DẤN THÂN THĂNG TIẾN ĐỜI SỐNG THIÊNG LIÊNG

Năm Thánh Giáo Hội Việt Nam 2010 chính là thời điểm thuận lợi khích lệ chúng ta hãy trở về gặp gỡ Đức Kitô, làm một cuộc khởi hành mới xuất phát lại từ Ngài, để «tiếp tục theo đuổi “đời sống kitô hữu viên mãn” và “đức ái trọn hảo”, tức là sự “thánh thiện”, đó phải là mối bận tâm hàng đầu của chúng ta trên trần gian này»[1]. Đây cũng là lời mời gọi khẩn thiết của Giáo Hội gửi đến các tu sĩ nam nữ, «là những người muốn dùng đời sống mình làm chứng cho tính triệt để của Phúc Âm qua đặc sủng của các Đấng lập dòng đối với mỗi dòng tu, chớ gì họ tiếp tục lớn lên trong Thiên Chúa qua việc đào sâu đời sống thiêng liêng trong sự trung thành với ơn gọi của mình và bằng sự dấn thân tông đồ có hiệu quả, theo gương Chúa Kitô»[2]. Thực vậy, nỗ lực sống đạo đức thánh thiện là sự đóng góp hữu hiệu nhất của các tu sĩ nam nữ cho thế giới hôm nay. Vì thế, «đời sống thiêng liêng phải được đặt lên hàng đầu trong chương trình của mọi gia đình đời sống thánh hiến, ngõ hầu mọi tu hội và mọi cộng đoàn trở thành những trường học về linh đạo phúc âm chân chính»[3]. Trong tinh thần ấy, Huấn thị Xuất phát lại từ Đức Kitô trở thành kim chỉ nam hướng dẫn cho các tu sĩ nam nữ canh tân đời sống thiêng liêng, trung thành với lời cam kết sống đời thánh hiến, để xây dựng một đời sống thánh thiện, một cộng đoàn hiệp thông huynh đệ, và dấn thân ra đi làm chứng cho Chúa Kitô giữa anh chị em đồng bào.

1. Gặp gỡ Đức Kitô

«Hãy trở về Galilêa, anh em sẽ được gặp Thầy ở đó» (Mt 28,10). Như các Tông đồ xưa kia đã đáp lại lời mời gọi của Chúa Kitô phục sinh, người môn đệ Chúa Kitô hôm nay cũng cần phải trở về điểm hẹn với Thầy Chí Thánh để gặp gỡ và tái khám phá dung mạo của Ngài, và để bước đi theo Ngài trên những nẻo đường đến với muôn dân nước trong một cuộc khởi hành mới mà điểm xuất phát là chính Ngài. Hơn lúc nào hết, thời gian này chính là cơ hội giúp chúng ta lên đường trở về bên Đức Kitô để «hiểu biết, yêu mến và noi theo, để sống đời sống của Ba Ngôi Thiên Chúa trong Người, và để cùng với Người biến đổi lịch sử cho đến khi lịch sử được hoàn tất nơi thành thánh Giêrusalem thiên quốc»[4].

1.1. Chiêm ngưỡng khuôn mặt Đức Kitô

Trọng tâm của đời sống thánh hiến không gì khác hơn là giúp cho các tu sĩ theo sát Chúa Kitô, sống kết hợp với Ngài trong từng phút giây của cuộc đời. Vì thế, các tu sĩ được mời gọi trở về với Đức Kitô để chiêm ngưỡng cách cụ thể khuôn mặt của Ngài. Nhờ đó mỗi người được trở nên thánh thiện và có thể phản chiếu dung nhan của Chúa Kitô trong căn tính và ơn gọi của mình.

Chúng ta cần trở về và ở lại với Đức Kitô, để gặp gỡ và chiêm ngưỡng dung nhan của chính Đấng đã gọi và chọn chúng ta dấn thân bước vào đời sống thánh hiến. Ánh sáng Chúa Kitô sẽ chiếu toả trên cuộc đời và sứ vụ của tất cả những ai thuộc về Ngài, giúp họ thăng tiến trong hành trình của đời sống thiêng liêng: «Lạy Cha, con muốn rằng con ở đâu, thì những người Cha đã ban cho con cũng ở đó với con, để họ chiêm ngưỡng vinh quang của con, vinh quang mà Cha đã ban cho con, vì Cha đã yêu thương con trước khi thế gian được tạo thành» (Ga 17,24). Ân sủng của Chúa Kitô sẽ biến đổi chúng ta nên thánh thiện giống như Ngài, giúp mỗi người biết nỗ lực thanh tẩy tâm can để sống gắn bó với Ngài. «Vì thế, nhiệm vụ đầu tiên của anh chị em không thể là gì khác ngoài chiêm ngưỡng. Mọi thực tại của đời sống thánh hiến được sinh ra và phục hồi mỗi ngày bằng việc chiêm ngưỡng không ngừng khuôn mặt Đức Kitô»[5]. Khi chiêm ngưỡng khuôn mặt Chúa Giêsu, chúng ta được kêu gọi hãy bắt chước Ngài, sống bác ái như Ngài và hiến dâng đời mình làm lễ tế dâng lên Thiên Chúa (x Ep 5,1-2). Khi soi đời sống mình theo mẫu gương của Chúa Giêsu, chúng ta «cẩn thận xem xét cách ăn nết ở của mình» (Ep 5,15), biết cắt tỉa những gì không phù hợp với dung mạo của Đức Kitô, cởi bỏ những gì không hợp với ơn gọi và lý tưởng của đời tận hiến hay không đúng với linh đạo của đấng sáng lập và truyền thống của hội dòng. Nhờ đó, trong mọi hoàn cảnh, người tu sĩ cố gắng phát triển một sống mới hiện đang tiềm tàng với Đức Kitô nơi Thiên Chúa (x. Cl 3,3).

Chiêm ngưỡng khuôn mặt Đức Kitô, những người thánh hiến gặp được khuôn mẫu của một đời sống thánh thiện, khiêm nhường, dịu hiền, đầy tình thương yêu tha thứ. Khi cố gắng rập theo gương mẫu đời sống của Chúa Kitô trong các giai đoạn của cuộc đời Ngài trên dương thế, người thánh hiến tự nguyện khấn giữ các lời khuyên Phúc Âm để dấn thân sống như Chúa Giêsu khiết tịnh, khó nghèo và vâng phục: «Lời khấn khiết tịnh mở rộng con tim cho đến chiều kích của con tim Đức Kitô và làm cho nó có thể yêu mến như Người đã yêu. Lời khấn nghèo khó giải thoát ta khỏi nô lệ các sự vật và các nhu cầu giả tạo đang lôi cuốn xã hội tiêu dùng và dẫn ta đến việc tái khám phá Đức Kitô, kho tàng duy nhất đáng để ta tìm kiếm. Lời khấn vâng phục đặt cuộc sống hoàn toàn trong bàn tay Đức Kitô ngõ hầu Người có thể sử dụng theo kế hoạch của Thiên Chúa và biến nó trở nên một tuyệt tác. Đức can đảm cần cho việc bước theo Đức Kitô cách quảng đại và vui tươi»[6].

