muốn Lời Chúa được trao gửi đến mọi Kitô hữu thuộc mọi thời đại, mọi ngôn ngữ. Đây là một điều mới mẻ, vì từ nhiều thế kỷ trước, người ta có khuynh hướng không khuyến khích việc dùng Kinh Thánh bằng tiếng bản xứ, và muốn dành riêng cuốn Kinh Thánh cho những nhà thần học.
Dùng một hình ảnh mạnh mẽ và sâu sắc, Công Đồng khẳng định việc dân Chúa được dưỡng nuôi bằng bánh ban sự sống từ trên bàn tiệc Lời Chúa và bàn tiệc Mình Chúa Kitô. Như thế, Lời Chúa thật là lương thực hàng ngày cho Kitô hữu, song song với việc họ được nuôi dưỡng bằng bàn tiệc Thánh Thể.
Người tín hữu Chúa Giêsu được khuyến khích đọc Lời Chúa thường xuyên. Khi nghe đọc Lời Chúa trong phụng vụ thì Đức Kitô ‘hiện diện trong Lời của Người, vì chính Người nói khi ta đọc Kinh Thánh trong Giáo Hội’. Vậy khi Giáo Hội đọc Kinh Thánh, thì lúc đó Thiên Chúa nói với Dân Người và Đức Kitô loan báo Tin Mừng cho Giáo Hội.
Tuy nhiên, Công Đồng còn khuyến khích tín hữu đọc Kinh Thánh một cách riêng tư. Đây là một hướng mới của lòng đạo đức Kitô giáo. Việc đọc Kinh Thánh có một vị trí trổi vượt trong số các việc đạo đức.
Thánh Kinh gồm:
- Cựu Ước giúp Ki-tô hữu cảm thức sâu sắc về Thiên Chúa, tàng trữ những lời giáo huấn cao siêu về Người, những tư tưởng khôn ngoan về đời sống chúng ta, những kho tàng kinh nghiệm tuyệt diệu, và sau cùng, ẩn chứa mầu nhiệm cứu rỗi chúng ta.
- Tân Ước được khởi đầu với bốn sách Phúc Âm (còn gọi là sách Tin Mừng) viết bởi các Thánh sử Matthêu, Máccô, Luca và Gioan. Đây là những chứng từ tuyệt vời về cuộc đời và lời giáo huấn của Ngôi Lời nhập thể, Đấng Cứu Độ chúng ta. Các sách này là những chứng từ thành văn của các Tông Đồ hay của những vị đã sống bên các Tông Đồ ghi chép lại do ơn linh hứng của Thánh Thần. Nó có lịch sử tính nhưng lại không phải là một bài phóng sự hay tường thuật tại chỗ những gì đang xảy ra.
Trong Thánh Lễ, cùng với vị Giáo sĩ công bố Tin Mừng Đức Kitô, chúng ta đứng và làm dấu Thánh giá 3 lần: trên trán (xin Chúa mở trí khôn để hiểu nhớ Lời Chúa), trên môi miệng (xin Chúa cho biết loan truyền Lời Chúa) và trên ngực trái, nơi trái tim (xin Chúa cho biết yêu Lời Chúa).
Kế tiếp là sách Công Vụ Tông Đồ kể lại thời gian khởi đầu của Giáo Hội và công cuộc loan báo Tin Mừng cho các dân tộc.
Rồi đến 21 lá thư, đa số của Thánh Phaolô, số còn lại của các vị Tông Đồ khác, được gửi đến cho những cá nhân hay các Giáo đoàn, phát xuất từ những hoàn cảnh cụ thể, nhằm đáp ứng những nhu cầu cụ thể như cũng cố niềm tin, khích lệ trong cơn bách hại, xác định những điểm giáo lý, uốn nắn những lệch lạc, ngăn ngừa những sai lầm...
Sách cuối cùng trong bộ Tân Ước là sách Khải Huyền.
Thiên Chúa là Đấng linh hướng và là tác giả các sách Cựu Ước cũng như Tân Ước, đã khôn ngoan sắp xếp cho Tân Ước được tiềm ẩn trong Cựu Ước, và Cựu Ước trở nên sáng tỏ trong Tân Ước. Thực vậy, dù Đức Ki-tô thiết lập giao ước mới bằng máu Người (x. Lc 22,20; 1Cr 11,25) nhưng các sách Cựu Ước vẫn được sử dụng trọn vẹn trong sứ điệp Tin Mừng, đạt được và bày tỏ đầy đủ ý nghĩa trong Tân Ước (x. Mt 5,17; Lc 24,27; Rm 16,25-26; 2Cr 3,14-16). Ngược lại Tân Ước cũng được sáng tỏ và giải thích nhờ Cựu Ước.
C. Sách Giáo Lý Công giáo.
Sách Giáo Lý Hội Thánh Công Giáo, theo yêu cầu Khoá họp bất thường Thượng Hội đồng Giám mục kỷ niệm 20 ngày bế mạc Công đồng Vaticanô II, đã được công bố năm 1992 do Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II.
