Chúa Nhật 2 Phục Sinh-B
Tôi tin ! Tôi tin ! Tôi tin !
Đối với những người có đầu óc thực nghiệm, đa nghi, và muốn có những dẫn chứng cụ thể qua những hành động và sự việc xẩy ra chung quanh cuộc sống, thì Tôma là mẫu người lý tưởng. Đứng trước những lời trình bày của các bạn hữu về việc Chúa sống lại và đến thăm các ông, Tôma vẫn muốn tìm một chứng cớ rõ ràng: “Nếu tôi không nhìn thấy các dấu đinh. Nếu tay tôi không xỏ vào các vết đinh nơi tay Ngài. Và nếu tôi không thọc bàn tay tôi vào cạnh sườn Ngài. Tôi không tin” (Gio 21:25).
Trong các Tông Đồ và bạn hữu của Chúa Giêsu, Phêrô năng nổ, nhưng bộc trực; Gioan chiêm niệm, thần bí; Maria Mađalêna tình cảm; còn Tôma thì thực nghiệm. Ông luôn luôn đặt những mối nghi ngờ, và muốn có những dẫn chứng cụ thể. Đọc những gì Gioan ghi lại về mẩu đối thoại của Ông và những đòi hỏi của Ông liên quan đến biến cố Phục Sinh, người đọc có cảm tưởng Tôma là một người “gàn”. Cá tính ấy của Ông có thể làm cho một số bạn hữu bực mình. Và cũng có thể, Ông không được bạn hữu niềm nở nhiều trong những giao thiệp thường ngày. Lý do, vì Ông hay thắc mắc, và những thắc mắc ấy nhiều khi gây khó chịu và va chạm. Chúa Giêsu cũng đã nói về cá tính ấy của Ông: “Chớ cứng lòng, nhưng hãy tin” (Gio 21:28).
Ta hãy tưởng tượng khi các Tông Đồ đang hân hoan về việc Thầy sống lại, họ đã nhìn Thầy một cách tỏ tường, vì Thầy đã hiện ra với họ. Trước những lời tường thuật và chứng cớ ấy, nhất là trong hoàn cảnh các ông đang còn lo lắng vì liên lụy với Thầy, thì việc Thầy sống lại, chiến thắng như thế phải là một tin vui, là một biến cố lớn. Phải đón nhận tin này như một khích lệ để vượt qua những thử thách và áp lực quần chúng, cũng như của các Tư Tế sau cái chết của Thầy mình. Trong hoàn cảnh ấy, Tôma cần phải mau mắn đón nhận tin Thầy sống lại, và tin như thế là hợp tình, hợp lý. Nhưng Tôma đã không làm. Đối với Ông, việc tin tưởng lớn lao như thế không thể chỉ dựa vào lời nói của một vài người. Do đó, Ông không ngại tuyên bố những lời coi như thách thức trên. Đối với Ông, đó là những đòi hỏi cần thiết cho niềm tin của Ông. Chuyện xẩy ra đúng như Ông yêu cầu. Tám ngày sau, Chúa Giêsu đã hiện ra, vừa thách đố lại Ông, cũng vừa để củng cố Đức Tin của Ông: “Hãy xem tay Thầy đây. Hãy xỏ ngón tay con vào vết đinh. Hãy thọc bàn tay con vào cạnh sườn Thầy” (Gio 21:27). Thế là Ông tin ngay: “Lậy Chúa tôi. Lậy Thiên Chúa của tôi” (Gio 21:28).
Thực ra, những người như Tôma không phải là ít. Những người nghi ngờ về biến cố Phục Sinh của Chúa Giêsu cũng không phải là ít. Chính vì số người nghi ngờ ấy, mà đòi hỏi của Tôma được coi là phù hợp với tâm tính của những người mang bản chất thực nghiệm. Những nhà khoa học, những nhà nghiên cứu hiện nay phần lớn đều mang tâm tính như Tôma, vì những nguyên tắc của khoa học đều được xây dựng trên những giả thiết đã được chứng nghiệm.
