Từ điển tiếng Việt của các ông Minh Tân, Thanh Nghị và Xuân Lãm không có chữ tỉnh thức, mà chỉ có chữ tỉnh, tỉnh ngủ, tỉnh táo. Theo các soạn giả này, chữ tỉnh có ba nghĩa: sáng suốt, hết say và hết ngủ; tỉnh ngủ được các ông bảo là tỉnh táo, không còn buồn ngủ nữa hay dễ dàng tỉnh dậy giữa giấc ngủ khi có những gì bất thường; tỉnh táo là ở trong trạng thái không buồn ngủ hay ở trạng thái vẫn minh mẫn, không để cho tình hình rắc rối, phức tạp tác động đến tư tưởng tình cảm. Như thế, tỉnh ngủ hay tỉnh táo đều được bao hàm trong chữ tỉnh với hai nghĩa rõ ràng một nghĩa vật lý một nghĩa tinh thần. Hán Việt Từ Điển của Đào Duy Anh cũng định nghĩa chữ tỉnh như vậy.

Thế còn chữ thức? Ngoài nghĩa là thứ như thức ăn thức uống, và kiểu cách lề lối như thể thức, phương thức, ba soạn giả kia cho nghĩa thứ ba là biết, như thức giả. Đây có lẽ là nghĩa ta thêm vào cho chữ tỉnh để làm nổi bật nó, bởi lẽ hết ngủ nhưng vẫn còn lơ mơ chưa nhận ra mình và cảnh vật khác nhau, thì chưa thể gọi được là tỉnh thức. Và hẳn đó là nghĩa Chúa Giêsu muốn ta hiểu khi Người dạy ta phải tỉnh thức và cầu nguyện. Ta thử tìm hiểu xem Phúc Âm đã nhấn mạnh tới chủ đề tỉnh thức và cầu nguyện ra sao và bầu khí văn hóa hiện đại có thái độ gì với tỉnh thức và cầu nguyện.

I. Tỉnh thức và cầu nguyện trong Phúc Âm:

Chủ đề tỉnh thức hay canh thức rất được các phúc âm gia quan tâm ghi lại và chủ đề này thường được lồng vào một trình thuật hay một dụ ngôn, một câu truyện đời thực để làm nổi bật tính cấp thiết của nó. Các trình thuật, dụ ngôn và câu truyện đời thực này càng đánh động vào tâm thức người nghe hơn, khi chúng được lồng vào giai đoạn cuối cuộc đời Chúa Giêsu, một giai đoạn chưa chắc các tông đồ nhìn ra lúc ấy, nhưng đối với chúng ta ngày nay, những người từ bây giờ nhìn trở lại hai mươi thế kỷ trước, hẳn phải cảm động mủi lòng vì giai đoạn ấy đánh dấu tình yêu cao cả của Người dành cho ta.