Chiêm ngưỡng khuôn mặt Đức Kitô, người thánh hiến nhận ra sự hiện diện của Ngài mọi nơi mọi lúc, với nhiều hình thức khác nhau: «Đức Kitô thực sự hiện diện trong Lời của Người và trong các bí tích, đặc biệt trong bí tích Thánh Thể. Đức Kitô sống trong Giáo Hội, Người làm cho mình hiện diện trong cộng đoàn những người tụ họp vì danh Người. Người đứng trước mặt chúng ta trong mọi người, đồng hoá cách đặc biệt với những người bé nhỏ, người nghèo, người đau khổ và người đang thiếu thốn nhất. Người gặp gỡ chúng ta trong mọi biến cố vui buồn, trong thử thách hay trong niềm vui, trong đau khổ hay trong bệnh tật»[7]. Sự chiêm ngắm dẫn đến những thực hành cụ thể khi biết hiến mình phục vụ Thiên Chúa nơi anh chị em mình. Đối diện với biết bao đau khổ cá nhân, cộng đoàn và xã hội, các tu sĩ tiếp nối sứ vụ của Chúa Kitô thoa dịu những tâm hồn tan vỡ, băng bó những vết thương lòng (x. Lc 4,18-19). Vì thế, các tu sĩ thêm can đảm «dâng hiến cuộc đời để phụng sự Nước Thiên Chúa, bằng cách từ bỏ mọi sự và noi gương nếp sống của Chúa Giêsu Kitô sát hơn, họ đảm nhận vai trò cao cả là giáo dục toàn thể Dân Thiên Chúa»[8].

1.2. Xuất phát lại từ Đức Kitô

Trở về bên Chúa Kitô, trở về với căn tính của ơn gọi thánh hiến để thêm một lần nữa người môn đệ lên đường bước vào một cuộc hành trình mới, theo lệnh truyền của Chúa Giêsu, đi đến tận cùng trái đất. Mỗi ngày sống của người môn đệ Chúa Kitô là một cuộc xuất hành mới để vươn lên trưởng thành hơn trong mỗi giai đoạn của hành trình ơn gọi và trong suốt cả cuộc đời thánh hiến. Mỗi lần ra đi khỏi con người cũ của mình là cũng là mỗi lần chúng ta được mời gọi xuất phát lại từ Đức Kitô, bằng việc trở về với căn cội của sự chọn lựa riêng biệt trong linh đạo của Đấng sáng lập, đồng thời xác định hướng đi tương lai và vươn đến tầm vóc viên mãn của Thân thể Đức Kitô (x. Ep 4,13). Như vậy, những người thánh hiến được thăng tiến trong đời sống thiêng liêng nhờ biết can đảm xuất phát lại từ Chúa Kitô mỗi ngày, theo những chiều kích khác nhau.

Xuất phát lại từ Đức Kitô là gắn bó ngày càng mật thiết hơn với Đức Kitô, trung tâm của đời sống thánh hiến và lại một lần nữa đi lại con đường hoán cải và canh tân, giống như kinh nghiệm đầu tiên của các tông đồ, trước và sau biến cố phục sinh. Chúa Kitô là khởi điểm, là mẫu mực và là sự viên mãn của đời thánh hiến. Chính Ngài là nguyên lý cho chúng ta trung thành bước đi theo thánh ý của Thiên Chúa: «những ai Người đã biết từ trước, thì Người đã tiền định cho họ nên đồng hình đồng dạng với Con của Người, để Con của Người làm trưởng tử giữa một đàn em đông đúc. Những ai Thiên Chúa đã tiền định, thì Người cũng kêu gọi; những ai Người đã kêu gọi, thì Người cũng làm cho nên công chính; những ai Người đã làm cho nên công chính, thì Người cũng cho hưởng phúc vinh quang» (Rm 8,29-30). Như vậy, gắn bó mật thiết hơn với Đức Kitô chính là xác tín hơn về căn tính ơn gọi của mình, để sống cách sâu sắc hơn đoàn sủng mà linh đạo mỗi hội dòng đã đóng góp vào cho sự phong phú của đời sống Giáo Hội. Nhờ đó, mỗi tu sĩ sẽ trở nên hoàn thiện hơn và tích cực nâng đỡ nhau sống thánh thiện trong ơn gọi sống đời thánh hiến.

Xuất phát lại từ Đức Kitô có nghĩa là loan báo rằng đời sống thánh hiến là một cách đặc biệt đi theo Đức Kitô, «một ký ức sống động về lối sống và hành động của Đức Giêsu, Ngôi Lời nhập thể trong tương quan với Chúa Cha và với anh em Người»[9]. Dõi bước theo Chúa Kitô để nên đồng hình đồng dạng với Ngài như Tin Mừng đã dạy là tiêu chuẩn tối thượng của đời sống tu trì[10]. Nhờ sự hiệp thông tình yêu đặc biệt với Đức Kitô, cuộc sống của người thánh hiến trở thành lời loan báo về chỗ đứng ưu việt của ân sủng. Trong Chúa Kitô, họ sống mối tương quan mật thiết với Thiên Chúa và anh chị em đồng loại, được «trở nên một với Người, mang cùng những tâm tình, cùng một lối sống, và đó là một cuộc sống bị Đức Kitô chiếm hữu, được bàn tay Đức Kitô chạm đến, được tiếng nói của Người nhắn nhủ, được ân sủng của Người nâng đỡ»[11].

Xuất phát lại từ Đức Kitô có nghĩa tìm lại một lần nữa tình yêu ban đầu của ta, tia sáng lôi cuốn làm ta đứng lên đi theo Người. Với nhiệt tâm và tình yêu hăng hái thuở ban đầu, người thánh hiến can đảm lên đường đồng hành cùng Chúa Kitô, Đấng hằng ban ơn thêm sức cho họ để họ có thể làm được mọi sự (x. Pl 4,13). Họ đã sẵn sàng từ bỏ mọi sự để đi theo Chúa Kitô như một điều cần thiết duy nhất (x. Mt 19,21; Mc 10,28; Lc 10,42), thì họ cũng sẵn sàng chấp nhận chết đi cho tội lỗi để sống cho một mình Thiên Chúa (x. Rm 6,11). Họ tự nguyện hiến dâng trọn vẹn cuộc đời để tận tâm thi hành thánh ý của Thiên Chúa, và hiến thân phục vụ mọi chi thể trong thân mình mầu nhiệm của Chúa Kitô (x. Lc 10,39; 1Cr 7,32). Thiên Chúa đã yêu chúng ta trước và Ngài mời gọi chúng ta đáp trả lại tình yêu nhưng không của Ngài. Sự đáp trả đầy lòng yêu mến đối với tình yêu Thiên Chúa là xác tín rằng «Đức Kitô đã thí mạng vì chúng ta. Như vậy, cả chúng ta nữa, chúng ta cũng phải thí mạng vì anh em» (1Ga 3,16; Gl 2,20).

