Nhân dịp đầu năm cử hành ngày hòa bình thế giới và Lễ Đức Mẹ là Mẹ Thiên Chúa, Đức Giáo Hoàng Bênêđíctô XVI đã suy niệm về khuôn mặt Thiên Chúa. Ngài dựa bài suy niệm của ngài vào sự gợi hứng của bài đọc một trích từ Sách Dân Số (6:25) và thánh vịnh đáp ca (Tv 67 [66]: 1-3) trong đó có các câu: “Nguyện Thiên Chúa tươi nét mặt nhìn đến anh chị em và dủ lòng thương anh chị em” và “nguyện Chúa Trời dủ thương và chúc phúc, xin tỏa ánh tôn nhan rạng ngời trên chúng con, cho cả hoàn cầu biết đường lối Chúa, và muôn nước biết ơn cứu độ của Ngài”.

Nói về khuôn mặt, Đức Thánh Cha cho hay: nó vốn là biểu thức tuyệt hảo nói lên chính con người của ta. Nó làm cho mỗi người chúng ta được người khác nhận diện và là tấm gương phản chiếu một cách trong sáng mọi xúc cảm, tư duy và ý nguyện tự đáy lòng mình. Tuy từ bản tính, Thiên Chúa vốn vô hình, nhưng Thánh Kinh vẫn áp dụng hình ảnh khuôn mặt vào Người. Tỏ mặt Người ra vốn là một cách diễn tả lòng nhân hậu của Người, trong khi ấy dấu mặt Người đi là một cách nói đến cơn giận và bất bình của Người. Sách Xuất Hành nói rằng: “Chúa thường nói truyện với Môsê mặt đối mặt, như người ta nói truyện với bạn bè của mình” (Xh 33:11). Và cũng chính với Môsê, Chúa đã dùng một công thức khá lạ để hứa rằng Người sẽ gần gũi ông: “Thánh nhan Ta sẽ đi với ngươi và Ta sẽ cho ngươi được nghỉ ngơi” (Xh 33:14). Thánh vịnh ví các tín hữu như những người đi tìm thánh nhan Chúa (xem Tv 27 [26]: 8; 105 [104]: 4) và là những người mong được thấy Người khi thờ phượng (Tv 42 [41]: 3) và cho thấy “người ngay thẳng” sẽ “nhìn thấy thánh nhan Người” (Tv 11 [10]: 7).

Theo Đức Thánh Cha, ta có thể giải thích toàn bộ trình thuật Thánh Kinh như là việc Thiên Chúa từ từ mạc khải Thánh Nhan của Người cho tới lúc Người mạc khải hoàn toàn nơi Chúa Giêsu Kitô. Hôm nay, Thánh Phaolô Tông Đồ cũng nhắc nhở ta rằng: “Khi thời gian tới hồi viên mãn, Thiên Chúa đã sai Con mình tới” (Gl 4:4) và sau đó, ngài viết liền thêm “sinh làm con một người đàn bà, và sống dưới Lề Luật”. Thế là Thiên Chúa mang lấy khuôn mặt nhân bản, tự để cho mình được nhận dạng nơi Người Con của Đức Trinh Nữ Maria, Đấng mà vì thế, ta được hân hạnh tôn kính là Mẹ Thiên Chúa.

Đức Mẹ, người từng gìn giữ trong trái tim mình trọn mầu nhiệm về chức phận làm Mẹ Thiên Chúa, chính là người đầu tiên được thấy khuôn mặt Thiên Chúa làm người nơi quả phúc tí hon của lòng dạ mình. Mẹ có mối liên hệ hết sức đặc biệt, độc đáo và một cách nào đó hết sức độc hữu đối với Con sơ sinh. Khuôn mặt đầu tiên đứa con nhìn thấy tất nhiên là khuôn mặt của người mẹ và cái nhìn ấy giữ vai trò chủ chốt cho mối liên hệ của đứa con với đời, với nó, với người khác và với Thiên Chúa; và cái nhìn ấy cũng giữ vai trò chủ chốt nếu đứa con ấy muốn trở thành “đứa con của hòa bình” (Lc 10:6). Trong số các hình loại học của tranh ảnh về Đức Trinh Nữ Maria trong truyền thống Byzantine, ta thấy có bức ảnh gọi là “dịu hiền” vẽ Chúa Giêsu Hài Nhi tựa má mình vào má của Mẹ Người. Con Trẻ nhìn lên Mẹ còn Đức Mẹ thì nhìn chúng ta, gần như thể để phản ảnh sự dịu hiền của Thiên Chúa, Đấng đã từ trời xuống với ngài và đã hóa thành nhục thể nơi Con Người và hiện ngài đang ẵm trong tay.