Thực vậy, chỉ có thánh sử Luca đã đề cập tới chủ đề canh thức ở ngay chương 12, tức ở giữa phúc âm của ngài, lúc ngài lồng chủ đề ấy trong một loạt bài giảng của Chúa Giêsu trong đó nhân nói đến dụ ngôn gia nhân đợi chủ đi ăn cưới trở về, thánh nhân cho hay: Chúa Giêsu đã dạy: “Nếu canh hai hoặc canh ba ông chủ mới về, mà còn thấy họ tỉnh thức như vậy thì thật là phúc cho họ” (câu 38), bởi “chủ sẽ thắt lưng, đưa họ vào bàn ăn, và đến bên từng người mà phục vụ” (câu 37). Cũng một chủ đề này đã được Thánh Mátthêu lồng vào chương 24, tức gần cuối phúc âm của ngài, và trình bày dưới một câu truyện lịch sử và một dụ ngôn. Truyện lịch sử chính là truyện Nô-ê tỉnh táo vào tầu và được cứu thoát trong khi mọi người u-mê khác chết thảm dưới biển nước Hồng Thủy. Dụ ngôn thì hơi khác một chút đề cập tới việc nếu ông chủ biết trước giờ nào trộm tới chắc chắn sẽ không để bị mất trộm. Lời dạy qua truyện lịch sử và dụ ngôn này cũng là “anh em hãy sẵn sàng, vì chính giờ phút anh em không ngờ, thì Con Người sẽ đến” (câu 44). Thánh Luca (17:26-30) cũng thuật lại câu truyện Nô-ê vào tầu và còn thêm cả câu truyện ông Lót tỉnh táo được cứu thoát trong khi những người u-mê khác của Sôđôma bị chết thảm trong biển lửa diêm sinh, nhưng ngài để độc giả tự rút ra bài học, chứ không thuật lại lời dạy của Chúa. Thánh Máccô (13:33-37) không thuật lại truyện Nôê cũng như truyện Lót, thay vào đó, ngài kể lại dụ ngôn người kia trẩy đi phương xa, để nhà lại, trao quyền cho các đầy tớ, chỉ định cho mỗi người một việc và ra lệnh cho người giữ cửa phải canh thức. Chữ canh thức này được thánh Máccô nhắc thêm tới ba lần nữa qua chính lời Chúa Giêsu nói liền sau đó: “vậy anh em phải canh thức, vì anh em không biết khi nào chủ nhà đến: lúc chập tối hay nửa đêm, lúc gà gáy hay tảng sáng. Anh em phải canh thức, kẻo lỡ ra ông chủ đến bất thần, bắt gặp anh em đang ngủ. Điều Thầy nói với anh em đây, Thầy cũng nói với hết thẩy mọi người là: phải canh thức”.

Chủ đề canh thức trên còn được Thánh Mátthêu nhắc thêm một lần nữa tại chương 25, các câu từ 1 tới 13, nhân kể lại dụ ngôn năm cô trinh nữ khôn ngoan lo đủ đầu đèn, chờ đợi tham dự tiệc cưới mà vì lý do nào đó chưa thể diễn ra như chương trình đã định, rất có thể vì nhà gái kỳ kèo bớt một thêm hai trước khi chịu để người ta mang con cháu mình đi. Lời Chúa Giêsu khuyên trong dịp này là: “Vậy anh em hãy canh thức, vì anh em không biết ngày nào, giờ nào” (câu 13).

Như thế, hiển nhiên chủ đề tỉnh thức hay canh thức này rất quan trọng đối với Chúa Giêsu và được cộng đồng Kitô Giáo ban đầu mau mắn ghi nhận. Nhưng, tỉnh thức hay canh thức chỉ là một mặt của câu truyện, nó có tính cách tiêu cực nghĩa là không ngủ, đừng có ngủ, đừng có u mê. Đã đành đừng ngủ không phải là việc dễ. Trước khi dẫn các môn đệ vào vườn Diệt Si Ma Ni, Chúa Giêsu từng đã trao cho các môn đệ, nhất là Phêrô, thuốc chống ngủ mà nếu các ông “chịu thuốc” ấy hẳn mắt các ông đã mở thao láo suốt đêm rồi. Vì thuốc ấy mạnh lắm, đó chính là lời tiên báo các ông sẽ phản thầy, ngay đêm đó, người thầy vốn được các ông yêu thương cùng ăn cùng ở suốt ba năm trường. Cả ba phúc âm nhất lãm (Lc 22:31-37; Mt 26:30-35; Mc:26-31) đều thuật lại tình tiết trao thuốc chống ngủ này và cả ba (Mt 26:36-56; Mc 14:32-50; Lc 22:39-53) đều cho hay “thuốc chống ngủ” ấy không hiệu nghiệm. Các ông rơi vào một giấc ngủ còn say sưa hơn cả giấc ngủ của Adong lúc Thiên Chúa cho ông ta ngủ mê ngủ mệt để rút một sương sườn của ông ta mà tạo ra Evà. Chính trong khung cảnh này, Chúa đề cập tới mặt tích cực của câu truyện hay đúng hơn cả hai mặt của cùng một câu truyện đó là tỉnh thức và cầu nguyện.