Xuất phát lại từ Đức Kitô có nghĩa là nhìn nhận rằng tội lỗi vẫn hiện diện trong con tim và đời sống của mọi người, và khám phá trong khuôn mặt đau khổ của Đức Kitô của lễ dâng hiến giao hoà nhân loại với Thiên Chúa. Sống đời thánh hiến không đương nhiên giúp chúng ta thoát khỏi sự vây bọc của sự dữ và sự tội, lời khấn thánh hiến không lập tức làm cho chúng ta trở nên thánh thiện, nhưng chỉ là dấn thân vào một cuộc hành trình đầy cam go, đòi hỏi phải chiến đấu không ngơi nghỉ chống lại tội lỗi và những hậu quả tai hại của nó. Ý thức về thân phận yếu đuối tội lỗi của mình, đời thánh hiến trở thành lời loan báo và kêu gọi «hoán cải và tin vào Tin mừng» (Mc 1,15). Vì thế, khi phát xuất lại từ Đức Kitô, người tu sĩ «bước vào con đường hoán cải trường kỳ, con đường trao hiến tdành riêng cho tình yêu Thiên Chúa và anh chị em, để luôn làm chứng cách tuyệt đẹp về ân sủng đang biến đổi cuộc đời kitô hữu»[12]. Đồng thời, người thánh hiến có đủ nghị lực đối diện với những gian nan thử thách và bất hạnh. Ngay cả khi bị khinh bỉ hoặc bị bỏ rơi, người tu sĩ vẫn tìm được niềm an ủi và hy vọng đạt tới sự viên mãn của một đời sống mới trong Chúa Kitô: «khi vì ơn gọi dâng hiến mà đời con vất vả hơn, khó khăn hơn, thiếu thốn hơn, con hãy vui mừng, vì chưa bao giờ con thấy ơn thiên triệu của con, sứ mạng của con, cao cả, tốt đẹp và trong sáng như vậy, chưa bao giờ hình ảnh Chúa nơi con sáng tỏ như vậy. Hãy tin tưởng vì khi nào con bị treo dựng trên thánh giá với Chúa, con sẽ kéo lôi mọi sự lên theo»[13]. Như vậy, «ơn gọi của những người thánh hiến tiếp tục ơn gọi của Đức Giêsu và giống như Người họ mang vào thân mình đau khổ và tội lỗi của trần gian, bằng cách thiêu đốt chúng trong tình yêu»[14].

2. Sống theo giáo huấn Tin Mừng

Giáo Hội và cả thế giới hôm nay đang chờ mong chứng từ đầy yêu thương mà người thánh hiến đang hoạ lại một cách cụ thể gương mặt của Chúa Giêsu để kéo nguồn ân sủng tình yêu dồi dào của Ngài xuống cho nhân loại. Vì thế, các tu sĩ được mời gọi quảng đại đáp trả tiếng gọi của Thiên Chúa để dấn thân sống theo giáo huấn của Tin Mừng. Đời sống thánh hiến thể hiện cách sống động cuộc đời và giáo huấn của Chúa Giêsu, vì thế người tu sĩ phải nên giống Ngài cách đặc biệt trong kinh nguyện và đời sống nội tâm. Nhờ đó, mỗi người dám can đảm chấp nhận cởi bỏ con người cũ để mặc lấy Chúa Kitô, «mặc lấy con người mới, là con người đã được sáng tạo theo hình ảnh Thiên Chúa để thật sự sống công chính và thánh thiện» (Ep 4,24; Rm 13,14).

2.1. Cầu nguyện và sống nội tâm

Các tu sĩ kiện toàn đức ái trong sự kết hợp thân tình với Thiên Chúa là điều tuyệt đối cần thiết: «Bổn phận đầu tiên và chính yếu của các tu sĩ là chuyên cần kết hợp với Thiên Chúa trong việc cầu nguyện»[15]. Khi cầu nguyện, chúng ta gặp gỡ Thiên Chúa để được cảm nếm sự nhận biết Ngài và nhận thức được giá trị của đời sống trong Chúa Kitô. Nhờ cầu nguyện và lắng nghe lời Chúa, người môn đệ Chúa Kitô tìm được nguồn sức mạnh và sự nâng đỡ của chính Thiên Chúa để tiến lên trên bước đường dẫn đến sự thánh thiện.

Tất cả những ai đã tuyên giữ các lời khuyên Phúc Âm, dù thuộc tu hội dòng hay tu hội đời, dù sống chiêm niệm hay hoạt động, đều phải dành ưu tiên chu toàn các bổn phận đạo đức thiêng liêng, họ «có nghĩa vụ phải dồn hết sức lực hướng về sự trọn lành của đức ái»[16]. Thực vậy, «trung thành cầu nguyện hay phế bỏ cầu nguyện là bản trắc nghiệm cho thấy đời sống tu trì còn sống động hay đã suy thoái»[17]. Cầu nguyện cần thiết như hơi thở không thể thiếu trong mọi chiều kích của đời sống thánh hiến. Vì thế, «phải cần mẫn luyện tập tinh thần cầu nguyện và cả sự cầu nguyện, múc ở nơi nguồn mạch đích thực của nền tu đức Kitô giáo»[18]. Khi ấy, cả cuộc đời của người thánh hiến sẽ trở nên một lời cầu nguyện liên lỉ nhờ một cuộc sống hoàn toàn tận hiến cho Thiên Chúa và hết lòng yêu thương phục vụ anh chị em đồng loại.

Giữa một thế giới ồn ào náo động hôm nay, một đòi hỏi quan trọng đối với các tu sĩ là phải thiết lập được sự quân bình nội tâm[19]. Người có đời sống nội tâm sâu sắc sẽ tạo lập được một sự thinh lặng sống động khi phải tìm Thiên Chúa ngay trong ồn ào náo nhiệt hay trong cô đơn thanh vắng. Một đời sống trong thinh lặng cầu nguyện sẽ giúp cho người thánh hiến tìm được sự hài hoà giữa đời sống cá nhân và các điều kiện sống tập thể, giữa những hình thức bên ngoài với các giá trị thiêng liêng, giữa sự chiêm niệm với các hoạt động tông đồ, giữa sự thinh lặng và công việc mỗi ngày. Người tu sĩ cần phải đắm mình trong sự cô tịch để lắng nghe tiếng nói của Thánh Thần được ghi khắc tận đáy tâm hồn (x. 2Cr 3,3). Nhờ đó, các tu sĩ có khả năng đáp ứng những đòi hỏi khẩn cấp của thời đại này, và làm lan toả hương thơm của đức bác ái huynh đệ. Như vậy, «toàn thể Giáo Hội vui mừng và hưởng lợi từ nhiều hình thức cầu nguyện và nhiều cách thức trong đó một khuôn mặt duy nhất của Đức Kitô được chiêm ngưỡng»[20].