Tháng 10.2002, các tham dự viên của Hội nghị Quốc tế về Giáo lý đã ước mong Giáo hội phổ biến một bản Toát yếu sách giáo lý. Tháng 02.2003, Đức Gioan Phaolô II đã quyết định bắt đầu thực hiện và ủy thác việc soạn thảo cho một Uỷ ban Hồng y, do Đức Hồng Y Giuse Ratzinger làm chủ tịch. Bản Toát yếu đã hoàn thành và được Đức Thánh Cha Biển Đức 16 ban hành ngày 28.06.2005. Khi ký ban hành, Đức Thánh Cha nói:
« Với sự tin tưởng, tôi trao bản Toát yếu này trước tiên cho toàn Hội thánh và đặc biệt cho từng người Kitô hữu, để vào thiên niên kỷ thứ ba này, mỗi người nhờ vào bản Toát yếu, có được một sức bật mới trong cố gắng Phúc Âm hoá và giáo dục Ðức Tin. Đây phải là đặc điểm của tất cả các cộng đoàn trong Hội thánh và của tất cả những ai tin vào Đức Kitô, bất luận tuổi tác hay thuộc quốc gia nào.
Nhờ tính chất ngắn gọn, trong sáng và đầy đủ, bản Toát yếu này cũng nhắm đến mọi người, đang sống trong một thế giới phân tán và có quá nhiều sứ điệp, khao khát biết được con Đường Sự sống, Chân lý, đã được Thiên Chúa trao phó cho Hội thánh của Con mình. »
2. Sống đạo trong cộng đoàn.
Chúng ta cũng cần sống đạo đồng hành với cộng đoàn để cùng nhau trao đổi kinh nghiệm sống Đức Tin, chia sẽ những khó khăn, nâng đở nhau trên đường đời.
Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã nhấn mạnh ơn gọi của giáo xứ là biểu hiện sự gần gũi của Giáo hội.
« Giáo xứ như Giáo hội, tự mình sống giữa con cái nam nữ của mình. »
« Nếu Giáo xứ xen vào giữa những căn nhà của tha nhân, giáo xứ sống và tác động trong lòng xã hội loài người và liên đới thâm sâu với các ước vọng và thảm kịch của nó… Giáo xứ phải là căn nhà mở rộng đón tiếp mọi người, hay như Đức Gioan XXIII thường nói là ‘giếng nước của thôn xóm’ để mọi người đến giải khát. » (Ơn gọi và Sứ mệnh của người giáo dân, số 26 và 27).
Việc sống đạo nhiều khi đúng là một cuộc vác Thánh Giá theo chân Chúa Giêsu như chính chúng ta đã gặp phải. Xin mời trở lại trường hợp ‘Chuyện nguyên Bí Thư Đảng ủy, chủ tịch xã đi tìm Chúa’.
« Cách giữ đạo của ông và anh em ông đã được mọi người trong bản nhìn nhận: giữ đạo đã làm cho họ sống tốt hơn, con số các gia đình theo đạo ngày càng tăng lên. Rồi cả xóm vì họ thấy theo đạo thì sinh hoạt vui vẻ, tính cộng đồng cao, yêu thương nhau hơn, nhất là không còn phải thờ con ma… Từ những hoàn cảnh, lòng tin đơn sơ như vậy, Thiên Chúa đã đến với họ và họ đáp lại lời mời gọi bằng tất cả tấm lòng, không cần bất cứ sự lý luận uyên bác, không cần thứ gì cao siêu. Với mấy bản xung quanh, con số người theo đạo đã là 700 người.
Sau khi họ hết khổ vì con ma, công an cộng sản bắt đầu mang thập giá cho họ. Mỗi lần cán bộ, công an về thì nó “xử lý”, nó phạt bằng bắt của tao con chó, con lợn. Hết chó, lợn thì nó “xử lý” bằng tiền, từ năm chục đến một trăm nghìn, mỗi tháng nó về ba bốn lần, đã mất hết mấy triệu đồng… Lý do “xử lý”?
Cán bộ Ủy ban nhân dân xã nói: “Đi theo đạo Giêsu thì phải đứng giang tay như Giêsu cả ngày, không được bỏ xuống”. Độc hơn, khi nhiều người dân theo đạo, chính quyền ra tay bằng nhiều biện pháp mạnh, nhẹ có cả. Bắt đầu là ngăn cấm, khuyên giải… nhưng với người dân tộc thiểu số, khi họ đã tin, thì khó mà bóc gỡ được niềm tin trong họ.
Năm 2002, chính quyền bắt tập trung các gia đình theo đạo lên trụ sở ủy ban rồi cho người tháo tất cả bàn thờ của các gia đình tập trung đốt hết và tất cả được lệnh phải về làm ma, cúng ma như cũ. “Nhưng đốt bàn thờ này, thì tao làm lại bàn thờ khác – cụ nói – bà con vẫn không bỏ đạo”. Như vậy, từ đó, bà con không được hưởng các chính sách ưu đãi vùng 3 là vùng sâu vùng xa theo chính sách hỗ trợ của nhà nước vì theo đạo Giêsu là không có ông bà, không có gia đình bố me, tức không làm ma như hủ tục cũ, nên không được trợ cấp như những người có cúng con ma.” » …
3. Sống đạo nơi xã hội.
Người tín hữu Đức Kitô không giữ Đạo cho mình mà có bổn phận giúp người thân cận biết Đạo Thánh Chúa theo Phúc âm Thánh Maccô (6: 7-9): « Người Đức Giêsu) gọi Nhóm Mười Hai lại và bắt đầu sai đi từng hai người một. Người ban cho các ông quyền trừ quỷ. Người chỉ thị cho các ông không được mang gì đi đường, chỉ trừ cây gậy; không được mang lương thực, bao bị, tiền giắt lưng; được đi dép, nhưng không được mặc hai áo. »
(Trong đó, cây gậy tượng trưng cho Đức Tin và mặc hai áo tức theo hai chủ. Vị nguyên Bí Thư Đảng ủy, chủ tịch xã đi tìm Chúa nói trên đã thực thi như: ông có một Đức Tin vào Đức Kitô mà thôi, chứ không theo vừa Chúa vừa ma.)
