CHIA SẺ ĐẦU NĂM MỚI



(Xuân Canh Dần)


XUÂN CỦA CON NGƯỜI: ƯỚC MƠ VÀ HY VỌNG


1. Năm mới của ước mơ.

Mỗi năm xuân đều đến và mỗi ngày người ta thường ước mơ, nhưng ước mơ đầu năm mới thì luôn là ước mơ mà con người thường hy vọng đạt được.

Năm mới thì khác với năm cũ, bởi vì năm cũ có quá nhiều chuyện đau buồn, nhiều chuyện không vui, và có khi gặp xui xẻo. Do đó mà khi năm mới đến, thì ai ai cũng mơ ước năm mới đến đem lại nhiều bình an và hạnh phúc hơn năm cũ.

Ước mơ của người nghèo là có cơm ngày ba bữa đủ dùng, có công ăn việc làm ổn định.

Ước mơ của các thầy cô giáo là mong muốn thế hệ học trò của mình học hành thành đạt và sẽ là những chủ nhân của đất nước ngày mai.

Ước mơ của những người yêu chuộng hòa bình là mong muốn xã hội công bằng bác ái, mọi người sống yêu thương nhau...

Năm mới đến thì có nhiều ước mơ mới, và ước mơ đầu năm mới thì vẫn luôn là ước mơ mà mọi người mong muốn nhất.

2. Năm mới của hy vọng.

Ngày đầu năm mới, người ta không muốn nói đến chuyện xui xẻo, cũng không muốn nói đến những chuyện buồn trong năm qua, nhưng người ta thích nói đến hy vọng, hy vọng một năm mới đầy mọi sự tốt lành cho mọi người.

Xuân hy vọng là xuân tràn ngập niềm vui, vui bởi vì ai cũng có những hy vọng trong năm mới, bởi vì hy vọng chính là nguyên nhân thúc đẩy con người ta vươn tới, tiến lên và sống vui vẻ trong mọi hoàn cảnh, nhất là những người Ki-tô hữu càng thêm hy vọng vào tình yêu và lòng nhân từ của Thiên Chúa, bởi vì khi cuộc sống của họ ngày càng ngắn đi khi đón mừng năm mới, thì họ càng thêm hy vọng ngày đoàn tụ với Chúa trên thiên đàng sắp đến.

Hy vọng đầu năm mới, hy vọng trong những ngày đầu xuân của mọi người càng được thể hiện cách rõ ràng nhất qua việc chuẩn bị đón Tết đến:

Nơi nhà thờ giáo xứ, cha sở thì lo tìm những câu Kinh Thánh để giáo dân hái lộc trong thánh lễ giao thừa, và mỗi giáo dân hy vọng hái được Lộc Thánh đầu năm sẽ là Lời Chúa soi sáng cuộc sống của họ trong suốt năm mới.

Nơi mỗi gia đình, mọi người đều trang hoàng bàn thờ Chúa và bàn thờ tổ tiên, với những câu đối, những chậu hoa đẹp rực rỡ, để hy vọng một năm mới tốt đẹp với ơn Chúa ban, và sự cầu bàu của ông bà tổ tiên.

Xuân đến, năm mới đến, người người hy vọng, nhà nhà hy vọng, hy vọng ơn Chúa tràn ngập tâm hồn, hy vọng công thành danh toại, hy vọng cuộc sống ấm no hạnh phúc...

XUÂN MỚI – NĂM THÁNH LINH MỤC

Giáo Hội là mùa xuân được bắt đầu từ khi Chúa Thánh Thần hiện xuống, như thế có thể nói Chúa Thánh Thần là gió mùa xuân khởi đầu từ các thánh tông đồ. Mùa xuân của ơn cứu độ, mùa xuân của ơn thánh, mùa xuân của nhân loại, và mùa xuân đem ơn cứu rỗi cho nhân loại.