Cầu nguyện và sống nội tâm nhằm «hướng về sự thánh thiện, đó là bản tóm kết chương trình mọi cuộc đời thánh hiến»[21]. Thánh thiện là hoa quả của cuộc gặp gỡ với Chúa Kitô hiện diện cách đặc biệt trong Lời của Ngài, như là «nguồn mạch thanh khiết và không bao giờ cạn cho đời sống tâm linh»[22]. Thánh thiện không thể có được nếu không lắng nghe Lời Chúa là bánh ban sự sống (x. Mt 4,4), là đèn soi rọi đường đi nước bước, hướng dẫn và định hình cuộc sống của mỗi chúng ta (x. Tv 118/119,105). Vì thế, «hằng ngày phải có quyển Kinh Thánh trong tay để học được những “kiến thức siêu việt về Chúa Giêsu Kitô” (x. Pl 3,8) nhờ đọc và suy gẫm. Lời Chúa được Giáo Hội giải thích và cử hành chính thức trong phụng vụ, trở nên nguồn mạch và động lực của đức ái. Hơn ai hết, các tu sĩ phải theo tinh thần của Giáo Hội để đem hết tâm hồn, miệng lưỡi chu toàn các lễ nghi phụng vụ, nhất là mầu nhiệm Thánh Thể, lại phải nuôi dưỡng đời sống tu đức bằng nguồn mạch phong phú ấy»[23]. Thực vậy, chính nơi Lời của Ngài mà Thiên Chúa đã «mặc khải chính mình và giáo dục tâm trí và con tim: chính nơi đó mà cái nhìn đức tin nên trưởng thành, bằng cách học biết nhìn thực tại và các biến cố qua con mắt của Thiên Chúa, đến mức có được “tư tưởng của Đức Kitô” (1Cr 2,16). Chính Chúa Thánh Thần soi sáng Lời Chúa với ánh sáng mới cho các vị sáng lập. Mọi đoàn sủng và mọi luật lệ xuất phát từ đó và tìm cách trở nên một sự diễn tả của Lời Chúa»[24].

Nhờ lời cầu nguyện và sống nội tâm trong nỗ lực lắng nghe Lời Chúa, chúng ta có thể xây dựng cho mình có được một thứ bản năng siêu nhiên[25] để không rập theo thói đời, nhưng đổi mới tâm thần để nhận ra thánh ý Thiên Chúa và đem ra thực hành (x. Lc 6,47; Rm 12,2). Chính bản năng siêu nhiên này làm nên phẩm chất thiêng liêng của đời thánh hiến, giúp cho các tu sĩ có khả năng làm chứng cho Chúa Giêsu và có đủ sức lay chuyển được những trái tim chai đá của con người thời đại đang khát khao tìm về những giá trị tuyệt đối.

2.2. Đời sống mới trong Chúa Kitô

Đời sống thánh hiến là một nỗ lực sửa đổi canh tân đời sống theo khuôn mẫu Chúa Kitô, nghĩa là người môn đệ Chúa Kitô dám can đảm giết chết những gì thuộc hạ giới và thực sự mặc lấy con người mới theo hình ảnh Thiên Chúa (x. Cl 3,5-14). Chính trong thân thể mầu nhiệm của Chúa Kitô là Hội Thánh, người thánh hiến không những chỉ được nối kết bằng kinh nguyện và các việc đạo đức thường ngày, mà còn được thánh hoá bằng việc cử hành các mầu nhiệm thánh, lãnh nhận các Bí tích, nhất là Bí tích Thánh Thể và Hoà Giải.

Để sống một đời sống mới trong Chúa Kitô, trước hết chúng ta phải không ngừng thanh tẩy tâm lòng, canh tân đời sống trong sự giao hoà với Thiên Chúa và tha nhân. «Vì chúng ta ai cũng có nhiều lầm lỗi (Gc 3,2), nên chúng ta luôn cần đến lòng nhân từ của Thiên Chúa và hằng ngày phải cầu nguyện “xin Chúa tha nợ chúng con” (Mt 6,12)»[26]. Trên đường thánh hiến, các tu sĩ cần có những thời điểm «dừng chân nơi bóng mát để kiểm điểm lại: rút kinh nghiệm bước tiến, chuẩn bị thêm hành trang, sửa chữa những bước lệch lạc»[27]. Thành tâm xét mình, nhìn nhận và sám hối về những lỗi lầm thiếu sót để có thể đón nhận lòng thương xót của Thiên Chúa qua bí tích Hoà Giải. Hiệu quả đương nhiên của việc giao hoà với Thiên Chúa là sự hoà giải với anh chị em mình: «Anh em là những người được Thiên Chúa tuyển lựa, hiến thánh và yêu thương. Vì thế, anh em hãy có lòng thương cảm, nhân hậu, khiêm nhu, hiền hoà và nhẫn nại. Hãy chịu đựng và tha thứ cho nhau, nếu trong anh em người này có điều gì phải trách móc người kia. Chúa đã tha thứ cho anh em, thì anh em cũng vậy, anh em phải tha thứ cho nhau» (Cl 3,12-14). Sám hối, yêu thương và tha thứ chính là điều kiện cần có để xứng đáng lãnh nhận hy tế Thánh Thể (Mt 5,23-24).

Dành cho đời sống thiêng liêng một chỗ đứng ưu tiên đòi hỏi chúng ta phải sống chiều kích Thánh Thể, cách đặc biệt qua việc Dâng Lễ, Rước Lễ và viếng Thánh Thể mỗi ngày. Đời sống thánh hiến là một cách thế kết hiệp sâu xa với hy tế Thánh Thể, trung tâm của đời sống Giáo Hội, cũng là tâm điểm đời thánh hiến của mỗi người và mỗi cộng đoàn: «Trong bí tích Thánh Thể, mọi hình thức cầu nguyện quy tụ lại: Lời của Thiên Chúa được loan báo và đón nhận, mối tương quan với Thiên Chúa, với anh chị em, với mọi người nam nữ bị chất vấn. Đó là bí tích của tình con thảo, của hiệp thông và của sứ vụ. Bí tích Thánh Thể, bí tích của sự hiệp nhất với Đức Kitô, đồng thời là bí tích của sự hiệp nhất Giáo Hội và hiệp nhất cộng đoàn đối với người thánh hiến»[28]. Là nguồn mạch và chóp đỉnh của đời sống thiêng liêng đối với cá nhân cũng như đối với mỗi cộng đoàn, «Thánh Thể chứa đựng tất cả của cải thiêng liêng của Giáo Hội, đó chính là Đức Kitô, lễ vượt qua của chúng ta, Người là bánh hằng sống, ban sự sống cho nhân loại bằng chính thịt của Người, thịt đã được sống động nhờ Thánh Thần và làm cho người ta được sống»[29].

Nghi thức khấn dòng được cử hành trong chính hy tế Thánh Thể diễn tả mối dây liên kết đặc biệt giữa hiến lễ cuộc đời người thánh hiến với hy lễ mình và máu thánh Chúa Giêsu trên bàn thờ. Như vậy, khi dâng thánh lễ mỗi ngày, các tu sĩ cùng với Chúa Giêsu tiếp tục hiến dâng mạng sống lên cho Chúa Cha nhờ Chúa Thánh Thần. Trong Chúa Giêsu Thánh Thể, người môn đệ Chúa Kitô hiến dâng trọn đời sống mình trong mọi lúc giữa những hoàn cảnh khác nhau của đường đời. Ngay cả khi vì những lý do khác nhau mà chúng ta không thể đến tham dự Thánh Lễ, thì Chúa Giêsu Thánh Thể vẫn hiện diện và thông truyền sức sống viên mãn của Ngài cho chúng ta, miễn là chúng ta một lòng một ý gắn bó với Ngài. Vì thế, «dù cô đơn nơi đèo heo hút gió, dù tăm tối trong ngục tù, con hãy hướng về các bàn thờ trên thế giới, nơi Chúa Giêsu đang tế lễ; con dâng lễ và rước lễ thiêng liêng. An ủi và can đảm sẽ tràn ngập lòng con»[30].