Thánh Matthêu kể lại: sau lần cầu nguyện thứ hai, trở lại nơi các tông đồ đang ngủ, Chúa nói với Phêrô: “Thế ra anh em không thể canh thức nổi với Thầy một giờ sao? Anh em hãy canh thức và cầu nguyện để khỏi lâm vào cơn cám dỗ. Vì tinh thần thì hăng hái, nhưng thể xác lại yếu đuối” (26:40-41). Có thể nói trình thuật về tình tiết này trong phúc âm Máccô cũng giống hệt. Riêng phúc âm Luca có hơi khác một chút: phúc âm này không đề cập tới ba lần cầu nguyện, mà chỉ nói rằng: sau khi cầu nguyện, thấy các môn đệ ngủ cả, Chúa Giêsu nói với các ông: “Sao anh em lại ngủ? Dậy mà cầu nguyện, kẻo sa chước cám dỗ”. Chỉ nhắc đến một vế cầu nguyện. Tuy nhiên, trước đó (chương 21:34-36), phúc âm Luca cho hay: sau khi thuật lại dụ ngôn cây vả, Chúa dạy các môn đệ: “vậy anh em hãy tỉnh thức và cầu nguyện luôn, hầu đủ sức thoát khỏi mọi điều sắp xảy đến và đứng vững trước mặt Con Người”.

II. Tỉnh thức và cầu nguyện trong bầu khí văn hóa hiện đại,

Văn hóa hiện đại nhấn mạnh tới tỉnh thức mà bỏ qua cầu nguyện. Chính vì vậy, họ đổ xô tìm về Đông Phương, với Ấn Độ giáo, với thiền với Phật, với cả Khổng Tử và Lão Tử. Thậm chí những người như Thích Nhất Hạnh và cả Vô Thượng Sư Thanh Hải nữa cũng được rất nhiều đồ đệ tây phương tin theo, trở thành những bậc thầy ưu hạng. Vì những nguồn này đang cung cấp cho họ đủ thứ tỉnh thức, đủ thứ giác ngộ, đủ thứ hiểu biết về ta bà thế giới và chỉ có thế chứ không đi vào cõi mầu nhiệm, bởi vì mầu nhiệm là siêu việt, là phải vươn lên, là phải ra khỏi con người mình để kết hợp, để tương giao. Nói cho ngay, họ dừng lại ở linh đạo, không vượt qua nó mà vươn tới tôn giáo. Linh đạo không trói buộc, tôn giáo trói buộc, vì các học giả hiện nay như Tom Harpur và Joseph Campbell, vốn dựa vào thánh Augustine, mà cho rằng tôn giáo, religion, là thoát thai từ động từ latinh re-ligare có nghĩa là cột buộc, nối kết, tái nối kết, nối kết lại. Tất nhiên là nối kết con người nhân bản trên thì với trời, ngang thì với người và dưới thì với vạn vật. Tôn giáo là gặp gỡ, là cầu nguyện. Vì cầu nguyện quả là gặp gỡ.