Trong thế hệ chúng ta hiện nay, việc giới thiệu Chúa cho đồng bào bằng những lời giảng hay không đủ mà cần phải kèm với đôi ba hành động đi kèm.
Ngày 08.12.2008, Lễ Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội, Bổn Mạng chính của Dòng Chúa Cứu Thế, người cộng sản Hà nội đã định phiên xử tám giáo dân vô tội phải ra tòa phải diễn ra tại Uỷ ban Nhân dân phường Ô Chợ Dừa.
Lần đầu tiên một cuộc diễn hành ‘long trọng’ trên đường phố thủ đô mà công an võ trang hùng hậu không đàn áp và bắt bớ.
Giáo sĩ và giáo dân Thái Hà đã biết ‘ca tụng vinh quang Thiên Chúa và đã đặt niềm hy vọng nơi Đức Kitô’. Các bị cáo vô tội đã hiên ngang ra tòa với đầy lòng tin tưởng nơi Chúa giúp mình can đảm và tự do nói Sự Thật: Thừa nhận có đập bức tường của kẻ khác xây trên đất Giáo xứ Thái Hà và quả quyết mình vô tội.
Các Linh mục Dòng Chúa Cứu Thế đã tổ chức một cách thật trật tự, kỷ luật và vui vẽ khiến nhà cầm quyền phải thận trọng, e dè. Các biểu ngữ viết bằng tay trên giấy cứng ‘mẹ tôi vô tội’, ‘chồng tôi vô tội’, ‘chúng tôi yêu mến anh chị em’, ‘phúc thay anh em khi vì danh Thầy mà bị người ta bắt bớ, xét xử’, ‘chúng tôi đồng trách nhiệm’, ‘chớ gì anh chị em được xét xử công bằng’, v.v..: ý nghĩa nhẹ nhàng nhưng thật thuyết phục. Các mục tử trong chiếc áo dòng đen luôn bên cạnh giáo dân trong bất cứ trạng huống nào. Họ rất bình tĩnh và tự tin như chuyện vui bên lề... đường như Cha Lê Quang Uy thuật: buổi trưa, Cha mệt quá, ngồi trên thảm cỏ nhắm mắt thiếp vào giấc ngủ, mấy giáo dân tinh nghịch lén đặt một tấm biểu ngữ trước mặt tôi rồi chụp hình, biểu ngữ ấy ghi hàng chữ to... ‘Vợ Tôi Vô Tội’ !
Tiền nhân người Việt đã chúng ta dạy: ‘Đoàn kết gây nên Sức mạnh’!. Ðiều đó dứt khoát không thể sai trong mọi trường hợp.
Sau phần cáo trạng dối láo trơ trẽn đến mức khôi hài, các giáo dân đã trả lời rất thẳng thắn:
Thẩm phán hỏi: ‘Mục đích đến Thái Hà cầu nguyện để làm gì? Chị Nhi nói: ‘Chúng em đánh nhau không biết đánh nhau, chửi không biết chửi, chúng em chỉ biết cầu nguyện để đòi công bằng cho Giáo hội’. Ông Kiện nói: ‘Cầu nguyện để xin Thiên Chúa soi sáng cho các cấp chính quyền sáng suốt giải quyết trả lại đất cho nhà thờ. Cầu nguyện để chính quyền giải quyết cho dễ chứ để mọc lên mấy cái biệt thự thì khó giải quyết!’. Anh Hùng nói: ‘Mục đích ra cầu nguyện là để chính quyền giải quyết trả lại đất cho nhà thờ’. Toà hỏi anh thêm: ‘Đất đã là đất nhà thờ sao còn phải đòi?’- Anh trả lời: ‘Vì người ta lấn chiếm nên phải đòi’. Các giáo dân khác cũng trả lời tương tự như vậy.
Thẩm phán hỏi: ‘Ai giao nhiệm vụ cho bị cáo? Do đâu mà bị cáo lại đến cầu nguyện? Có phải Giáo xứ Thái Hà kêu gọi không?’ Các giáo dân đều nói không ai giao nhiệm vụ, không ai kêu gọi mà do chính mình tự nguyện tham gia. Chị Nhi còn nói: ‘Do tâm linh và tâm nguyện’, ‘Do ti vi đài báo đưa tin và tôi muốn đến để tìm hiểu sự thật. Người công giáo phải có trách nhiệm tìm hiểu và bảo vệ danh dự và tài sản của Giáo Hội’.
Thẩm phán hỏi: ‘Đập tường để làm gì và bị cáo có nhận thức hành vi bị cáo đập bức tường không phải của mình là sai không?’ Các giáo dân đều trả lời là ‘đập tường để mở lối vào cầu nguyện trong khu đất’, ‘đập tường không sai’. Anh Hải nói: ‘Mở lối đi là đúng. Cháu biết đấy là đất nhà thờ cho nên không vi phạm pháp luật’. Ông Năng nói: ‘Tôi không có gì đáng ân hận khi đập tường. Tôi biết bức tường ấy và tôi xây 500 nghìn đồng còn được bức tường đẹp hơn’. Bà Hợi nói: ‘Đập tường thì tôi có đập nhưng vi phạm pháp luật thì không’. Toà hỏi: ‘Nhưng đập tường của người khác xây dựng mà lại bảo không sai thì là sao?!’ Bà trả lời: ‘Nếu tôi xây bức tường trên đất của người ta mà người ta đập phá đi thì tôi cũng chẳng làm gì được!”