3. Sống linh đạo hiệp thông

Hiệp thông với Thiên Chúa và với anh chị em chính là bản chất của Hội Thánh, là con đường của thời đại hôm nay, và cũng là ơn gọi cao cả nhất đời sống thánh hiến. Tuy nhiên, vì tội lỗi đã làm tổn thương đến chương trình cứu độ của Thiên Chúa, nên hiệp thông vẫn còn là điểm rất hạn chế nơi các tín hữu nói chung và cộng đoàn thánh hiến nói riêng. Điều này cũng thể hiện rõ nét trong các cộng đoàn thánh hiến tại Việt Nam. Vì thế, là những phần tử ưu tú của Hội Thánh, các tu sĩ được mời gọi nỗ lực xây dựng sự hiệp thông, «trước tiên trong chính cộng đoàn của họ, kế đến trong cộng đồng Giáo Hội, và vượt cả biên giới này nữa, bằng cách kiên trì theo đuổi cuộc đối thoại bác ái, nhất là tại những nơi hiện đang bị xâu xé bởi sự hận thù chủng tộc hay nạn bạo lực điên rồ»[31].

3.1. Hiệp thông trong cộng đoàn thánh hiến

Ngày nay, đối diện với một thế giới đầy những ngờ vực và chia rẽ, đời sống thánh hiến trở thành dấu chỉ của niềm hy vọng hiệp thông huynh đệ. Cùng với mọi thành phần trong Hội Thánh, «những người thánh hiến được yêu cầu trở thành những chuyên viên thực sự về hiệp thông và thực hành linh đạo hiệp thông như những chứng nhân và những người kiến tạo kế hoạch hiệp thông, đỉnh cao của lịch sử nhân loại theo ý muốn của Thiên Chúa»[32]. Các cộng đoàn thánh hiến được quy tụ lại nhân danh Chúa, nên các tu sĩ thành anh chị em của nhau trong một gia đình thực sự. Vì thế, khi gia nhập vào một cộng đoàn thánh hiến, các tu sĩ bước vào một mối hiệp thông yêu thương, cùng nhau đi trên một con đường thiêng liêng, chung sống theo một lý tưởng thánh hiến để bước đi theo Chúa Giêsu. «Một truyền thống được chia sẻ, những hoạt động chung, những cơ cấu được thực hiện tốt đẹp, những tài sản chung, hiến pháp chung, và một tinh thần chung, đó là những yếu tố có thể giúp xây dựng và củng cố sự hiệp nhất»[33]. Như vậy, trong cộng đoàn thánh hiến, các tu sĩ cùng nhau tạo nên một môi trường hiệp thông huynh đệ để nâng đỡ nhau tấn tới trên bước đường thiêng liêng.

Đời sống hiệp thông thánh hiến khởi đi từ chính đời sống thân mật với Thiên Chúa, vì nền tảng thực sự của đời sống hiệp thông hệ tại mối hiệp thông nơi Ba Ngôi Thiên Chúa và với chính Đức Kitô. Chỉ trong tình yêu hiệp nhất của Thiên Chúa, chúng ta mới có thể thông hiệp được với nhau. Vì thế, «thiết lập một sự hiệp thông đặc biệt giữa các tu sĩ với Thiên Chúa và, trong Thiên Chúa, giữa các phần tử trong cùng một hội dòng là yếu tố căn bản của sự hiệp nhất trong một hội dòng»[34]. Thiên Chúa là Đấng Thánh, nên điều kiện để sống hiệp thông với Ngài là một tâm hồn thánh thiện, thanh sạch, không vương mắc tội lỗi. Điều này đòi hỏi chúnh ta phải san bằng những mối bất đồng chia rẽ, xoá bỏ oán ghét hận thù để xứng đáng lãnh nhận ơn tha thứ của Thiên Chúa. Một khi đã được tha thứ mọi tội lỗi, chúng ta lấy lại được địa vị là con cái Chúa, luôn gắn kết với Ngài trong yêu thương, và luôn được Ngài bảo bọc che chở trong mọi cảnh huống của cuộc đời: «Khi không còn ai lắng nghe tôi nữa, Chúa vẫn nghe tôi. Khi tôi không còn có thể tâm sự hay kêu cầu được với ai, tôi luôn luôn có thể thưa với Chúa. Khi không còn ai giúp tôi biết xử sự thế nào trước nhu cầu hay mong đợi vượt quá khả năng hy vọng của con người, Chúa có thể giúp tôi»[35].

Theo lệnh truyền của Thiên Chúa, chúng ta phải yêu thương người thân cận như chính bản thân mình, và như chính Chúa đã yêu thương chúng ta (x. Mt 22,39; Ga 13,34). Sống đời thánh hiến là sự diễn tả cách cụ thể mối hiệp thông với Thiên Chúa bằng đời sống gắn bó huynh đệ với tất cả mọi người, kể cả kẻ thù, trong đức bác ái chân thành. Chính tình bác ái vô vị lợi chính là điều làm cho những cộng đoàn thánh hiến có những điểm khác biệt với những tổ chức hay đoàn hội khác (x. Ga 13,35). Nhờ lời khấn theo các lời khuyên Phúc Âm, nhiệt tình đức ái giải thoát các tu sĩ khỏi mọi ngăn trở, để sống gắn bó và chia sẻ với mọi người trong mọi biến cố của hành trình theo Chúa. Khi sống hiệp thông nâng đỡ nhau giữa những khó khăn thử thách, những yếu đuối bất toàn của bản thân và tha nhân không còn là chướng ngại cản trở sự nên thánh, nhưng lại là con đường giúp chúng ta tiến đến sự hoàn thiện. Vì thế, cần biết đón nhận tha nhân trong nỗ lực kiến tạo một «khoảng không gian thần linh trong đó chúng ta có thể cảm nghiệm sự hiện diện huyền nhiệm của Chúa Phục Sinh»[36]. Đời sống của các tu sĩ qua bao thế kỷ đã minh chứng cho Đức Ái hoàn hảo nhờ hiệp thông với nhau trong tình huynh đệ, chia sẻ của cải, cùng sống trong một kế hoạch và hoạt động tông đồ. Chính đời thánh hiến giúp cho các tu sĩ hiệp thông với nhau và với tất cả mọi người cách sâu xa trong Trái Tim Chúa Giêsu, Đấng được Chúa Cha sai đến làm trưởng tử giữa một đoàn em đông đúc, hầu thiết lập sự hiệp thông huynh đệ nhờ ân sủng của Chúa Thánh Thần[37]. Như cành nho được tháp nhập vào thân nho để nhận sức sống từ thân cây, cũng ta cũng phải sống hiệp thông với Chúa Kitô, và từ đó phát sinh tình hiệp thông huynh đệ với nhau để cho thế giới được tràn đầy sự sống và sống một cách dồi dào (x. Ga 10,10; 15,5).

