VƯỢT QUA RÀO CẢN CỦA SỰ CHẾT
Chúa Nhật II Phục Sinh – Năm C (Acts 5: 12-15; Psalm 118; Revelation 1: 9-11, 12-13, 17-19; John 20: 19-31)
Sự giản dị và uy quyền thường đi với nhau tay trong tay. Trong nhiều cuộc gặp bất ngờ vào những ngày đầu tiên của cộng đồng Ki-tô giáo, cuộc sống thực sự rất đơn giản – không dễ dàng – nhưng theo những gì Sách Tông đồ Công vụ gọi là “những dấu chỉ và những điều kỳ diệu”. Không có tín điều nào đưa ra sự ưu việt với những lý do đơn giản rằng họ vẫn chưa được trình bày chính xác rõ ràng. Yêu cầu gia nhập đơn giản là niềm tin nơi con người và sứ mệnh của Chúa Giê-su Đấng Cứu Thế cùng một sự tin tưởng rằng Người là sứ giả thực sự của Thiên Chúa.
Một phần quan trọng của việc thực hiện đức tin này là sự cam kết đối với tình môn đệ, tính trung thực đối với lộ trình tâm linh của chúa Giê-su và sẵn sàng chia sẻ trong hân hoan và đấu tranh của cộng đồng mà đã mang tên Người. Điều đó cũng rất ấn tượng mà sự hấp dẫn ban đầu của đức tin cho những người bàng quan không phải là nghi thức tế lễ, những không gian phụng tự hoặc vị thế xã hội. Sự hấp dẫn này là những dấu chỉ hiển nhiên thuộc sự hiện diện của Thiên Chúa thực hiện trong và thông qua những tín đồ vì ích lợi của tha nhân. Đó là điều mà dẫn dắt con người nhìn cộng đồng với sự kính sợ và lòng tôn trọng.
Trong lúc này sự khủng hoảng tôn giáo trầm trọng, thất vọng, nghi vấn nội tâm và cá nhân giao động có lẽ chúng ta có thể quay lại giáo hội tông đồ của thế kỷ thứ nhất cho đôi chút hướng dẫn. Nó không phải là lúc để sợ hãi, bao biện hoặc đề phòng. Những gì được hiệu triệu là lời công bố của Chúa Giê-su Đức Ki-tô trong một phương cách mà đồng thời đơn giản nhưng đòi hỏi và để tạo cho lời công bố này với một cảm giác hân hoan và sự tin tưởng rằng dẫn đến từ một nhận thức về tinh thần của Chúa Ki-tô thực hiện thông qua chúng ta. Không có gì thiếu thốn điều này sẽ cung cấp sự lành lặn, phục hồi mà chúng ta cố công tìm kiếm.
Một phần của lý do cho niềm hân hoan và sư tin tưởng này dẫn đến sự nhận thức của cá nhân và sự biểu thị của Chúa Giê-su. Trong những biểu tượng huyền bí của Sách Khải Huyền, nhà tiên tri của Patmos (Island of the Dodecanese, in the SE Aegean: Traditionally where St. John wrote the Book of Revelation ‘Rev 1: 9’) liên quan đến sự trải nghiệm tinh thần của chính ông trong một khoảng thời gian hành thiền kéo dài. Bẩy chân đèn hiến tế thiêng liêng – bẩy chi họ hoặc nến – biểu trưng cho toàn thể thánh thần và sự hoàn hảo. Và đó là sự hoàn hảo duy nhất – người mà đại diện cho sự hoàn thành và đúc kết những trải nghiệm loài người – người mà đã nói giữa những ngọn nến.
Người là sự khởi đầu và kết thúc – Adam cũ và mới – đầu tiên và cuối cùng. Không chỉ thế, Người đã phá tan rào cản của sự chết và giờ đây Người sống mãi mãi trong sự sở hữu những chìa khóa của sự chết. Không ngạc nhiên khi hình bóng ấy nói: “Đừng sợ!” Vì đây là người đi trước chúng ta và là người anh cả của chúng ta, thầy của chúng ta và người mà bênh vực cho chúng ta, rồi bằng cách nào chúng ta một lần nữa có thể bị tê liệt bởi sợ hãi?