Thật đúng như lời đáp Thánh vịnh 97 trong Thánh Lễ hôm đó: « Hãy ca tụng Chúa một bài ca mới, vì Người đã làm nên những điều huyền diệu. »
Những chứng nhân sống đạo Kitô hữu này làm nhiều đồng bào bên lương lưu ý về sự trật tự và hân hoan hát ‘Kinh Hòa bình’ nghiêm trang trong y phục lễ hội đi hầu cái ‘tòa án nhân dân’. Trong số những người đó có Chị Tạ phong Tần, cựu đảng viên đảng cộng sản, cựu Đại úy công an cơ quan điều tra Bạc liêu, hiện diện tại phiên tòa với tư cách trợ tá luật sư biện hộ tám giáo dân Thái Hà, đã nhận bí tích Rửa Tội tại Nhà thờ Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp Sài-gòn ngày 16.06.2009.
4. Tham gia công tác bác ái.
Trước ngày 30.04.1975, tại Việt-Nam Cộng hòa, dù trong tình trạng chiến tranh, giới nghiêm liên miên, thanh niên và sinh viên chúng ta đã được họp thành các hiệp hội, các hội đoàn Công giáo tiến hành (Phong trào Công giáo Đại học Việt-Nam, Hiệp hội Thánh Mẫu Sinh viên Việt-Nam, những Đoàn Sinh viên Công giáo các Phân khoa…) vừa để giúp nhau sống đạo trong môi trường học hành chuyên môn của mình vừa để cùng nhau làm công tác xã hội.
Hiệp-hội Thánh Mẫu Sinh viên rất chú trọng những hoạt động xã hội và, có thể nói nhờ đó, Hiệp-hội đã thu hút rất nhiều bạn hữu gia nhập, hăng say hoạt động để xoa dịu phần nào những đau khổ của đồng loại:
- Tổ chức Cây Sinh nhật, Cây Mùa Xuân cho trẻ em nghèo và các cô nhi.
- Điều hành Chẩn y viện và tham gia các chiến dịch vệ sinh, y tế…
- Và mọi công tác xã hội khác tùy theo phương tiện mà Hiệp-hội thu hoạch được.
Ngân sách hàng năm của Hiệp-hội Thánh Mẫu Sinh viên lên đến gần 2 triệu đồng (để so sánh, tô phở lúc đó từ 10 đến 12 đồng), phần lớn do thu từ buổi chiếu phim tại Các buổi chiếu phim luôn được đặt dưới sự đồng chủ tọa của Đức cha Angelos Palmas, Khâm sứ Tòa Thánh tại Việt-Nam (vị đại diện Ðức Thánh Cha, người Cha thân mến của sinh viên Công giáo Việt-Nam lúc đó), Đức cha Phaolô Nguyễn văn Bình, Tổng Giám mục Giáo phận Sài-gòn (vị Mục tử thương kính của chúng ta) và Luật sư Nguyễn văn Huyền, Chủ tịch Thượng nghị viện (người Anh đầy kinh nghiệm về Công giáo tiến hành). Mỗi Vị ký Sổ Vàng và ‘lì xì’ 10.000 đồng.
Tuy nhiên, trong Thông điệp ‘Thiên Chúa là Tình Yêu’ ngày 25.01.2006, Đức Thánh Cha Biển Đức XVI có nhắc chúng ta: « Hoạt động bác ái Kitô giáo cần phải độc lập đối với mọi đảng phái và ý thức hệ. Chương trình của Kitô hữu, giống như của người Samaritanô nhân hậu hay của Chúa Giêsu, là ‘một tấm lòng biết nhìn thấy’. Tấm lòng ấy biết nhìn thấy nơi mà người ta cần đến tình yêu và sẵn sàng đáp ứng. Ngoài ra, hoạt động bác ái Kitô giáo không được trở thành một phương tiện cho cái mà ngày nay người ta gọi là ‘dụ dỗ vào đạo’. Không phải dùng tình yêu để đạt đến một mục đích nào đó, nhưng cũng không có nghĩa là hoạt động bác ái phải gạt Thiên Chúa ra ngoài. Người Kitô hữu nên biết lúc nào thuận tiện để nói về Chúa và hãy để Tình yêu lên tiếng mà thôi. »
(Tiếp theo)
II. SỐNG
Khi chúng ta nhận lãnh bí tích Rửa Tội, mọi người trong chúng ta đều ước ao
sống và quyết tâm sao cho được lên Thiên đàng. Để giúp chúng ta đạt được điều đó, Thiên Chúa mời chúng ta sống Nên Thánh bằng vác Thánh Giá theo chân Đức Kitô, tức hoàn thành bổn phận của mình trong hoàn cảnh mình sống.
