Nhân Hội Nghị Quốc Tế Chuyên Đề Lần Thứ Tám về Tôn Giáo, Khoa Học và Môi Trường đang họp tại Memphis, tiểu bang Tennessee của Hoa Kỳ, với chủ đề: “Tái lập quân bình: Sông Lớn Mississippi”, Đức Giáo Hoàng Bênêđíctô XVI đã nhờ Đức Cha Gregory M. Aymond, Tổng Giám Mục New Orleans, chuyển tới Đức Thượng Phụ Chính Thống Bartholomew I, một bức thư ca ngợi “các cố gắng của Thượng Phụ trong việc cổ vũ lòng kính trọng đối với công trình sáng tạo của Thiên Chúa và ý thức liên đới hoàn cầu trong việc quản lý khôn ngoan và có trách nhiệm đối với ân phúc qúy giá ấy”.

Bức thư của Đức Thánh Cha nói tiếp: “Từ thuở xa xưa, nước vẫn luôn được nhìn nhận như một sự thiện nhân bản hàng đầu và là một tài nguyên thiên nhiên không thể thiếu được. Quanh những con sông lớn của thế giới, như Mississippi chẳng hạn, các nền văn hóa vĩ đại đã được triển phai, trong khi ấy, qua nhiều thế kỷ, sự thịnh vượng của rất nhiều xã hội đã được liên kết với các dòng nước này. Tuy nhiên, hiện nay, các hệ thống sông ngòi lớn của mọi lục địa đang gặp đe dọa trầm trọng, thường là do hành vi và quyết định của con người.

“Sự quan tâm tới số phận những con sông lớn của trái đất phải dẫn chúng ta tới việc suy nghĩ tỉnh táo về các mô thức phát triển mà xã hội chúng ta đang theo đuổi. Chỉ hiểu tiến bộ theo phương diện kinh tế và kỹ thuật mà thôi, đến độ không biết nhìn nhận các hạn chế nội tại của nó và xem sét sự thiện tổng thể của nhân loại, chắc chắn sẽ đem đến nhiều hậu quả tiêu cực cho các cá nhân, các dân tộc và chính sáng tạo (xin xem Tuyên Bố Chung, 30 tháng Mười Một năm 2006). Phát triển có tính nhân bản thực sự cũng đòi phải có một nền công lý liên thế hệ và một sự liên đới thực tiễn đối với các thế hệ tương lai, là những người có quyền được hưởng các thiện ích mà tạo dựng của Chúa có ý ban phát dư thừa cho mọi người”.

Đức Thánh Cha nhất trí với Thượng Phụ rằng: “các vấn đề khẩn cấp liên quan tới việc chăm sóc và bảo vệ môi trường, dù đụng tới nhiều vấn đề quan trọng về chính trị, kinh tế, kỹ thuật và khoa học, song chủ yếu vẫn có bản chất đạo đức, và việc giải quyết cuộc khủng hoảng sinh thái của thời đại này nhất thiết đòi những người cùng thời với chúng ta phải có sự thay đổi tâm hồn”. Theo Đức Thánh Cha, “thiên nhiên có trước chúng ta, và vì là khung cảnh cho cuộc sống chúng ta, nên nó phải được sử dụng một cách có trách nhiệm, bằng cách tôn trọng sự quân bình nội tại của nó. Như một biểu thức tình yêu và chân lý của Đấng Hóa Công, thiên nhiên phải được nhìn nhận như chứa đựng một thứ ‘văn phạm có mục đích xác định ra mục tiêu và tiêu chuẩn hướng dẫn việc sử dụng nó một cách khôn ngoan, chứ không khai thác nó một cách bất cẩn’ (Caritas in Veritate, 48). Chính vì lý do này, qua đức tin của mình, người Kitô hữu được mời gọi tham dự vào việc cung hiến cho thế giới một chứng tá đáng tin về tinh thần trách nhiệm trong việc gìn giữ sáng thế, và cộng tác bằng mọi cách vào việc đảm bảo rằng trái đất của chúng ta bảo tồn được nét cao cả, vẻ đẹp và sự phong phú Chúa ban cho”.