Xuân mới năm nay, Giáo Hội hoàn vũ đang trong thời gian mừng Năm Thánh Linh Mục, mở ra một năm hồng ân, sám hối hòa giải, cho các linh mục của Giáo Hội, để các ngài với vai trò là mục tử của đoàn chiên nhận ra căn tính đích thực của thiên chức linh mục chính là Tế Lễ, Phục Vụ và Hy Sinh như chính Chúa Giê-su vậy.

Linh mục vẫn luôn là mùa xuân của các linh hồn, bởi vì mùa xuân là sự bắt đầu, từ nơi các linh mục mọi sự được bắt đầu cho đời sống thiêng liêng của người Ki-tô hữu, chính nơi các linh mục mà sự sống ân sủng của Chúa Giê-su Ki-tô tràn trề tuôn xuống trong tâm hồn của người Ki-tô hữu, do đó mà toàn thể giáo hữu của Giáo Hội trên khắp hoàn cầu đều hy vọng các linh mục của mình ngày càng nên hoàn hảo hơn trong đức ái, và mong ước các linh mục của mình ngày càng thánh thiện hơn trong công việc mục vụ của các ngài.

1. Hy vọng.

Cứ mỗi năm mới đến, mùa xuân tới, giáo dân đều chúc tết các cha sở của mình qua năm mới mạnh khỏe hơn để phục vụ, tràn đầy ơn Chúa để dẫn dắt giáo dân, nhưng ít có giáo dân nào chúc tết cha sở mình: mong cha sống hiền lành, hòa đồng với mọi người và vui vẻ với các người già cũng như người trẻ.

Giáo dân hy vọng gì nơi linh mục trong năm mới của năm thánh linh mục này ?

Thưa, giáo dân hy vọng đầu năm mới của năm thánh linh mục này, các linh mục luôn trở thành mẫu mực nhân đức cho họ; hy vọng các linh mục thoát ra khỏi cái vỏ quan liêu hách dịch để trở nên người phục vụ bàn thánh và dân thánh Chúa; hy vọng các linh mục không đi theo trào lưu của thời đại thế tục, nhưng luôn trở thành người bắt kịp và đi trước thời đại để nắm bắt được những cái hay của thời đại mà ứng dụng vào công việc mục vụ truyền giáo của mình, hoặc để thấu hiểu những cái xấu của thời đại để trở thành hàng rào chắn không cho nó thâm nhập vào tâm hồn của các giáo dân trẻ của mình.

Giáo dân nào cũng hy vọng trong Xuân mới của năm thánh linh mục này, các linh mục của mình luôn trở thành mùa xuân và là niềm vui của họ, bởi vì nếu linh mục không trở nên mùa xuân và niềm vui của giáo xứ, thì giáo xứ sẽ vắng bóng nụ cười thông cảm và hoan lạc, giáo xứ sẽ trở thành nơi vắng vẻ thiếu nắng đẹp yêu thương.

2. Phục vụ.

Khi Đức Giáo Hoàng Biển Đức XVI công bố Năm Thánh Linh Mục (19.6.2009 – 19.6.2010), là chính ngài đã kéo mùa xuân đến cho Giáo Hội trên toàn thế giới, bởi vì các linh mục là mùa xuân, và nhờ năm thánh này mà các ngài nhìn lại đời sống thánh hiến và tận hiến của mình, để từ đó mà nhận ra căn tính linh mục của mình được phát xuất từ Chúa Giê-su Ki-tô Linh Mục, là vị thượng tế đời đời theo phẩm hàm Men-ki-sê-đê, mà căn tính của linh mục chính là phục vụ trong yêu thương và hy sinh, đó cũng chính là những tác động của Thánh Thần để mỗi linh mục đểu trở nên mùa Xuân mới không những cho Giáo Hội, mà còn cho tất cả mọi người nữa.