1. Sống nơi trần thế.
Rất ít Kitô hữu, ngay sau khi nhận bí tích Rửa Tội, trong tình trạng đầy Ơn nghĩa Chúa, có diễm phúc được Thiên Chúa gọi ra khỏi thế gian. Đại đa số chúng ta tiếp tục con đường lữ thứ trần gian. Để giúp đỡ, Thiên Chúa đã thiết lập các phương cách mà chúng ta có tự do tìm kiếm để dùng cho mình:
A. Các Bí tích (bảy) do chính Chúa Giêsu đã lập cho chúng ta, nhất là Thánh Thể để đón nhận Đức Kitô hầu nuôi duỡng phần hồn chúng ta và Thống Hối (hay Giải Tội) để chúng ta hòa giải với Thiên Chúa khi phạm tội. Thêm vào đó, còn có các Á bí tích do Giáo Hội thiết lập giúp chúng ta chuẩn bị tâm hồn để lãnh nhận Bí tích hoặc chúng nối dài hiệu quả của Bí tích.
B. Thánh Kinh:
Các nghị phụ tham dự Công Đồng Vaticanô II đã dành chương cuối của Hiến Chế về Mặc Khải để nói về tầm quan trọng của Kinh Thánh trong đời sống Giáo Hội và đời sống của từng Kitô hữu.
Công Đồng muốn Lời Chúa được trao gửi đến mọi Kitô hữu thuộc mọi thời đại, mọi ngôn ngữ. Đây là một điều mới mẻ, vì từ nhiều thế kỷ trước, người ta có khuynh hướng không khuyến khích việc dùng Kinh Thánh bằng tiếng bản xứ, và muốn dành riêng cuốn Kinh Thánh cho những nhà thần học.
Dùng một hình ảnh mạnh mẽ và sâu sắc, Công Đồng khẳng định việc dân Chúa được dưỡng nuôi bằng bánh ban sự sống từ trên bàn tiệc Lời Chúa và bàn tiệc Mình Chúa Kitô. Như thế, Lời Chúa thật là lương thực hàng ngày cho Kitô hữu, song song với việc họ được nuôi dưỡng bằng bàn tiệc Thánh Thể.
Người tín hữu Chúa Giêsu được khuyến khích đọc Lời Chúa thường xuyên. Khi nghe đọc Lời Chúa trong phụng vụ thì Đức Kitô ‘hiện diện trong Lời của Người, vì chính Người nói khi ta đọc Kinh Thánh trong Giáo Hội’. Vậy khi Giáo Hội đọc Kinh Thánh, thì lúc đó Thiên Chúa nói với Dân Người và Đức Kitô loan báo Tin Mừng cho Giáo Hội.
Tuy nhiên, Công Đồng còn khuyến khích tín hữu đọc Kinh Thánh một cách riêng tư. Đây là một hướng mới của lòng đạo đức Kitô giáo. Việc đọc Kinh Thánh có một vị trí trổi vượt trong số các việc đạo đức.
Thánh Kinh gồm:
- Cựu Ước giúp Ki-tô hữu cảm thức sâu sắc về Thiên Chúa, tàng trữ những lời giáo huấn cao siêu về Người, những tư tưởng khôn ngoan về đời sống chúng ta, những kho tàng kinh nghiệm tuyệt diệu, và sau cùng, ẩn chứa mầu nhiệm cứu rỗi chúng ta.
- Tân Ước được khởi đầu với bốn sách Phúc Âm (còn gọi là sách Tin Mừng) viết bởi các Thánh sử Matthêu, Máccô, Luca và Gioan. Đây là những chứng từ tuyệt vời về cuộc đời và lời giáo huấn của Ngôi Lời nhập thể, Đấng Cứu Độ chúng ta. Các sách này là những chứng từ thành văn của các Tông Đồ hay của những vị đã sống bên các Tông Đồ ghi chép lại do ơn linh hứng của Thánh Thần. Nó có lịch sử tính nhưng lại không phải là một bài phóng sự hay tường thuật tại chỗ những gì đang xảy ra.
Trong Thánh Lễ, cùng với vị Giáo sĩ công bố Tin Mừng Đức Kitô, chúng ta đứng và làm dấu Thánh giá 3 lần: trên trán (xin Chúa mở trí khôn để hiểu nhớ Lời Chúa), trên môi miệng (xin Chúa cho biết loan truyền Lời Chúa) và trên ngực trái, nơi trái tim (xin Chúa cho biết yêu Lời Chúa).
Kế tiếp là sách Công Vụ Tông Đồ kể lại thời gian khởi đầu của Giáo Hội và công cuộc loan báo Tin Mừng cho các dân tộc.
Rồi đến 21 lá thư, đa số của Thánh Phaolô, số còn lại của các vị Tông Đồ khác, được gửi đến cho những cá nhân hay các Giáo đoàn, phát xuất từ những hoàn cảnh cụ thể, nhằm đáp ứng những nhu cầu cụ thể như cũng cố niềm tin, khích lệ trong cơn bách hại, xác định những điểm giáo lý, uốn nắn những lệch lạc, ngăn ngừa những sai lầm...
Sách cuối cùng trong bộ Tân Ước là sách Khải Huyền.
Thiên Chúa là Đấng linh hướng và là tác giả các sách Cựu Ước cũng như Tân Ước, đã khôn ngoan sắp xếp cho Tân Ước được tiềm ẩn trong Cựu Ước, và Cựu Ước trở nên sáng tỏ trong Tân Ước. Thực vậy, dù Đức Ki-tô thiết lập giao ước mới bằng máu Người (x. Lc 22,20; 1Cr 11,25) nhưng các sách Cựu Ước vẫn được sử dụng trọn vẹn trong sứ điệp Tin Mừng, đạt được và bày tỏ đầy đủ ý nghĩa trong Tân Ước (x. Mt 5,17; Lc 24,27; Rm 16,25-26; 2Cr 3,14-16). Ngược lại Tân Ước cũng được sáng tỏ và giải thích nhờ Cựu Ước.