Bằng một cái nhìn có tính cách khoa học thực nghiệm, thì việc Tôma nghe các bạn hữu thuật lại việc Chúa đến viếng thăm các ông sau khi sống lại có thể đúng mà cũng có thể không. Vậy hãy đặt vấn đề này trên căn bản một giả thiết. Nhưng làm sao có thể chứng minh giả thiết ấy đúng hay không đúng, thì việc Chúa cho Tôma được đụng chạm đến những yếu tố căn bản làm nên việc sống lại là một chứng minh cụ thể. Đối với Tôma thì niềm tin ấy cần phải được chứng nghiệm, nếu không Ông vẫn cảm thấy chưa chắc chắn để xây dựng một Đức Tin vững mạnh về biến cố Phục Sinh. Chúa Giêsu đã kịp thời củng cố niềm tin của Ông. Cũng như hai môn đệ làng Emmau, khi nhìn thấy Chúa bẻ bánh đã nhận ra Ngài, thì Tôma sau khi đã được chứng nghiệm bằng hành động xỏ tay vào lỗ đinh và thọc bàn tay vào cạnh sườn Thầy, Ông đã tin. Chúng ta phải cảm ơn Tôma, vì chính Ông mà chúng ta được lời chúc phúc: “Phúc cho những ai không thấy mà tin” (Gio 21:29).
Căn cứ vào lời chúc phúc trên, những người sau Tôma và như Tôma, tuy không thấy Chúa Giêsu bằng cặp mắt thể lý, nhưng ít nhiều đã thấy Ngài nhờ vào chứng từ của các Tông Đồ, nhất là nhờ vào nhận thức Đức Tin của Tôma. Ông đã củng cố niềm tin của các thế hệ sau bằng những thách đố của Ông, nhờ đó đã giải quyết được rất nhiều những thắc mắc và nghi vấn cho những ai không thấy Chúa. Giả sử nếu chỉ căn cứ vào những chữ viết để diễn tả lại cảnh Chúa Giêsu hiện ra với các Tông Đồ, ta vẫn có lý để nghi ngờ rằng không biết sự miêu tả ấy có đúng với những gì đã xẩy ra, hoặc lại do trí tưởng tượng của con người cấu tạo nên. Nhưng nhờ Tôma mà ta biết rằng điều mình tin hoàn toàn đúng. Ta có cảm tưởng như Ông đang nói với mình: “Các bạn hãy tin Chúa Giêsu chịu chết và sống lại đi. Các bạn hãy tin những gì các Tông Đồ khác nói về biến cố này đi. Chính tôi trước đó cũng nghi ngờ như các bạn, nhưng may mắn được đụng chạm đến Chúa, và vì thế tôi tin.”
Trong tương quan giữa tâm linh và tâm lý, mầm sống Đức Tin phải được lớn lên một cách tự nhiên qua những tác động sống đạo thường ngày của mỗi Kitô hữu. Hạt giống Đức Tin được gieo trong tâm hồn mỗi người khi nhận Bí Tích Rửa Tội, nhưng tùy vào ảnh hưởng của từng thửa đất mà trổ sinh hoa trái. Cuộc sống tâm lý và tâm linh luôn có những ràng buộc và liên kết mật thiết với nhau. Do đó, mới có những người chú trọng vào sự sốt sắng tình cảm, có những người lại đặt trọng tâm vào những suy niệm thần bí, và cũng có những người chỉ cảm thấy mến Chúa, yêu Chúa theo đám đông và bị thu hút bởi ảnh hưởng của đám đông. Tóm lại, có những người tự nhiên cảm thấy mến Chúa, yêu Chúa say mê như Phêrô. Một tình yêu nồng nàn, bột phát và rất thẳng thắn. Ngược lại, có những người tuy không hoài nghi Chúa, nhưng vẫn không thấy yên tâm nếu như trí óc không tìm được những lý giải cho những lý do để tin tưởng, như trường hợp của Tôma. Giữa hai thái cực ấy là phần đông những người với Đức Tin vật vờ, và rất dễ bị giao động. Những người chỉ tin khi được may mắn, nhưng lại hoài nghi khi gặp thử thách. Tin Chúa, nhưng vẫn coi bói, tử vi, hoặc tướng số.
Chúa đã sống lại. Alleluia! Trong những ngày đầu Phục Sinh, biến cố này đang làm xao động và thực sự đang thổi một luồng gió mới vào niềm tin của các Tông Đồ, vào những ai tin tưởng vào Chúa Giêsu. Nhưng liệu có phải là những điều đồn đại vu vơ, pha trộn với tình cảm. Đây có phải là hiện tưởng tâm lý bệnh hoạn của ảo tưởng và ảo giác gây ra không. Và để xóa tan những mối nghi ngờ ấy, ta phải cảm ơn Tôma, một con người có đầu óc thực nghiệm. Tin đó, nhưng vẫn cần có một dấu hiệu khả tín, và nhất là không tin mù quáng, tin theo cảm tình. Dựa vào những gì Tôma đã cảm nghiệm, đã đụng chạm tới, chúng ta hãy vui mừng và reo lên “Chúa đã phục sinh. Alleluia”.