Giáo dân, khi nhìn thấy mục tử của mình phục vụ đoàn chiên cách tận tụy mà không đòi hỏi gì, không một lời kêu ca hay gắt gỏng, thì tự tâm hồn họ như nhìn thấy được mùa xuân với ánh nắng ấm lòng, như nghe được tiếng chim hót vui tai từ trong nội tâm sâu thẳm, bởi vì mỗi lần phục vụ là mỗi lần linh mục diễn lại cảnh Chúa Giê-su ngày xưa đem niềm vui đến cho người què biết đi, người câm nói được, người chết sống lại.v.v...đó không phải là Ngài đem mùa xuân đến cho họ hay sao ?

Xuân mới của Năm Thánh Linh Mục làm cho mỗi linh mục của Chúa Giê-su như mặc lấy áo mùa xuân mới của Ngài, để trở thành Chúa Ki-tô thứ hai trong mầu nhiệm cứu chuộc nhân loại của Thiên Chúa, mà sự phục vụ chân chính của các ngài nói lên được tính chất cao quý của linh mục, như Chúa Giê-su trong đêm thứ Năm trước khi ăn bữa tối sau cùng với các môn đệ, Ngài đã rửa chân cho các ông, rửa chân xong thì Ngài nói với các ông: “Vậy, nếu Thầy là Chúa, là Thầy, mà còn rửa chân cho anh em, thì anh em cũng phải rửa chân cho nhau.”

3. Con người mới.

Mọi người trong nhiệm thể của Chúa Giê-su Ki-tô đều hân hoan mong ước trong Năm Thánh Linh Mục này, mỗi vị mục tử của mình đều trở thành con người mới trong Chúa Giê-su, và trở nên người bạn mới của mọi người.

Giáo Hội Việt Nam cũng nằm trong “quỷ đạo” ấy, cũng đều mong muốn các linh mục trở thành những con người của thời đại để thu hút các bạn trẻ đến với nhà thờ và cũng là đến với Chúa, do đó mà Giáo Hội kêu gọi các linh mục hãy học học các phương cách của khoa học như biết sử dụng internet, biết dùng hòm thư điện tử (email), biết dùng computer để soạn bài giảng và lấy tài liệu cho bài giảng. Và về phương diện phụng vụ, Giáo Hội cũng mong muốn các linh mục hãy cẩn thận khi đứng giảng trên tòa giảng, hãy cẩn trọng và trang nghiêm khi cử hành thánh lễ, hãy siêng năng cầu nguyện và cử hành các giờ kinh phụng vụ cách nghiêm túc...

Tất cả những chỉ dẫn ấy đều mong muốn mỗi một linh mục phải thay đổi cách sống của mình, không tục hóa thiên chức linh mục như một giám đốc xí nghiệp, cũng không coi chức thánh như là một phương tiện để cai trị mà không phục vụ.

Xuân mới trong Năm Thánh Linh Mục, các linh mục của Chúa cần phải thay đổi những gì ?

a. Thay đổi cách suy nghĩ.

Không coi thiên chức linh mục là một chức vụ để được người khác phục vụ nhưng là để phục vụ; không coi thiên chức linh mục là một chức quan lớn nhưng là một tôi tớ phục vụ đúng nghĩa của nó; không đòi hỏi mình phải được ưu tiên hơn những người khác vì mình là linh mục.

Phải đổi mới cách suy nghĩ trên vì Chúa Giê-su đã dạy các tông đồ: phục vụ nhau là dấu chỉ anh em là môn đệ của Thầy. Bởi vì có một vài linh mục đem thiên chức linh mục của mình “bán đi” để được người khác phục vụ, cho nên các ngài trở thành những tảng đá chặn ngang đường, làm cản trở bước chân người khác đến với Chúa và đến với anh chị em mình trong nhà thờ.

- Đem cách suy nghĩ mình là một người được phục vụ thành suy nghĩ mình là kẻ phục vụ tha nhân.