C. Sách Giáo Lý Công giáo.
Sách Giáo Lý Hội Thánh Công Giáo, theo yêu cầu Khoá họp bất thường Thượng Hội đồng Giám mục kỷ niệm 20 ngày bế mạc Công đồng Vaticanô II, đã được công bố năm 1992 do Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II.
Tháng 10.2002, các tham dự viên của Hội nghị Quốc tế về Giáo lý đã ước mong Giáo hội phổ biến một bản Toát yếu sách giáo lý. Tháng 02.2003, Đức Gioan Phaolô II đã quyết định bắt đầu thực hiện và ủy thác việc soạn thảo cho một Uỷ ban Hồng y, do Đức Hồng Y Giuse Ratzinger làm chủ tịch. Bản Toát yếu đã hoàn thành và được Đức Thánh Cha Biển Đức 16 ban hành ngày 28.06.2005. Khi ký ban hành, Đức Thánh Cha nói:
« Với sự tin tưởng, tôi trao bản Toát yếu này trước tiên cho toàn Hội thánh và đặc biệt cho từng người Kitô hữu, để vào thiên niên kỷ thứ ba này, mỗi người nhờ vào bản Toát yếu, có được một sức bật mới trong cố gắng Phúc Âm hoá và giáo dục Ðức Tin. Đây phải là đặc điểm của tất cả các cộng đoàn trong Hội thánh và của tất cả những ai tin vào Đức Kitô, bất luận tuổi tác hay thuộc quốc gia nào.
Nhờ tính chất ngắn gọn, trong sáng và đầy đủ, bản Toát yếu này cũng nhắm đến mọi người, đang sống trong một thế giới phân tán và có quá nhiều sứ điệp, khao khát biết được con Đường Sự sống, Chân lý, đã được Thiên Chúa trao phó cho Hội thánh của Con mình. »
2. Sống đạo trong cộng đoàn.
Chúng ta cũng cần sống đạo đồng hành với cộng đoàn để cùng nhau trao đổi kinh nghiệm sống Đức Tin, chia sẽ những khó khăn, nâng đở nhau trên đường đời.
Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã nhấn mạnh ơn gọi của giáo xứ là biểu hiện sự gần gũi của Giáo hội.
« Giáo xứ như Giáo hội, tự mình sống giữa con cái nam nữ của mình. »
« Nếu Giáo xứ xen vào giữa những căn nhà của tha nhân, giáo xứ sống và tác động trong lòng xã hội loài người và liên đới thâm sâu với các ước vọng và thảm kịch của nó… Giáo xứ phải là căn nhà mở rộng đón tiếp mọi người, hay như Đức Gioan XXIII thường nói là ‘giếng nước của thôn xóm’ để mọi người đến giải khát. » (Ơn gọi và Sứ mệnh của người giáo dân, số 26 và 27).
Việc sống đạo nhiều khi đúng là một cuộc vác Thánh Giá theo chân Chúa Giêsu như chính chúng ta đã gặp phải. Xin mời trở lại trường hợp ‘Chuyện nguyên Bí Thư Đảng ủy, chủ tịch xã đi tìm Chúa’.
« Cách giữ đạo của ông và anh em ông đã được mọi người trong bản nhìn nhận: giữ đạo đã làm cho họ sống tốt hơn, con số các gia đình theo đạo ngày càng tăng lên. Rồi cả xóm vì họ thấy theo đạo thì sinh hoạt vui vẻ, tính cộng đồng cao, yêu thương nhau hơn, nhất là không còn phải thờ con ma… Từ những hoàn cảnh, lòng tin đơn sơ như vậy, Thiên Chúa đã đến với họ và họ đáp lại lời mời gọi bằng tất cả tấm lòng, không cần bất cứ sự lý luận uyên bác, không cần thứ gì cao siêu. Với mấy bản xung quanh, con số người theo đạo đã là 700 người.
Sau khi họ hết khổ vì con ma, công an cộng sản bắt đầu mang thập giá cho họ. Mỗi lần cán bộ, công an về thì nó “xử lý”, nó phạt bằng bắt của tao con chó, con lợn. Hết chó, lợn thì nó “xử lý” bằng tiền, từ năm chục đến một trăm nghìn, mỗi tháng nó về ba bốn lần, đã mất hết mấy triệu đồng… Lý do “xử lý”?
Cán bộ Ủy ban nhân dân xã nói: “Đi theo đạo Giêsu thì phải đứng giang tay như Giêsu cả ngày, không được bỏ xuống”. Độc hơn, khi nhiều người dân theo đạo, chính quyền ra tay bằng nhiều biện pháp mạnh, nhẹ có cả. Bắt đầu là ngăn cấm, khuyên giải… nhưng với người dân tộc thiểu số, khi họ đã tin, thì khó mà bóc gỡ được niềm tin trong họ.