Thượng phụ xanh

Người chủ trì Hội Nghị Chuyên Đề tại Memphis là Thượng Phụ Bartholomew I, hiện là Tổng Giám Mục Constantinople, New Rome và là Thượng Phụ Đại Kết của Giáo Hội Chính Thống, đấng kế vị thứ 270 của Thánh Tông Đồ Anrê và là nhà lãnh đạo thiêng liêng của 300 triệu Kitô Hữu Chính Thống trên khắp thế giới. Vốn là một công dân Thổ Nhĩ Kỳ, kinh nghiệm bản thân của Thượng Phụ Bartholomew đem lại cho ngài một cái nhìn độc đáo về cuộc đối thoại liên tục giữa thế giới Kitô Giáo với các thế giới Hồi Giáo và Do Thái Giáo. Ngài luôn cố gắng cổ vũ việc hòa giải giữa các cộng đồng Công Giáo, Hồi Giáo và chính thống Giáo và hỗ trợ các biện pháp xây dựng hòa bình để tháo ngòi các tranh chấp hoàn cầu.

Trong tư cách Tổng Giám Mục Constantinople và New Rome, Thượng Phụ Bartholomew nắm giữ Tòa Thứ Nhất của Giáo Hội Chính Thống và chủ tọa mọi vị giáo chủ khác của Chính Thống trong tinh thần anh em. Thượng Phụ Đại Kết có trách nhiệm lịch sử và thần học trong việc dẫn khởi và phối hợp các hành động của các Giáo Hội Chính Thống tại Alexandria, Antioch, Jerusalem, Russia, Serbia, Romania, Bulgaria, Georgia, Cyprus, Greece, Poland, Albania, Lãnh Thổ Czech và Slovakia, Finland, Estonia, và nhiều tổng giáo phận khác ở tân và cựu thế giới. Điều ấy bao gồm việc triệu tập các công đồng hay hội nghị, điều hợp các cuộc đối thoại liên phái và liên tôn và làm người phát ngôn hàng đầu của sự hiệp nhất Giáo Hội như một toàn thể.

Từ khi nắm giữ chức vụ Đại Kết năm 1991, Thượng Phụ Bartholomew đã chu du nhiều nơi nhằm phục hồi các Giáo Hội trước đây bị bách hại dưới chế độ Cộng Sản vô thần và do đó, được mệnh danh là phát ngôn viên của Giáo Hội Tử Đạo trong thế kỷ 20. Ngài đã tái lập Giáo Hội Độc Lập Albania và Giáo Hội Độc Lập Estonia, và tiếp tục là nguồn hỗ trợ thiêng liêng và tinh thần cho các quốc gia thuộc truyền thống Chính Thống mới ngoi lên từ cả mấy thập niên bách hại sau Bức Màn Sắt. Thượng Phụ cũng được mệnh danh là phát ngôn viên của hòa giải trong thiên niên kỷ mới. Ngài luôn cố gắng chuẩn bị cho Giáo Hội Chính Thống đảm nhiệm vai trò làm trung gian giữa Đông và Tây. Trong tư cách Thượng Phụ Đại Kết, ngài đã ba lần triệu tập các vị lãnh đạo của các Giáo Hội Chính Thống độc lập khắp thế giới, thúc giục họ mạnh mẽ theo đuổi các giải pháp cho các thách thức của thiên niên kỷ mới, như dứt khoát lên án chủ nghĩa quốc gia và chủ nghĩa cuồng tín. Cùng với Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II, ngài đã hỗ trợ các tiến bộ nhằm hòa giải hai Giáo Hội Công Giáo và Chính Thống.

Vai trò của Thượng Phụ Bartholomew trong tư cách đệ nhất lãnh đạo tinh thần của thế giới Kitô Giáo Chính Thống và nhân vật siêu quốc gia có tầm cỡ hoàn cầu mỗi ngày một trở nên quan yếu. Ngài từng đồng bảo trợ Hội Nghị Hòa Bình và Khoan Dung tại Istanbul năm 1994, hội tụ các người Kitô Giáo, Hồi Giáo và Do Thái Giáo. Tuy nhiên, nổi tiếng hơn cả là các nỗ lực của ngài trong lãnh vực ý thức môi sinh, các nỗ lực khiến ngài được ca tụng là “Thượng Phụ Xanh”. Công trình của ngài về phương diện này được thể hiện rõ rệt nhất qua một loạt các Hội Nghị Chuyên Đề về môi sinh, bắt đầu từ năm 1995, do cơ quan Tôn Giáo, Khoa Học và Môi Trường (RSE) tổ chức. Cơ quan này do chính Thượng Phụ bảo trợ.

Các cố gắng trên đây của Thượng Phụ đã khiến ngài được xếp vào hàng các tông đồ ưu hạng của yêu thương, hòa bình và hoà giải của nhân loại và là lý do khiến ngài được Lưỡng Viện Mỹ trao tặng Huy Chương Vàng Quốc Hội. Năm 2002, ngài cũng được trao Giải của Viện Binding, Liechtenstein và giải Sophie vì “các nỗ lực tiên phong nối kết đức tin với môi trường”. Tháng Tư năm 2005, ngài là một trong bẩy nhân vật đầu tiên lãnh giải Quán Quân Trái Đất của cơ quan UNEP (Chương Trình Môi Sinh Liên Hiệp Quốc).