- Đem cách suy nghĩ mình là một chủ nhân ông thành suy nghĩ mình chỉ là một tôi tớ vô dụng.

- Đem suy nghĩ mình thuộc giai cấp quý tộc thành suy nghĩ mình là thuộc giai cấp rốt hèn trong anh chị em.

- Đem suy nghĩ mình là người được đào tạo để làm linh mục ăn trên ngổi trước, thành suy nghĩ mình được Chúa chọn làm linh mục để phục vụ Ngài trong anh chị em của mình.


b. Có cuộc sống đơn giản.

Thời nay, giáo dân được học hỏi giáo lý, được làm quen với các văn kiện của Giáo Hội, cũng như cũng được tham gia các khóa học Kinh Thánh, cho nên giáo dân biết nhiều về những căn bản trong Giáo Hội, nhất là những gì gần gũi với họ, vì thế mà có một số giáo dân thường than phiền về một số linh mục không biết sống hòa đồng với giáo dân, thích ra lệnh hơn là gợi ý, thích chỉ tay năm ngón hơn là mô phạm cho giáo dân.

- Đơn giản trong cách ăn mặc, để không lệ thuộc vào những áo quần mô-đen mới làm cho mình mất thời gian.

- Đơn giản trong cách ăn uống, không cầu kỳ kiểu cách kiểu tây kiểu tàu, nhưng bình dị như Chúa Giê-su cùng với các tông đồ khi đi truyền giáo vậy: chim trời có tổ, cáo chồn có hang, nhưng Con Người không có chỗ gối đầu.

- Đơn giản trong cách làm việc không nặng về hành chánh, vì giáo xứ chứ không phải là công ty, nhưng bất cứ lúc nào giáo dân cũng có thể mời cha sở đi xức dầu bệnh nhân, ngồi tòa giải tội và bàn chuyện linh hồn của họ với cha sở.

- Đơn giản trong giao tiếp, không phân biệt giáo dân thân quen hay sơ quen, bởi vì tất cả đều là giáo dân của mình.

- Đơn giản trong những nhu cầu hằng ngày, không có nhu cầu thì không bận tâm đến.


Chính cuộc sống đơn giản của linh mục sẽ làm cho giáo dân nhìn thấy được tâm hồn yêu mến Chúa nơi các ngài, và chính cuộc sống đơn giản làm cho các linh mục dễ dàng hòa đồng với mọi người hơn, và giáo dân sẽ cảm thấy các linh mục của mình gần gủi với họ hơn, lúc đó giáo xứ mới chính là một đại gia đình thật, và đó cũng là ước mơ của Giáo Hội trong ngày Xuân mới của Năm Thánh Linh Mục này.

Kết

Xuân đến, năm mới đến với niềm hy vọng tràn trề trong tâm hồn của mỗi người Ki-tô hữu, bởi vì hy vọng là sự tin tưởng vào Thiên Chúa toàn năng, tin tưởng vào các linh mục của Chúa ngày càng tinh tuyền thánh thiện hơn, để trở nên một “Đức Ki-tô thứ hai“ đang từng giây phút vác thập giá để chết cho cái tôi của mình và đền tội cho tha nhân, để thông phần đau khổ với Chúa Giê-su và sống lại với Ngài.

Mỗi năm xuân mới đều đến, nhưng Xuân năm nay thì đẹp hơn, vui hơn và hy vọng hơn các mùa xuân đã qua, bởi vì mùa Xuân năm nay là Xuân Năm Thánh Linh Mục, Xuân hồng ân, Xuân hy vọng của các linh mục và của người Ki-tô hữu.

Ngày cuối năm Kỷ Sửu

Lm. Giuse Maria Nhân Tài, csjb.


---------------------

http://www.vietcatholic.net/nhantai

http://vn.myblog.yahoo.com/jmtaiby

jmtaiby@yahoo.com taibytw@hotmail.com