Trong bức ảnh Đức Mẹ này, ta có thể chiêm ngắm được điều gì đó của chính Thiên Chúa: một dấu chỉ tình yêu hải hà của Người, một tình yêu đã thúc đẩy Người “cho đi chính Con Một của mình” (Xem Ga 3:16). Nhưng cũng chính bức ảnh đó cho ta thấy khuôn mặt của Giáo Hội nơi Đức Mẹ, một khuôn mặt từng phản chiếu ánh sáng Chúa Kitô trên khắp thế giới, một Giáo Hội qua đó Tin Mừng đã tới với mọi người: “bạn không còn là nô lệ nữa mà là một người con” (Gl 4:7), chính Thánh Phaolô đã nói thế trong bài đọc 2.

Suy niệm khuôn mặt Thiên Chúa và khuôn mặt nhân bản, theo Đức Thánh Cha, là con đường tốt nhất dẫn ta tới hòa bình. Thực vậy, con đường này khởi đầu với cái nhìn kính trọng biết nhận ra một con người trên khuôn mặt người khác, bất luận màu da, quốc tịch, ngôn ngữ hay tôn giáo của họ. Nhưng ngoài Thiên Chúa ra, ai là người bảo đảm được “chiều sâu” của khuôn mặt nhân bản? Thực thế, chỉ khi nào ta có Thiên Chúa trong trái tim mình, ta mới có khả năng nhìn thấy trên khuôn mặt người khác một người anh em trong tình nhân loại, không phải một phương tiện mà là một mục đích, không phải một kẻ thù mà là một cái tôi khác, một khía cạnh khác của mầu nhiệm vô tận về hữu thể nhân bản. Thế giới quan của ta và nhất là cái nhìn của ta đối với anh em đồng loại hoàn toàn tùy thuộc sự hiện diện của Chúa Thánh Thần ở trong ta. Giống như hiện tượng “dội âm”: các tâm hồn trống rỗng chỉ có thể nhận ra các hình ảnh dẹp lép thiếu chiều sâu. Ngược lại, chúng ta càng có Chúa ngụ cư bên trong, ta càng nhạy cảm sự hiện diện của Người ở môi trường chung quanh: nơi mọi tạo vật và đặc biệt nơi những con người nhân bản khác, dù cho khuôn mặt con người, vốn dãi dầu bởi thử thách ở đời và bởi sự ác, đôi khi rất khó mà coi như là sự hiển linh của Chúa. Như thế càng có lý do để ta, nếu muốn nhận ra và kính trọng lẫn nhau như anh em, điều mà thực sự chúng ta vốn là, ta cần phải nhìn lên Khuôn Mặt của Người Cha chung, Đấng vốn yêu thương mọi người chúng ta bất chấp mọi hạn chế và thiếu sót của ta.

Điều quan trọng, theo Đức Thánh Cha, là phải giáo dục ngay từ tuổi thơ việc kính trọng người khác, dù họ có khác biệt với ta đến đâu đi nữa. Ngày nay, các lớp học càng ngày càng gồm trẻ em xuất thân từ nhiều quốc tịch khác nhau, mà dù cho không phải là như thế đi chăng nữa, thì khuôn mặt các em cũng là một lời tiên tri báo trước thứ nhân loại mà chúng ta đang tạo nên: một gia đình gồm nhiều gia đình và dân tộc. Các trẻ em này càng nhỏ tuổi thì chúng càng đánh thức trong ta sự dịu dàng âu yếm và niềm vui khi thấy sự ngây thơ và tình anh em hết sức hiển nhiên nơi các em bất chấp mọi dị biệt, các em nô dỡn cười đùa cùng một cách, cùng có những nhu cầu như nhau, cùng truyện trò đối thoại với nhau một cách tự nhiên bột phát… Khuôn mặt trẻ em giống như sự phản chiếu cái nhìn của Thiên Chúa đối với thế gian. Như thế thì tại sao lại dập tắt nét tươi cười của các em? Tại sao lại đầu độc tâm hồn các em? Bất hạnh thay, bức ảnh Mẹ Thiên Chúa Dịu Hiền lại hóa thành những hình ảnh sầu khổ của biết bao trẻ em và người mẹ của chúng dưới sự tàn phá của chiến tranh và bạo lực, của biết bao người tị nạn, di dân, bất kể là cưỡng bức hay không. Những khuôn mặt hốc hác vì đói khát và tật bệnh, những khuôn mặt hết còn là mặt vì đau khổ và thất vọng và những khuôn mặt của trẻ em vô tội chính là những tiếng than thầm lặng đòi ta phải chịu nhận trách nhiệm: trước số phận vô vọng của họ, mọi biện minh giả tạo cho chiến tranh và bạo lực đều rơi mặt nạ. Ta phải quay đầu trở lại với các kế sách hòa bình, phải đặt mọi vũ khí xuống và cùng nhau xây dựng một thế giới xứng đáng hơn cho con người nhân bản.