Theo David Ranson (1), một linh mục thuộc giáo phận Broken Bay (tổng giáo phận Sydney), giảng viên tại Học Viện Công Giáo Sydney, về môn linh đạo và thần học mục vụ, thì hiện đang có sự phân ly lớn giữa linh đạo và tôn giáo. Nhiều người tự cho mình theo linh đạo, hay đang dấn thân vào hành trình linh đạo, nhưng lại không chịu nhận mình là người theo một tôn giáo nào. Họ từ khước tôn giáo, vì, theo tâm lý gia Kenneth Pargament, “tôn giáo ngày nay được coi như tổ chức, nghi lễ, ý thức hệ trong khi linh đạo được liên kết với bản thân, với cảm thức, với cảm nghiệm, và với tư duy”. Nhiều người cười nhạo ông Hồ khi với tư cách người vô thần, ông dám viết trong chúc thư là sắp sửa đi gặp Mác Lê. Cười thì cười vậy, chứ thực ra, người vô thần tuy không phải là người tôn giáo, nhưng họ vẫn có thể là người linh đạo, tin một thực tại linh thiêng vượt lên trên thực tại trông thấy, giống như ông François Mitterrand, nguyên tổng thống nước Pháp, một người theo thuyết bất khả tri. Trong lời đề tựa cho cuốn La Mort Intime (2) của nữ sĩ Marie de Hennezel, vị nguyên tổng thống này nhận định: “Có lẽ mối liên hệ của ta với cái chết chưa bao giờ lại nghèo nàn như hiện nay trong cái sa mạc linh đạo hiện đại, trong đó, sự hối hả bám lấy cõi hiện sinh đơn thuần đã khiến ta bỏ qua mọi cảm thức mầu nhiệm”. Ngắm nhìn những người giáp mặt với cái chết một cách thanh thản, ông tự hỏi “đâu là nguồn cội của thứ bình an ấy trong mắt họ? Mỗi khuôn mặt của họ hằn in vào ký ức tôi bộ mặt của chính vĩnh hằng. Danièle chẳng hạn dù chỉ còn nói được bằng ánh mắt nhưng bất chấp tình thế vô phương cứu chữa ấy, cô vẫn đầy sự sống, đầy óc tò mò về phía bên kia, phía mà cô sắp bước vào mà không cần niềm tin tôn giáo”. Người vô tôn giáo như François Mitterand nhận định tiếp: “Từ cảnh bại liệt trên giường bệnh viện, Danièle gửi ta sứ điệp sau cùng này: tôi không tin một Thiên Chúa công bình, hay một Thiên Chúa yêu thương… nhưng tôi cũng không tin chúng ta lại bị giản lược vào một đống nguyên tử nào đó. Bất cứ điều gì bảo ta rằng có một cái gì đó bên ngoài vật chất, bạn mặc tình gọi nó là linh hồn, hay là tinh thần, hay là ý thức tùy thích, nhưng tôi tin vào tính bất tử của cái đó”.

Không nói đâu xa, ngay những người tự xưng là tôn giáo cũng từng phân ly linh đạo ra khỏi tôn giáo như ông Hồ, ông Mitterrand. Trong bài nói truyện với Ủy Ban Thần Học Quốc Tế tuần qua tại Vatican, Đức Giáo Hoàng Bênêđíctô XVI đã nhận diện những người tôn giáo này nơi các luật sĩ tại Giêrusalem xưa. Họ sẵn sàng chỉ đường cho Ba Vua tới Bê-lem, nhưng chính họ thì vẫn tiếp tục nằm ở Giêrusalem, không cùng lên đường tìm gặp sự thật. Đức Giáo Hoàng bảo rằng ngày nay cũng đang xẩy ra một điều giống như thế: “Trong 200 năm nay, có những con người hết sức tài năng, những nhà chuyên môn vĩ đại, các thần học gia và thầy dạy đức tin chói sáng từng dạy chúng ta nhiều điều. Họ lục lọi mọi chi tiết của Sách Thánh và lịch sử cứu rỗi, nhưng họ lại không thể nhìn ra chính mầu nhiệm, chính cái tâm điểm chân thực: rằng Chúa Giêsu thực là Con Thiên Chúa. Người ta dễ dàng nhắc tới nhiều tên tuổi vĩ đại trong lịch sử thần học của 200 năm vừa qua, những con người dạy dỗ chúng ta nhiều điều nhưng không chịu mở lòng mình cho mầu nhiệm”. Đức Giáo Hoàng nói rằng: Với họ, Chúa Giêsu mãi mãi là một Chúa Giêsu lịch sử, một nhân vật thảm hại, một bóng ma không thịt không xương, một ai đó vẫn còn nằm trong mồ, đang rữa nát, chết thật rồi”, chứ không phải là Con Thiên Chúa hằng sống, người đang mời gọi ta đi vào liên hệ. Linh đạo chứ không tôn giáo. Họ đã dừng lại ở tỉnh thức, ở hiểu biết chứ không chịu dấn thân cầu nguyện. Họ không lên đường. Như Ba Vua. Những người hết sức tỉnh thức, lúc nào cũng dõi mắt lục lọi không gian để tìm ra ngôi sao dẫn đường. Họ là người hiểu biết, là bác học, là khoa học gia. Nhưng biết rồi, họ đã lên đường, họ đã đi tìm gặp gỡ, họ đã cầu nguyện, họ đã không như những người luật sĩ Giêrusalem biết chỉ đường cho họ mà không biết cùng đi với họ, cùng đi gặp gỡ, cùng đi vào mầu nhiệm.