3.2. Hiệp thông trong cộng đoàn Hội Thánh

Khi Đức Kitô xuống thế làm người thì nhịp cầu giữa trời và đất được nối liền, sự hiệp thông gắn bó giữa con người và Thiên Chúa cũng như giữa con người với nhau được thực hiện cách sung mãn trong Giáo Hội. Đời sống hiệp thông trong Hội Thánh diễn tả sự liên kết mật thiết giữa những chi thể trong một thân thể mầu nhiệm mà Chúa Kitô là đầu, cùng chung một trái tim, một tâm hồn, cả nhiệm thể đồng thanh ca tụng tình thương của Thiên Chúa là Cha nhân lành (Rm 15,5; Cv 2,4-11). Chính Chúa Kitô liên kết tất cả những ai yêu mến và tin tưởng vào Ngài như cành nho gắn kết với cây nho. Chính Ngài đã đổ đầy lòng họ Thần Khí thánh hoá (Rm 5,5), biến họ thành con cái của một Cha chung trên trời (Rm 8,14).

Đời sống thánh hiến là một ơn huệ nhưng không Thiên Chúa dành cho một số người được tuyển chọn trong cộng đoàn Hội Thánh. Như vậy, mọi tu sĩ và các cộng đoàn tu trì đều thực sự là thành phần của Giáo Hội, và thi hành sứ mệnh cao cả của chính Giáo Hội là tôn vinh Thiên Chúa, phục vụ sự sống và ơn cứu độ con người. «Tu hội nào ra đời cũng là để phục vụ Giáo Hội, để dùng những đặc tính riêng biệt của mình, và tuỳ theo tinh thần cũng như sứ mệnh đặc thù của mình mà làm cho Giáo Hội được phong phú»[38]. Chính Giáo Hội xác nhận ơn gọi của các cộng đoàn thánh hiến và làm trung gian cho việc tận hiến của các tu sĩ. Ơn gọi tu trì là một hồng ân đặc biệt Thiên Chúa ban cho Giáo Hội, nên sự thánh hiến đó thuộc về đời sống và sự thánh thiện của Giáo Hội[39]. Khi tuyên khấn công khai tuân giữ các lời khuyên Phúc Âm, các tu sĩ sống gắn bó cách mật thiết và phong phú vào đời sống của Giáo Hội. Vì thế, sứ mạng của các tu sĩ vừa mở rộng cho Giáo Hội phổ quát, vừa được thể hiện trong bối cảnh của Giáo Hội địa phương[40]. Một đàng, các tu sĩ xây dựng sự hiệp thông ngay từ bên trong Giáo Hội bằng cách làm cho đặc tính hiệp thông thấm sâu vào mọi cơ cấu và mọi hoạt động. Đàng khác, các tu sĩ trở thành nhân tố nối kết các đặc sủng và ơn gọi khác nhau trong Hội Thánh. Thực vậy, «sự hiệp nhất Giáo Hội không phải là sự đồng dạng, nhưng là một sự pha trộn hữu cơ những khác biệt chính đáng. Đó là thực tại của nhiều thành phần nối kết trong một Thân Thể duy nhất của Đức Kitô (x. 1Cr 12,12)»[41].

Sự hiệp thông trong cộng đoàn Hội Thánh còn được thể hiện trong mối tương quan đúng đắn giữa các thành phần cũng như giữa các bậc sống khác nhau: giáo sĩ, tu sĩ và giáo dân. Cách đặc biệt, cần phải xây dựng trong mối tương quan gắn bó giữa các tu sĩ với hàng giáo phẩm. Ý thức rằng «đời sống tu trì và các cơ cấu trong Giáo Hội không phải là hai thực tại riêng biệt, như thể một thực tại thuộc về ân sủng, thực tại kia thuộc về cơ cấu; trái lại làm thành một thực tại duy nhất, tuy phức tạp. Do đó, làm cho hai yếu tố độc lập với nhau là một sai lầm nặng; và làm cho hai yếu tố đối chọi nhau còn là một sai lầm nặng hơn»[42]. Vì thế, rất cần có những liên lạc thường xuyên giữa các bề trên tu hội hay Hội đồng các bề trên thượng cấp với các cơ quan của Toà thánh, với các Giáo phận và Hội đồng Giám mục, nhằm cổ võ cho đời tu tham gia cách hữu hiệu vào sứ mệnh của Giáo Hội. Trong tin tưởng, các tu sĩ cần phải nhìn nhận thừa tác vụ của các giám mục, đấng kế vị các thánh tông đồ, là trung tâm của sự hiệp nhất trong sự hiệp thông hữu cơ của Giáo Hội. Vì thế, «các tu sĩ dù là thành viên của một tu hội thuộc quyền Giáo hoàng cũng phải cảm thấy mình thực sự là thành phần của “gia đình giáo phận” và đảm nhận nhiệm vụ thích nghi cần thiết»[43]. Thực vậy, «khát vọng xây dựng một linh đạo hiệp thông sẽ là hão huyền nếu không có một mối tương quan tích cực và thân thiết với các giám mục, trước tiên với Đức Giáo hoàng, trung tâm hiệp nhất của Giáo hội và với huấn quyền của ngài»[44]. Cũng vậy, các giám mục với tư cách «là bậc thầy chính thức và người chỉ đạo về sự trọn lành cho mọi thành phần trong giáo phận, nên các ngài cũng là những vị giữ gìn cho các tu sĩ trung thành với ơn gọi tu trì và theo đúng tinh thần của mỗi tu hội»[45].

Kết luận

Xuất phát lại từ Đức Kitô để canh tân thăng tiến đời sống thiêng liêng, như một nỗ lực khơi lại ơn gọi tận hiến tu trì của người thánh hiến theo mẫu gương của chính Đức Kitô. Các tu sĩ hôm nay được mời gọi «hãy sống trọn vẹn cuộc hiến dâng cho Thiên Chúa, để cho thế giới này đừng mất đi một tia sáng chiếu ngời vẻ đẹp của Thiên Chúa trên đường đời của nhân loại»[46]. Ý thức về đời sống thánh hiến là nguồn phong phú đặc biệt của Hội Thánh, các tu sĩ nhận thức về căn tính và phẩm giá của ơn gọi làm chứng cho tình yêu của Chúa Kitô như một điều cần thiết duy nhất (x. Lc 10,42). Khi trung thành với ơn gọi thánh hiến của mình, các tu sĩ trở nên tấm gương trong lời thưa “xin vâng” đối với thánh ý của Thiên Chúa đã dành cho cuộc đời mình. Do đó, «Giáo Hội đặt kỳ vọng nơi sự dâng hiến liên tục của đoàn con cái nam nữ được tuyển chọn, niềm khao khát nên thánh và lòng nhiệt thành phục vụ nhằm cổ võ và nâng đỡ nỗ lực sống thánh thiện nơi mọi kitô hữu, và nhằm gia tăng việc tiếp đón người thân cận, nhất là những người túng thiếu. Làm như thế, tình yêu Chúa Kitô sẽ được chứng thực giữa mọi người»[47].

GỢI Ý THẢO LUẬN

1. Làm sao giữ được sự quân bình giữa đời sống cầu nguyện và các hoạt động tông đồ?

2. Cần phải làm gì để đối diện và vượt qua thời kỳ “đêm tối đức tin” trong đời sống thiêng liêng?

3. Tại Việt Nam, các tu sĩ có thể làm gì để xây dựng sự hiệp nhất trong cộng đoàn Hội Thánh?

--------------------------------------------------------------------------------

[1] BỘ RAO GIẢNG TIN MỪNG CHO CÁC DÂN TỘC, Sứ điệp nhân dịp Năm Thánh Giáo Hội tại Việt Nam 2010 (14/11/2009). X. CÔNG ĐỒNG CHUNG VATICANÔ II, Hiến chế Lumen gentium (21/11/1964), 40.