Nhiều người tin tưởng rằng thế hệ những Ki-tô hữu đầu tiên thuộc về một thời kỳ nhiều ngây thơ và cả tin và niềm tin của họ về sự phục sinh của Chúa Giê-su đã phản ảnh điều này. Nhưng sự Phục sinh thật khó tin tưởng vào lúc đó hơn như bây giờ. Khi bạn chết, là bạn chết – không người đứng dậy và lại đi dạo quanh. Ông bạn của chúng ta “nghi ngờ”, Tô-ma có lẽ là nhân vật tiêu biểu cho chủ nghĩa bình quân cho cả hai lúc đó và bây giờ. Ông là người thực tế và thực dụng, đã không được trao cho những tư tưởng khoáng đạt hoặc những động thái nhất thời. Và ông biết những gì ông thấy: cái chết của người thầy khả kính của mình, và ông vẫn bị khóa chặt trong choáng váng đau buồn. Ông hoài nghi một cách tự nhiên khi bạn bè bắt đầu nói về cuộc viếng thăm từ cõi chết của Chúa Giê-su và đã tuyên xưng rằng Người vẫn còn sống.
Thánh Tô-ma muốn bằng chứng không thể bác bỏ và không gì kém hơn và đó là những gì Chúa Giê-su mang đến cho ông một tuần sau đó. Thánh Tô-ma ngập tràn xúc động, “Lạy Chúa tôi và lạy Chúa tôi!” Nhưng Chúa Giê-su đã đem đến cho ông một thử thách: Tô-ma đã lãnh nhận những bằng chứng của mình, nhưng tất cả những ai đến sau ông thì thế nào? Điều đó tốt hơn gấp bội và thiêng liêng hơn nhiều để vượt qua hoài nghi và thắc mắc và để làm ngơ trước những làn sóng của chủ nghĩa duy vật, chủ nghĩa vô thần, sợ hãi và giận dữ bạo lực mà hủy diệt đức tin ở mọi thời đại. Phúc thay cho những ai giữ gìn tâm trí và tâm hồn mình được rông mở và những ai có đủ can đảm để hy vọng và tìm kiếm tình yêu và ánh sáng đó là Thiên Chúa thậm chí ở giữa một thế giới tối tăm và phức tạp.
(Nguồn: Regis College – The School of Theology)
Chúa Nhật II Phục Sinh – Năm C (Acts 5: 12-15; Psalm 118; Revelation 1: 9-11, 12-13, 17-19; John 20: 19-31)
Sự giản dị và uy quyền thường đi với nhau tay trong tay. Trong nhiều cuộc gặp bất ngờ vào những ngày đầu tiên của cộng đồng Ki-tô giáo, cuộc sống thực sự rất đơn giản – không dễ dàng – nhưng theo những gì Sách Tông đồ Công vụ gọi là “những dấu chỉ và những điều kỳ diệu”. Không có tín điều nào đưa ra sự ưu việt với những lý do đơn giản rằng họ vẫn chưa được trình bày chính xác rõ ràng. Yêu cầu gia nhập đơn giản là niềm tin nơi con người và sứ mệnh của Chúa Giê-su Đấng Cứu Thế cùng một sự tin tưởng rằng Người là sứ giả thực sự của Thiên Chúa.
Một phần quan trọng của việc thực hiện đức tin này là sự cam kết đối với tình môn đệ, tính trung thực đối với lộ trình tâm linh của chúa Giê-su và sẵn sàng chia sẻ trong hân hoan và đấu tranh của cộng đồng mà đã mang tên Người. Điều đó cũng rất ấn tượng mà sự hấp dẫn ban đầu của đức tin cho những người bàng quan không phải là nghi thức tế lễ, những không gian phụng tự hoặc vị thế xã hội. Sự hấp dẫn này là những dấu chỉ hiển nhiên thuộc sự hiện diện của Thiên Chúa thực hiện trong và thông qua những tín đồ vì ích lợi của tha nhân. Đó là điều mà dẫn dắt con người nhìn cộng đồng với sự kính sợ và lòng tôn trọng.