Không thiếu người Công Giáo ngày nay cũng tự bằng lòng với tỉnh thức, với hiểu biết, với linh đạo và nhất định không chịu dấn thân vào mầu nhiệm, vào cầu nguyện. Họ không giống các mục đồng Bê-lem, những người hẳn phải tỉnh thức mới nghe được giọng ca và sứ điệp thiên thần và biết được rồi, biết được mầu nhiệm rồi, họ đã hân hoan rủ nhau cùng tới Bê-lem. Bức tranh trên tường nhà nguyện chăn chiên ở Cánh Đồng Chiên tại Bê-lem ngày nay diễn tả cái hân hoan ấy sống động đến độ khiến du khách tưởng mình như lùi lại hơn 2 ngàn năm trước để cùng họ tận hưởng cái vui của Noel đầu tiên.

Nói thì dễ, lên đường như họ chẳng phải chuyện dễ. Trước nhất đòi ta phải đừng mê ngủ. Đức Tổng Giám Mục Ngô Quang Kiệt (3) nói rằng đời sống có những bóng đêm ru ta ngủ say mê: bóng đêm danh vọng, bóng đêm xác thịt, bóng đêm ích kỷ, bóng đêm tiền tài v.v… Thứ hai, đòi ta phải tỉnh táo phân định, bởi theo Đức Tổng Giám Mục, Chúa đến rất âm thầm lặng lẽ, trong hiền lành khiêm nhường như một người phục vụ, trong y phục dân dã, trong hình dạng những con người bé nhỏ quanh ta, những con người bần cùng khốn khổ, những khuôn mặt xanh xao hốc hác, những tấm thân gầy guộc, Người lẫn vào giữa đám đông vô danh, những kẻ đang bị loại ra ngoài xã hội. Đức Tổng Giám Mục cũng cho rằng tỉnh thức không phải là ngồi đó để mà chờ đợi, kiểu há miệng chờ sung. Giống như ông chủ đi vắng, trao nhiệm vụ cho từng gia nhân, bảo họ thay ông quản lý mọi việc. Người trao cho ta trách nhiệm trông coi gia đình, cộng đoàn, địa phương, đất nước. Ta phải làm cho các thực tại ấy tốt hơn. Ta phải cầu nguyện, bởi làm việc chính là cầu nguyện laborare est orare. Tỉnh thức cũng là nhìn thấy nhu cầu của anh em và đáp ứng các nhu cầu ấy. Đáp ứng nhu cầu chính là làm việc, là cầu nguyện. Tỉnh thức là nhìn thấy ý Chúa trong các trào lưu thời đại, điều mà Đức Chân Phúc Giáo Hoàng Gioan XXIII gọi là dấu chỉ thời gian để cùng với mọi người thiện chí thực hiện ý ấy để biến thế giới thành một nơi tốt hơn.

Tỉnh thức như thế là tỉnh thức tốt, tỉnh thức thật. Nhưng không thiếu những thứ tỉnh thức mà vẫn rất u mê, rất mê ngủ. Đó là cái tỉnh thức của tông đồ Phêrô. Sau một giấc ngủ mê mệt, một giấc ngủ mà Thầy Chí Thánh hai lần tới đánh thức, ông vẫn không nhúc nhích, Phêrô chỉ tỉnh thức khi nghe tiếng loảng xoảng của vũ khí va vào nhau, những tiếng la ó đinh tai nhức óc của binh lính đến bắt Thầy. Nhưng bước tiếp theo của ông không phải là cầu nguyện, mà là rút gươm ra chém đứt tai tên đầy tớ của thầy cả thượng phẩm. Khỏi nhắc thì qúy vị thính giả cũng đủ thấy là ông bị Thầy quở. Chúa bảo ông tỉnh thức và cầu nguyện, có đâu tỉnh thức và đấm đá. Không thiếu các đồ đệ của Chúa ngày nay cũng đang tỉnh thức và đấm đá, thay vì tỉnh thức và cầu nguyện.

___________________________________________________________________________________

(1) Across The Great Divide, Bridging Spirituality and Religion Today

(2) Chia Sẻ Tin Mừng Chúa Nhật Năm B

(3) Éditions Robert Laffont, Paris 1995