Bởi thế, Đức Thánh Cha cho rằng sứ điệp của ngài dành cho Ngày Hòa Bình Thế Giới năm nay “Nếu Bạn Muốn Bồi Đắp Hòa Bình, Hãy Bảo Vệ Sáng Thế” rất thích hợp với cái nhìn của ta về khuôn mặt Thiên Chúa và khuôn mặt con người. Thực vậy, ta có thể nói rằng con người chỉ có thể tôn trọng các tạo vật bao lâu họ ý thức được đầy đủ ý nghĩa của sự sống. Nếu không, họ sẽ có khuynh hướng khinh ghét chính mình và mọi hữu thể chung quanh, không còn tôn trọng môi trường họ sống và trọn bộ công trình Sáng Tạo của Thiên Chúa. Những ai biết nhận ra trong vũ trụ sự phản ánh khuôn mặt vô hình của Đấng Hóa Công, mới có khuynh hướng biết yêu thương hơn đối với các tạo vật và biết nhạy cảm hơn với các giá trị có tính biểu tượng của chúng. Sách Thánh Vịnh đặc biệt phong phú về các chứng tá cho thấy cách liên hệ thực sự nhân bản với thiên nhiên: với bầu trời, với biển khơi, với núi đồi, sông ngòi, thú vật… “Lạy Chúa, công trình Ngài quả thiên hình vạn trạng! Chúa hoàn thành tất cả thật khôn ngoan, những loài Chúa dựng nên lan tràn mặt đất” (Tv 104 [103]: 24).

Cách nhìn về “khuôn mặt” cũng đặc biệt mời gọi ta suy niệm về điều được Sứ Điệp Ngày Hòa Bình Thế Giới năm nay gọi là “sinh thái nhân bản”. Thực vậy, có một sợi dây liên kết chặt chẽ giữa việc kính trọng con người và việc bảo tồn sáng thế. Số 12 của Sứ Điệp này dạy rằng: “Nhiệm vụ của ta đối với môi trường phát sinh từ nhiệm vụ đối với con người, xét về cả hai phương diện cá nhân lẫn mối liên hệ hỗ tương”. Nếu con người bị thoái hóa, thì môi trường sống của họ cũng sẽ thoái hóa theo; nếu văn hóa quy hướng về chủ nghĩa hư vô thì nếu bản chất lý thuyết không phải trả giá, bản chất thực tiễn cũng phải trả giá cho các hậu quả của nó. Thực vậy, ta có thể ghi nhận ảnh hưởng hỗ tương giữa khuôn mặt của con người và “khuôn mặt” của môi trường: “khi sinh thái nhân bản được xã hội tôn trọng, thì sinh thái môi trường cũng được tôn trọng” (Thông Điệp Đức Ái Trong Chân Lý, số 51). Chính vì thế, Đức Thánh Cha một lần nữa kêu gọi người ta phải đầu tư vào giáo dục. Song song với việc chuyển giao các ý niệm kỹ thuật và khoa học, một việc dĩ nhiên là cần thiết, phải dạy cho người ta một tinh thần “trách nhiệm sâu rộng hơn về sinh thái”, đặt căn bản trên lòng kính trọng con người và các quyền lợi cũng như bổn phận căn bản của họ. Chỉ cách đó, cam kết của ta với môi trường mới thực sự trở thành một nền giáo dục cho hòa bình và cho việc xây dựng hòa bình.

Sau cùng Đức Thánh Cha nhắc đến điệp khúc Thánh Vịnh trong Mùa Giáng Sinh. Ngoài nhiều điều khác, điệp khúc này nhắc đi nhắc lại điển hình kỳ diệu cho thấy việc Thiên Chúa xuống thế làm người đã làm rạng rỡ khuôn mặt (hiển dung, transfigure) sáng thế ra sao và làm phát sinh ra một loại cử hành có thể gọi là lễ hội vũ trụ. Thánh vịnh này bắt đầu bằng lời mời gọi người ta ca ngợi: “Hãy hát lên mừng Chúa một bài ca mới, hãy hát lên mừng Chúa, hỡi toàn thể địa cầu! Hãy hát lên mừng Chúa, hãy chúc tụng Danh Người” (Tv 96 [95]: 1-2a). Và rồi đến một lúc nào đó, lời mời gọi trên được mở rộng để ngỏ cùng toàn thể sáng thế: “Trời vui lên, đất hãy nhảy mừng, biển gầm vang cùng muôn hải vật, ruộng đồng cùng hoa trái, nào hãy hỉ hoan, hỡi cây cối rừng xanh, hãy reo mừng trước tôn nhan Chúa” (các câu 11-12). Cuộc cử hành của niềm tin đã trở thành cuộc cử hành của con người nhân bản và của sáng thế: việc cử hành này cũng được diễn tả trong việc trang trí trên cây, trên đường phố và trên nhà cửa trong dịp Giáng Sinh. Mọi sự bừng nở như mới vì Thiên Chúa đã xuất hiện giữa chúng ta. Đức Mẹ Đồng Trinh trưng Chúa Hài Đồng Giêsu cho các mục đồng Bê-lem và những người này hân hoan lên tiếng ngợi ca Thiên Chúa (xem Lc 2:20). Giáo Hội làm mới lại mầu nhiệm ấy cho con người thuộc mọi thế hệ về sau. Giáo Hội cho họ thấy Khuôn Mặt Thiên Chúa để nhờ ơn của Người họ có thể tiến bước trên con đường hòa bình.