Trích dongcong.net
Tôi tin ! Tôi tin ! Tôi tin !
Đối với những người có đầu óc thực nghiệm, đa nghi, và muốn có những dẫn chứng cụ thể qua những hành động và sự việc xẩy ra chung quanh cuộc sống, thì Tôma là mẫu người lý tưởng. Đứng trước những lời trình bày của các bạn hữu về việc Chúa sống lại và đến thăm các ông, Tôma vẫn muốn tìm một chứng cớ rõ ràng: “Nếu tôi không nhìn thấy các dấu đinh. Nếu tay tôi không xỏ vào các vết đinh nơi tay Ngài. Và nếu tôi không thọc bàn tay tôi vào cạnh sườn Ngài. Tôi không tin” (Gio 21:25).
Trong các Tông Đồ và bạn hữu của Chúa Giêsu, Phêrô năng nổ, nhưng bộc trực; Gioan chiêm niệm, thần bí; Maria Mađalêna tình cảm; còn Tôma thì thực nghiệm. Ông luôn luôn đặt những mối nghi ngờ, và muốn có những dẫn chứng cụ thể. Đọc những gì Gioan ghi lại về mẩu đối thoại của Ông và những đòi hỏi của Ông liên quan đến biến cố Phục Sinh, người đọc có cảm tưởng Tôma là một người “gàn”. Cá tính ấy của Ông có thể làm cho một số bạn hữu bực mình. Và cũng có thể, Ông không được bạn hữu niềm nở nhiều trong những giao thiệp thường ngày. Lý do, vì Ông hay thắc mắc, và những thắc mắc ấy nhiều khi gây khó chịu và va chạm. Chúa Giêsu cũng đã nói về cá tính ấy của Ông: “Chớ cứng lòng, nhưng hãy tin” (Gio 21:28).
Ta hãy tưởng tượng khi các Tông Đồ đang hân hoan về việc Thầy sống lại, họ đã nhìn Thầy một cách tỏ tường, vì Thầy đã hiện ra với họ. Trước những lời tường thuật và chứng cớ ấy, nhất là trong hoàn cảnh các ông đang còn lo lắng vì liên lụy với Thầy, thì việc Thầy sống lại, chiến thắng như thế phải là một tin vui, là một biến cố lớn. Phải đón nhận tin này như một khích lệ để vượt qua những thử thách và áp lực quần chúng, cũng như của các Tư Tế sau cái chết của Thầy mình. Trong hoàn cảnh ấy, Tôma cần phải mau mắn đón nhận tin Thầy sống lại, và tin như thế là hợp tình, hợp lý. Nhưng Tôma đã không làm. Đối với Ông, việc tin tưởng lớn lao như thế không thể chỉ dựa vào lời nói của một vài người. Do đó, Ông không ngại tuyên bố những lời coi như thách thức trên. Đối với Ông, đó là những đòi hỏi cần thiết cho niềm tin của Ông. Chuyện xẩy ra đúng như Ông yêu cầu. Tám ngày sau, Chúa Giêsu đã hiện ra, vừa thách đố lại Ông, cũng vừa để củng cố Đức Tin của Ông: “Hãy xem tay Thầy đây. Hãy xỏ ngón tay con vào vết đinh. Hãy thọc bàn tay con vào cạnh sườn Thầy” (Gio 21:27). Thế là Ông tin ngay: “Lậy Chúa tôi. Lậy Thiên Chúa của tôi” (Gio 21:28).
Thực ra, những người như Tôma không phải là ít. Những người nghi ngờ về biến cố Phục Sinh của Chúa Giêsu cũng không phải là ít. Chính vì số người nghi ngờ ấy, mà đòi hỏi của Tôma được coi là phù hợp với tâm tính của những người mang bản chất thực nghiệm. Những nhà khoa học, những nhà nghiên cứu hiện nay phần lớn đều mang tâm tính như Tôma, vì những nguyên tắc của khoa học đều được xây dựng trên những giả thiết đã được chứng nghiệm.