Trong lúc này sự khủng hoảng tôn giáo trầm trọng, thất vọng, nghi vấn nội tâm và cá nhân giao động có lẽ chúng ta có thể quay lại giáo hội tông đồ của thế kỷ thứ nhất cho đôi chút hướng dẫn. Nó không phải là lúc để sợ hãi, bao biện hoặc đề phòng. Những gì được hiệu triệu là lời công bố của Chúa Giê-su Đức Ki-tô trong một phương cách mà đồng thời đơn giản nhưng đòi hỏi và để tạo cho lời công bố này với một cảm giác hân hoan và sự tin tưởng rằng dẫn đến từ một nhận thức về tinh thần của Chúa Ki-tô thực hiện thông qua chúng ta. Không có gì thiếu thốn điều này sẽ cung cấp sự lành lặn, phục hồi mà chúng ta cố công tìm kiếm.
Một phần của lý do cho niềm hân hoan và sư tin tưởng này dẫn đến sự nhận thức của cá nhân và sự biểu thị của Chúa Giê-su. Trong những biểu tượng huyền bí của Sách Khải Huyền, nhà tiên tri của Patmos (Island of the Dodecanese, in the SE Aegean: Traditionally where St. John wrote the Book of Revelation ‘Rev 1: 9’) liên quan đến sự trải nghiệm tinh thần của chính ông trong một khoảng thời gian hành thiền kéo dài. Bẩy chân đèn hiến tế thiêng liêng – bẩy chi họ hoặc nến – biểu trưng cho toàn thể thánh thần và sự hoàn hảo. Và đó là sự hoàn hảo duy nhất – người mà đại diện cho sự hoàn thành và đúc kết những trải nghiệm loài người – người mà đã nói giữa những ngọn nến.
Người là sự khởi đầu và kết thúc – Adam cũ và mới – đầu tiên và cuối cùng. Không chỉ thế, Người đã phá tan rào cản của sự chết và giờ đây Người sống mãi mãi trong sự sở hữu những chìa khóa của sự chết. Không ngạc nhiên khi hình bóng ấy nói: “Đừng sợ!” Vì đây là người đi trước chúng ta và là người anh cả của chúng ta, thầy của chúng ta và người mà bênh vực cho chúng ta, rồi bằng cách nào chúng ta một lần nữa có thể bị tê liệt bởi sợ hãi?
Nhiều người tin tưởng rằng thế hệ những Ki-tô hữu đầu tiên thuộc về một thời kỳ nhiều ngây thơ và cả tin và niềm tin của họ về sự phục sinh của Chúa Giê-su đã phản ảnh điều này. Nhưng sự Phục sinh thật khó tin tưởng vào lúc đó hơn như bây giờ. Khi bạn chết, là bạn chết – không người đứng dậy và lại đi dạo quanh. Ông bạn của chúng ta “nghi ngờ”, Tô-ma có lẽ là nhân vật tiêu biểu cho chủ nghĩa bình quân cho cả hai lúc đó và bây giờ. Ông là người thực tế và thực dụng, đã không được trao cho những tư tưởng khoáng đạt hoặc những động thái nhất thời. Và ông biết những gì ông thấy: cái chết của người thầy khả kính của mình, và ông vẫn bị khóa chặt trong choáng váng đau buồn. Ông hoài nghi một cách tự nhiên khi bạn bè bắt đầu nói về cuộc viếng thăm từ cõi chết của Chúa Giê-su và đã tuyên xưng rằng Người vẫn còn sống.
Thánh Tô-ma muốn bằng chứng không thể bác bỏ và không gì kém hơn và đó là những gì Chúa Giê-su mang đến cho ông một tuần sau đó. Thánh Tô-ma ngập tràn xúc động, “Lạy Chúa tôi và lạy Chúa tôi!” Nhưng Chúa Giê-su đã đem đến cho ông một thử thách: Tô-ma đã lãnh nhận những bằng chứng của mình, nhưng tất cả những ai đến sau ông thì thế nào? Điều đó tốt hơn gấp bội và thiêng liêng hơn nhiều để vượt qua hoài nghi và thắc mắc và để làm ngơ trước những làn sóng của chủ nghĩa duy vật, chủ nghĩa vô thần, sợ hãi và giận dữ bạo lực mà hủy diệt đức tin ở mọi thời đại. Phúc thay cho những ai giữ gìn tâm trí và tâm hồn mình được rông mở và những ai có đủ can đảm để hy vọng và tìm kiếm tình yêu và ánh sáng đó là Thiên Chúa thậm chí ở giữa một thế giới tối tăm và phức tạp.
(Nguồn: Regis College – The School of Theology)