[2] BÊNÊĐICTÔ XVI, Sứ điệp nhân dịp Năm Thánh Giáo Hội tại Việt Nam 2010 (17/11/2009).

[3] GIOAN PHAOLÔ II, Tông huấn Vita consecrata (25/03/1996), 93.

[4] GIOAN PHAOLÔ II, Tông thư Novo millennio ineunte, 29. Xuất phát lại từ Đức Kitô cũng chính là tâm tình và mục tiêu mà Giáo Hội tại Việt Nam cần phải lấy làm trọng tâm khi cử hành Đại Năm Thánh 2000. X. BỘ RAO GIẢNG TIN MỪNG CHO CÁC DÂN TỘC, Sứ điệp nhân dịp Năm Thánh Giáo Hội tại Việt Nam 2010 (14/11/2009).

[5] GIOAN PHAOLÔ II, Bài giảng ngày 2/2/2001, xem trong L’Osservatore Romano, 4/2/2001.

[6] BỘ ĐỜI SỐNG THÁNH HIẾN VÀ HIỆP HỘI TÔNG ĐỒ, Huấn thị Starting afresh from Christ (19/5/2002), 22: «Các lời khuyên Phúc Âm có một ý nghĩa trong mức độ chúng giúp gìn giữ và tạo thuận lợi cho tình yêu đối với Chúa trong sự ngoan ngoãn hoàn toàn đối với thánh ý Người».

[7] BỘ ĐỜI SỐNG THÁNH HIẾN VÀ HIỆP HỘI TÔNG ĐỒ, Huấn thị Starting afresh from Christ, 23.

[8] GIOAN PHAOLÔ II, Sứ điệp gửi các thành viên Phiên họp khoáng đại của Thánh Bộ Đời sống Thánh hiến và Hiệp hội Tông đồ (21/9/2001). «Đức Giêsu làm cho ta hiểu rằng tình liên đới của Người đối với nhân loại triệt để đến độ nó thấm nhập, chia sẻ và đảm nhận mọi khía cạnh tiêu cực dù cho đến chết, hậu quả của tội lỗi» (Huấn thị Starting afresh from Christ, 27; Tông thư Novo millennio ineunte, 25).

[9] GIOAN PHAOLÔ II, Tông huấn Vita consecrata, 22.

[10] X. CÔNG ĐỒNG CHUNG VATICANÔ II, Sắc lệnh Perfectae caritatis (28/10/1965), 2. Công Đồng đã đề ra năm tiêu chuẩn cho việc canh tân và thích nghi đời tu: Bước theo Chúa Kitô như Tin Mừng đã dạy; đoàn sủng có tính cách lịch sử của hội dòng; đời sống của toàn thể Giáo Hội; lưu tâm đến thế giới mình đang sống; mỗi người phải canh tân về mặt thiêng liêng.

[11] GIOAN PHAOLÔ II, Tông huấn Vita consecrata, 40. Người thánh hiến vui mừng sống trong tình con thảo đối với Chúa Cha và tình huynh đệ thắm thiết với mọi người; x. Tông thư Novo millennio ineunte, 38.

[12] GIOAN PHAOLÔ II, Tông huấn Vita consecrata, 109.

[13] NGUYỄN VĂN THUẬN, Đường hy vọng, 384.

[14] BỘ ĐỜI SỐNG THÁNH HIẾN VÀ HIỆP HỘI TÔNG ĐỒ, Huấn thị Starting afresh from Christ, 27.

[15] BỘ ĐỜI SỐNG THÁNH HIẾN VÀ HIỆP HỘI TÔNG ĐỒ, Những yếu tố cốt yếu trong Giáo huấn của Hội Thánh về đời tu (31/05/1983), 26. «Kinh nguyện là khám phá ra tình thân mật với Thiên Chúa, là yêu sách đòi phải tôn thờ Thiên Chúa, là nhu cầu cần được chuyển cầu» (PHAOLÔ VI, Tông thư Evangelica testificatio, 43). GIOAN PHAOLÔ II, Tông huấn Vita consecrata, 9

[16] GIOAN PHAOLÔ II, Tông huấn Vita consecrata, 93. Đức Hồng Y Nguyễn Văn Thuận khẳng định: «Thế giới không đổi mới, vì người ta quan niệm sự thánh thiện ngoài bổn phận» (Đường hy vọng, 23).

[17] PHAOLÔ VI, Tông thư Evangelica testificatio (29/06/1971), 42. «Đời thánh hiến cần được nuôi dưỡng tại nguồn cội đời sống tâm linh vững chắc và sâu xa» (Tông huấn Vita consecrata, 93).

[18] CÔNG ĐỒNG CHUNG VATICANÔ II, Sắc lệnh Perfectae caritatis, 6. Đức Thánh Cha Phaolô VI cũng nhắn nhủ các tu sĩ: «sự trung thành với lời cầu nguyện hằng ngày phải là một nhu cầu căn bản, và phải chiếm chỗ ưu tiên trong hiến pháp cũng như trong đời sống các con» (Evangelica testificatio, số 45).

[19] CÔNG ĐỒNG CHUNG VATICANÔ II, Hiến chế Gaudium et spes, 18. Sự bất quân bình thể hiện ngay trong đời sống đạo: «Giáo dân nghĩ: thánh là sốt sắng kinh nguyện, giảng giải, xa lánh thế gian: họ hóa ra giáo sĩ, tu sĩ thời xưa. Tu sĩ nghĩ: thánh là dấn thân giúp việc xã hội, hoạt động chính trị, tranh đua với giáo dân mà nhập thế. Loạn xà ngầu!» (Đường hy vọng, 22).

[20] BỘ ĐỜI SỐNG THÁNH HIẾN VÀ HIỆP HỘI TÔNG ĐỒ, Huấn thị Starting afresh from Christ, 25.

[21] GIOAN PHAOLÔ II, Tông huấn Vita consecrata, 93: «Đời sống tâm linh được hiểu như là sống với Đức Kitô và do Thánh Linh hướng dẫn, là một cuộc hành trình mỗi ngày một trung tín hơn, trong đó người tận hiến được Thánh Thần soi dẫn và biến đổi trở thành Đức Kitô, trọn nìềm hiệp thông trong tình yêu và phục vụ trong Giáo Hội».

[22] GIOAN PHAOLÔ II, Tông huấn Vita consecrata, 94; x. Tông thư Novo millennio ineunte, 39.

[23] CÔNG ĐỒNG CHUNG VATICANÔ II, Sắc lệnh Perfectae caritatis, 6. Việc đọc Kinh Thánh, nguyện gẫm, kính cẩn cử hành Các giờ kinh phụng vụ theo quy định của luật dòng, sùng kính Đức Trinh Nữ Maria, tĩnh tâm hằng năm, đó là tất cả những yếu tố thuộc về đời sống cầu nguyện của các tu sĩ (Bộ Giáo Luật, 663; 664; 1174).