Năm 2002, chính quyền bắt tập trung các gia đình theo đạo lên trụ sở ủy ban rồi cho người tháo tất cả bàn thờ của các gia đình tập trung đốt hết và tất cả được lệnh phải về làm ma, cúng ma như cũ. “Nhưng đốt bàn thờ này, thì tao làm lại bàn thờ khác – cụ nói – bà con vẫn không bỏ đạo”. Như vậy, từ đó, bà con không được hưởng các chính sách ưu đãi vùng 3 là vùng sâu vùng xa theo chính sách hỗ trợ của nhà nước vì theo đạo Giêsu là không có ông bà, không có gia đình bố me, tức không làm ma như hủ tục cũ, nên không được trợ cấp như những người có cúng con ma.” » …
3. Sống đạo nơi xã hội.
Người tín hữu Đức Kitô không giữ Đạo cho mình mà có bổn phận giúp người thân cận biết Đạo Thánh Chúa theo Phúc âm Thánh Maccô (6: 7-9): « Người Đức Giêsu) gọi Nhóm Mười Hai lại và bắt đầu sai đi từng hai người một. Người ban cho các ông quyền trừ quỷ. Người chỉ thị cho các ông không được mang gì đi đường, chỉ trừ cây gậy; không được mang lương thực, bao bị, tiền giắt lưng; được đi dép, nhưng không được mặc hai áo. »
(Trong đó, cây gậy tượng trưng cho Đức Tin và mặc hai áo tức theo hai chủ. Vị nguyên Bí Thư Đảng ủy, chủ tịch xã đi tìm Chúa nói trên đã thực thi như: ông có một Đức Tin vào Đức Kitô mà thôi, chứ không theo vừa Chúa vừa ma.)
Trong thế hệ chúng ta hiện nay, việc giới thiệu Chúa cho đồng bào bằng những lời giảng hay không đủ mà cần phải kèm với đôi ba hành động đi kèm.
Ngày 08.12.2008, Lễ Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội, Bổn Mạng chính của Dòng Chúa Cứu Thế, người cộng sản Hà nội đã định phiên xử tám giáo dân vô tội phải ra tòa phải diễn ra tại Uỷ ban Nhân dân phường Ô Chợ Dừa.
Lần đầu tiên một cuộc diễn hành ‘long trọng’ trên đường phố thủ đô mà công an võ trang hùng hậu không đàn áp và bắt bớ.
Giáo sĩ và giáo dân Thái Hà đã biết ‘ca tụng vinh quang Thiên Chúa và đã đặt niềm hy vọng nơi Đức Kitô’. Các bị cáo vô tội đã hiên ngang ra tòa với đầy lòng tin tưởng nơi Chúa giúp mình can đảm và tự do nói Sự Thật: Thừa nhận có đập bức tường của kẻ khác xây trên đất Giáo xứ Thái Hà và quả quyết mình vô tội.
Các Linh mục Dòng Chúa Cứu Thế đã tổ chức một cách thật trật tự, kỷ luật và vui vẽ khiến nhà cầm quyền phải thận trọng, e dè. Các biểu ngữ viết bằng tay trên giấy cứng ‘mẹ tôi vô tội’, ‘chồng tôi vô tội’, ‘chúng tôi yêu mến anh chị em’, ‘phúc thay anh em khi vì danh Thầy mà bị người ta bắt bớ, xét xử’, ‘chúng tôi đồng trách nhiệm’, ‘chớ gì anh chị em được xét xử công bằng’, v.v..: ý nghĩa nhẹ nhàng nhưng thật thuyết phục. Các mục tử trong chiếc áo dòng đen luôn bên cạnh giáo dân trong bất cứ trạng huống nào. Họ rất bình tĩnh và tự tin như chuyện vui bên lề... đường như Cha Lê Quang Uy thuật: buổi trưa, Cha mệt quá, ngồi trên thảm cỏ nhắm mắt thiếp vào giấc ngủ, mấy giáo dân tinh nghịch lén đặt một tấm biểu ngữ trước mặt tôi rồi chụp hình, biểu ngữ ấy ghi hàng chữ to... ‘Vợ Tôi Vô Tội’ !
Tiền nhân người Việt đã chúng ta dạy: ‘Đoàn kết gây nên Sức mạnh’!. Ðiều đó dứt khoát không thể sai trong mọi trường hợp.
Sau phần cáo trạng dối láo trơ trẽn đến mức khôi hài, các giáo dân đã trả lời rất thẳng thắn:
Thẩm phán hỏi: ‘Mục đích đến Thái Hà cầu nguyện để làm gì? Chị Nhi nói: ‘Chúng em đánh nhau không biết đánh nhau, chửi không biết chửi, chúng em chỉ biết cầu nguyện để đòi công bằng cho Giáo hội’. Ông Kiện nói: ‘Cầu nguyện để xin Thiên Chúa soi sáng cho các cấp chính quyền sáng suốt giải quyết trả lại đất cho nhà thờ. Cầu nguyện để chính quyền giải quyết cho dễ chứ để mọc lên mấy cái biệt thự thì khó giải quyết!’. Anh Hùng nói: ‘Mục đích ra cầu nguyện là để chính quyền giải quyết trả lại đất cho nhà thờ’. Toà hỏi anh thêm: ‘Đất đã là đất nhà thờ sao còn phải đòi?’- Anh trả lời: ‘Vì người ta lấn chiếm nên phải đòi’. Các giáo dân khác cũng trả lời tương tự như vậy.
Thẩm phán hỏi: ‘Ai giao nhiệm vụ cho bị cáo? Do đâu mà bị cáo lại đến cầu nguyện? Có phải Giáo xứ Thái Hà kêu gọi không?’ Các giáo dân đều nói không ai giao nhiệm vụ, không ai kêu gọi mà do chính mình tự nguyện tham gia. Chị Nhi còn nói: ‘Do tâm linh và tâm nguyện’, ‘Do ti vi đài báo đưa tin và tôi muốn đến để tìm hiểu sự thật. Người công giáo phải có trách nhiệm tìm hiểu và bảo vệ danh dự và tài sản của Giáo Hội’.