Bằng một cái nhìn có tính cách khoa học thực nghiệm, thì việc Tôma nghe các bạn hữu thuật lại việc Chúa đến viếng thăm các ông sau khi sống lại có thể đúng mà cũng có thể không. Vậy hãy đặt vấn đề này trên căn bản một giả thiết. Nhưng làm sao có thể chứng minh giả thiết ấy đúng hay không đúng, thì việc Chúa cho Tôma được đụng chạm đến những yếu tố căn bản làm nên việc sống lại là một chứng minh cụ thể. Đối với Tôma thì niềm tin ấy cần phải được chứng nghiệm, nếu không Ông vẫn cảm thấy chưa chắc chắn để xây dựng một Đức Tin vững mạnh về biến cố Phục Sinh. Chúa Giêsu đã kịp thời củng cố niềm tin của Ông. Cũng như hai môn đệ làng Emmau, khi nhìn thấy Chúa bẻ bánh đã nhận ra Ngài, thì Tôma sau khi đã được chứng nghiệm bằng hành động xỏ tay vào lỗ đinh và thọc bàn tay vào cạnh sườn Thầy, Ông đã tin. Chúng ta phải cảm ơn Tôma, vì chính Ông mà chúng ta được lời chúc phúc: “Phúc cho những ai không thấy mà tin” (Gio 21:29).
Căn cứ vào lời chúc phúc trên, những người sau Tôma và như Tôma, tuy không thấy Chúa Giêsu bằng cặp mắt thể lý, nhưng ít nhiều đã thấy Ngài nhờ vào chứng từ của các Tông Đồ, nhất là nhờ vào nhận thức Đức Tin của Tôma. Ông đã củng cố niềm tin của các thế hệ sau bằng những thách đố của Ông, nhờ đó đã giải quyết được rất nhiều những thắc mắc và nghi vấn cho những ai không thấy Chúa. Giả sử nếu chỉ căn cứ vào những chữ viết để diễn tả lại cảnh Chúa Giêsu hiện ra với các Tông Đồ, ta vẫn có lý để nghi ngờ rằng không biết sự miêu tả ấy có đúng với những gì đã xẩy ra, hoặc lại do trí tưởng tượng của con người cấu tạo nên. Nhưng nhờ Tôma mà ta biết rằng điều mình tin hoàn toàn đúng. Ta có cảm tưởng như Ông đang nói với mình: “Các bạn hãy tin Chúa Giêsu chịu chết và sống lại đi. Các bạn hãy tin những gì các Tông Đồ khác nói về biến cố này đi. Chính tôi trước đó cũng nghi ngờ như các bạn, nhưng may mắn được đụng chạm đến Chúa, và vì thế tôi tin.”
Trong tương quan giữa tâm linh và tâm lý, mầm sống Đức Tin phải được lớn lên một cách tự nhiên qua những tác động sống đạo thường ngày của mỗi Kitô hữu. Hạt giống Đức Tin được gieo trong tâm hồn mỗi người khi nhận Bí Tích Rửa Tội, nhưng tùy vào ảnh hưởng của từng thửa đất mà trổ sinh hoa trái. Cuộc sống tâm lý và tâm linh luôn có những ràng buộc và liên kết mật thiết với nhau. Do đó, mới có những người chú trọng vào sự sốt sắng tình cảm, có những người lại đặt trọng tâm vào những suy niệm thần bí, và cũng có những người chỉ cảm thấy mến Chúa, yêu Chúa theo đám đông và bị thu hút bởi ảnh hưởng của đám đông. Tóm lại, có những người tự nhiên cảm thấy mến Chúa, yêu Chúa say mê như Phêrô. Một tình yêu nồng nàn, bột phát và rất thẳng thắn. Ngược lại, có những người tuy không hoài nghi Chúa, nhưng vẫn không thấy yên tâm nếu như trí óc không tìm được những lý giải cho những lý do để tin tưởng, như trường hợp của Tôma. Giữa hai thái cực ấy là phần đông những người với Đức Tin vật vờ, và rất dễ bị giao động. Những người chỉ tin khi được may mắn, nhưng lại hoài nghi khi gặp thử thách. Tin Chúa, nhưng vẫn coi bói, tử vi, hoặc tướng số.
Chúa đã sống lại. Alleluia! Trong những ngày đầu Phục Sinh, biến cố này đang làm xao động và thực sự đang thổi một luồng gió mới vào niềm tin của các Tông Đồ, vào những ai tin tưởng vào Chúa Giêsu. Nhưng liệu có phải là những điều đồn đại vu vơ, pha trộn với tình cảm. Đây có phải là hiện tưởng tâm lý bệnh hoạn của ảo tưởng và ảo giác gây ra không. Và để xóa tan những mối nghi ngờ ấy, ta phải cảm ơn Tôma, một con người có đầu óc thực nghiệm. Tin đó, nhưng vẫn cần có một dấu hiệu khả tín, và nhất là không tin mù quáng, tin theo cảm tình. Dựa vào những gì Tôma đã cảm nghiệm, đã đụng chạm tới, chúng ta hãy vui mừng và reo lên “Chúa đã phục sinh. Alleluia”.
Trích dongcong.net