[24] BỘ ĐỜI SỐNG THÁNH HIẾN VÀ HIỆP HỘI TÔNG ĐỒ, Huấn thị Starting afresh from Christ, 24: «Lời Thiên Chúa là của ăn cho đời sống, cho việc cầu nguyện và cho cuộc hành trình hằng ngày, nguyên lý hiệp nhất cộng đoàn nên một lòng một ý, cảm hứng cho việc canh tân của thường huấn và những sáng kiến tông đồ».

[25] GIOAN PHAOLÔ II, Tông huấn Vita consecrata, 93. Nhờ cầu nguyện và sống nội tâm sâu xa, người môn đệ Chúa Kitô còn được hướng dẫn bởi bàn tay từ mẫu Maria, chuyên cần thao luyện các việc đạo đức, biết khiêm tốn và tin tưởng tìm đến việc linh hướng.

[26] CÔNG ĐỒNG CHUNG VATICANÔ II, Hiến chế Lumen gentium, 40.

[27] NGUYỄN VĂN THUẬN, Đường hy vọng, 883.

[28] BỘ ĐỜI SỐNG THÁNH HIẾN VÀ HIỆP HỘI TÔNG ĐỒ, Huấn thị Starting afresh from Christ, 26. Lời Mẹ Têrêsa Calcutta nhắn nhủ tầm quan trọng của việc cử hành Thánh Thể còn ghi lại nơi nhà nguyện bên phần mộ của Mẹ: “Hỡi linh mục của Thiên Chúa, xin cha dâng thánh lễ này như thánh lễ mở tay, như thánh lễ sau cùng và như thánh lễ duy nhất trong đời”.

[29] CÔNG ĐỒNG CHUNG VATICANÔ II, Sắc lệnh Optatam totius, 5. «Trong Bí tích Thánh Thể, mỗi người tận hiến được mời gọi sống mầu nhiệm vượt qua của Đức Kitô, hợp nhất với Người trong cuộc hiến dâng mạng sống lên cho Chúa Cha nhờ Chúa Thánh Thần» (Vita consecrata, 95).

[30] NGUYỄN VĂN THUẬN, Đường hy vọng, 364. «Đừng nghĩ rằng đời dâng hiến của con không còn ý nghĩa, vì không sống cộng đoàn, không làm việc bác ái, giáo dục, từ thiện được nữa. Trên thánh giá, Chúa đã làm gì? Trong nhà tạm Chúa đang làm gì? - Hiện diện, cầu nguyện, hy sinh. Sao lại không ý nghĩa? Chính lúc ấy Chúa cứu chuộc nhân loại» (số 385).

[31] GIOAN PHAOLÔ II, Tông huấn Vita consecrata, 51.

[32] GIOAN PHAOLÔ II, Tông huấn Vita consecrata, 46; x. CÔNG ĐỒNG CHUNG VATICANÔ II, Hiến chế Gaudium et spes, 19. Bằng chính đời sống và hoạt động, các tu sĩ hiến mình xây dựng «Giáo Hội thành ngôi nhà và trường học của sự hiệp thông» (Tông thư Novo millennio ineunte, 43).

[33] BỘ ĐỜI SỐNG THÁNH HIẾN VÀ HIỆP HỘI TÔNG ĐỒ, Những yếu tố cốt yếu trong Giáo huấn của Hội Thánh về đời tu (31/05/1983), 18.

[34] BỘ ĐỜI SỐNG THÁNH HIẾN VÀ HIỆP HỘI TÔNG ĐỒ, Những yếu tố cốt yếu trong Giáo huấn của Hội Thánh về đời tu (31/05/1983), 18. Khuôn mặt của Thiên Chúa toả sáng nơi khuôn mặt của Giáo Hội. Vì thế, yêu mến Đức Kitô là yêu mến Giáo Hội (x. Huấn thị Starting afresh from Christ, 32).

[35] BÊNÊĐÍCTÔ XVI, Thông điệp Spe salvi (30/11/2007), 32; x. Sách Giáo Lý của Hội Thánh Công Giáo, 2657.

[36] GIOAN PHAOLÔ II, Tông huấn Vita consecrata, 42.

[37] CÔNG ĐỒNG CHUNG VATICANÔ II, Hiến chế Gaudium et spes, 32; (x. Hiến chế Lumen gentium, 46).

[38] BỘ ĐỜI SỐNG THÁNH HIẾN VÀ HIỆP HỘI TÔNG ĐỒ, Các liên hệ hỗ tương giữa giám mục và tu sĩ trong Giáo Hội (14/5/1978), 14.

[39] X. CÔNG ĐỒNG CHUNG VATICANÔ II, Hiến chế Lumen gentium, 44. Trong Hội Thánh mọi người được mời gọi và có bổn phận nên thánh. Không sống thánh thiện, không thể canh tân Hội Thánh (x. Đường hy vọng, 267).

[40] X. CÔNG ĐỒNG CHUNG VATICANÔ II, Hiến chế Lumen gentium, 45.

[41] GIOAN PHAOLÔ II, Tông thư Novo millennio ineunte, 46.

[42] BỘ ĐỜI SỐNG THÁNH HIẾN VÀ HIỆP HỘI TÔNG ĐỒ, Các liên hệ hỗ tương giữa giám mục và tu sĩ trong Giáo Hội (14/5/1978), 34; x. CÔNG ĐỒNG CHUNG VATICANÔ II, Hiến chế Lumen gentium, 45

[43] BỘ ĐỜI SỐNG THÁNH HIẾN VÀ HIỆP HỘI TÔNG ĐỒ, Các liên hệ hỗ tương giữa giám mục và tu sĩ trong Giáo Hội (14/5/1978), 18. «Những người thánh hiến và những định chế của họ được mời gọi làm chứng cho sự hiệp nhất không bao giờ bất đồng với huấn quyền của Giáo Hội, bằng cách trở nên những phát ngôn viên xác tín và vui tươi trước mặt mọi người» (Huấn thị Starting afresh from Christ, 32).

[44] BỘ ĐỜI SỐNG THÁNH HIẾN VÀ HIỆP HỘI TÔNG ĐỒ, Huấn thị Starting afresh from Christ, 32. «Một khía cạnh nổi bật của sự hiệp thông với Giáo Hội là gắn bó bằng cả trí tuệ và con tim với huấn quyền của Đức Giáo hoàng và của các giám mục; tất cả những người thánh hiến […] phải nghiêm chỉnh thi hành và minh chứng rõ ràng điều này trước mặt Dân Thiên Chúa» (Tông huấn Vita consecrata, 46).

[45] BỘ ĐỜI SỐNG THÁNH HIẾN VÀ HIỆP HỘI TÔNG ĐỒ, Các liên hệ hỗ tương giữa giám mục và tu sĩ trong Giáo Hội (14/5/1978), 28.

[46] GIOAN PHAOLÔ II, Tông huấn Vita consecrata, 109.

[47] GIOAN PHAOLÔ II, Sứ điệp gửi các thành viên trong Phiên họp khoáng đại của Bộ Đời sống Thánh hiến và Hiệp hội Tông đồ (21/9/2001). X. BÊNÊĐICTÔ XVI, Sứ điệp nhân ngày thế giới cầu nguyện cho ơn gọi lần thứ 47 (13/11/2009).