Thẩm phán hỏi: ‘Đập tường để làm gì và bị cáo có nhận thức hành vi bị cáo đập bức tường không phải của mình là sai không?’ Các giáo dân đều trả lời là ‘đập tường để mở lối vào cầu nguyện trong khu đất’, ‘đập tường không sai’. Anh Hải nói: ‘Mở lối đi là đúng. Cháu biết đấy là đất nhà thờ cho nên không vi phạm pháp luật’. Ông Năng nói: ‘Tôi không có gì đáng ân hận khi đập tường. Tôi biết bức tường ấy và tôi xây 500 nghìn đồng còn được bức tường đẹp hơn’. Bà Hợi nói: ‘Đập tường thì tôi có đập nhưng vi phạm pháp luật thì không’. Toà hỏi: ‘Nhưng đập tường của người khác xây dựng mà lại bảo không sai thì là sao?!’ Bà trả lời: ‘Nếu tôi xây bức tường trên đất của người ta mà người ta đập phá đi thì tôi cũng chẳng làm gì được!”
Thật đúng như lời đáp Thánh vịnh 97 trong Thánh Lễ hôm đó: « Hãy ca tụng Chúa một bài ca mới, vì Người đã làm nên những điều huyền diệu. »
Những chứng nhân sống đạo Kitô hữu này làm nhiều đồng bào bên lương lưu ý về sự trật tự và hân hoan hát ‘Kinh Hòa bình’ nghiêm trang trong y phục lễ hội đi hầu cái ‘tòa án nhân dân’. Trong số những người đó có Chị Tạ phong Tần, cựu đảng viên đảng cộng sản, cựu Đại úy công an cơ quan điều tra Bạc liêu, hiện diện tại phiên tòa với tư cách trợ tá luật sư biện hộ tám giáo dân Thái Hà, đã nhận bí tích Rửa Tội tại Nhà thờ Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp Sài-gòn ngày 16.06.2009.
4. Tham gia công tác bác ái.
Trước ngày 30.04.1975, tại Việt-Nam Cộng hòa, dù trong tình trạng chiến tranh, giới nghiêm liên miên, thanh niên và sinh viên chúng ta đã được họp thành các hiệp hội, các hội đoàn Công giáo tiến hành (Phong trào Công giáo Đại học Việt-Nam, Hiệp hội Thánh Mẫu Sinh viên Việt-Nam, những Đoàn Sinh viên Công giáo các Phân khoa…) vừa để giúp nhau sống đạo trong môi trường học hành chuyên môn của mình vừa để cùng nhau làm công tác xã hội.
Hiệp-hội Thánh Mẫu Sinh viên rất chú trọng những hoạt động xã hội và, có thể nói nhờ đó, Hiệp-hội đã thu hút rất nhiều bạn hữu gia nhập, hăng say hoạt động để xoa dịu phần nào những đau khổ của đồng loại:
- Tổ chức Cây Sinh nhật, Cây Mùa Xuân cho trẻ em nghèo và các cô nhi.
- Điều hành Chẩn y viện và tham gia các chiến dịch vệ sinh, y tế…
- Và mọi công tác xã hội khác tùy theo phương tiện mà Hiệp-hội thu hoạch được.
Ngân sách hàng năm của Hiệp-hội Thánh Mẫu Sinh viên lên đến gần 2 triệu đồng (để so sánh, tô phở lúc đó từ 10 đến 12 đồng), phần lớn do thu từ buổi chiếu phim tại Các buổi chiếu phim luôn được đặt dưới sự đồng chủ tọa của Đức cha Angelos Palmas, Khâm sứ Tòa Thánh tại Việt-Nam (vị đại diện Ðức Thánh Cha, người Cha thân mến của sinh viên Công giáo Việt-Nam lúc đó), Đức cha Phaolô Nguyễn văn Bình, Tổng Giám mục Giáo phận Sài-gòn (vị Mục tử thương kính của chúng ta) và Luật sư Nguyễn văn Huyền, Chủ tịch Thượng nghị viện (người Anh đầy kinh nghiệm về Công giáo tiến hành). Mỗi Vị ký Sổ Vàng và ‘lì xì’ 10.000 đồng.
Tuy nhiên, trong Thông điệp ‘Thiên Chúa là Tình Yêu’ ngày 25.01.2006, Đức Thánh Cha Biển Đức XVI có nhắc chúng ta: « Hoạt động bác ái Kitô giáo cần phải độc lập đối với mọi đảng phái và ý thức hệ. Chương trình của Kitô hữu, giống như của người Samaritanô nhân hậu hay của Chúa Giêsu, là ‘một tấm lòng biết nhìn thấy’. Tấm lòng ấy biết nhìn thấy nơi mà người ta cần đến tình yêu và sẵn sàng đáp ứng. Ngoài ra, hoạt động bác ái Kitô giáo không được trở thành một phương tiện cho cái mà ngày nay người ta gọi là ‘dụ dỗ vào đạo’. Không phải dùng tình yêu để đạt đến một mục đích nào đó, nhưng cũng không có nghĩa là hoạt động bác ái phải gạt Thiên Chúa ra ngoài. Người Kitô hữu nên biết lúc nào thuận tiện để nói về Chúa và hãy để Tình yêu lên tiếng mà thôi. »