Các Hội Nghị Chuyên Đề

Từ năm 1995, 8 hội nghị chuyên đề đã được RSE đứng ra tổ chức, nhằm nghiên cứu số phận các nguồn nước của thế giới, vốn chiếm 7/10 diện tích trái đất. Các hội nghị qui tụ các khoa học gia, các nhà môi sinh học, các nhà làm chính sách và đại diện các tôn giáo chính trên thế giới này đã thiết lập được một phong trào đạo đức về môi sinh rất sinh động.

Tháng 9 năm 1995, Hội Nghị Chuyên Đề I: Mạc Khải và Môi Trường từ năm 95 tới năm 1995 dưới sự chủ tọa của Thượng Phụ Bartholomew và Hoàng Thân Philip, Quận Công Edinburgh, nhân dịp kỷ niệm năm thứ 1900 “Sách Khải Huyền” của Thánh Gioan. Du hành trên Biển Aegea, Hội Nghị Chuyên Đề này đã nhận diện việc thoái hóa các nguồn nước của thế giới như một thứ tân khải huyền đang thách thức toàn bộ nhân loại và đòi phải có một ngôn ngữ chung cho tư duy khoa học và thần học để giải quyết nhiều thế kỷ hiểu lầm.

Hội Nghị Chuyên Đề II: Hắc Hải trong Khủng Hoảng, được tổ chức hồi tháng Chín năm 1997 dưới sự đồng chủ tọa của Thượng Phụ Bartholomew và ông Jacques Santer, Chủ Tịch Ủy Ban Châu Âu, coi biển này như một trường hợp điển hình cho môi trường đại dương. Các tham dự viên đã du hành quanh Hắc Hải, thăm tất cả 6 quốc gia và tham dự nhiều cuộc tranh luận sôi nổi về việc xuống dốc của các hệ sinh thái đại dương và vai trò của tôn giáo, khoa học và chính trị trong việc đảo ngược lại điều ấy. Nhiều sáng kiến quan trọng đã được đưa ra thuộc bình diện tôn giáo, khoa học và chính phủ như: các cam kết của các định chế tài chánh quốc tế, việc hợp tác vùng lớn lao hơn giữa các chính phủ và các tổ chức phi chính phủ, cũng như lập ra các dự án giáo dục và huấn luyện về môi trường trong khu vực. Hội nghị cũng thấy rằng không có giải pháp hữu hiệu nào cho Hắc Hải nếu không giải quyết nạn xuống cấp của các dòng sông lớn vốn đổ ra nó cũng như các thách đố môi sinh khác của các quốc gia trong vùng.

Hội Nghị Chuyền Đề III: Sông Sự Sống, Từ Danube tới Hắc Hải, được tổ chức tháng Mười năm 1999, qui tụ các nhà lãnh đạo quốc tế và vùng Danube thuộc lãnh vực tôn giáo, khoa học, chính sách môi sinh, chính trị và truyền thông cùng nhau du hành dọc theo Sông Danube, từ Passau, Đức, tới tận vùng châu thổ của nó tại Hắc Hải, để thăm dò một cơ sở chung cho các vấn đề môi sinh thực tiễn và các chiều kích tâm linh của thiên nhiên. Du hành dọc theo một trong những con sông lớn của Châu Âu, Hội Nghị Chuyên Đề này đã tập chú vào các tác động của chiến tranh, của phát triển đô thị, của kỹ nghệ hóa, của hàng hải và canh nông. Cũng như hai hội nghị chuyên đề trước, hội nghị lần này được truyền thông thế giới lưu tâm và đã gợi hứng cho nhiều sáng kiến trong vùng.

Hội Nghị Chuyên Đề IV: Biển Adriatic: Một Biển Đang Gặp Nguy Cơ, Hợp Nhất Mục Tiêu, được tổ chức năm 2002, bàn đến các khía cạnh đạo đức của cuộc khủng honảg môi sinh. Môi trường không phải chỉ là một đối tượng nghiên cứu hay một khu vực thuộc quan tâm quản trị. Nó là không gian của hàng triệu con người sinh sống và chia sẻ trách nhiệm gìn giữ gia tài đặc biệt. Nhu cầu bồi đắp các giá trị sinh thái và cổ vũ ý thức môi sinh mỗi ngày một trở nên khẩn thiết hơn. Trong Hội Nghị Chuyên Đề này, nhiều ý niệm đã được đưa ra liên quan tới việc tôn giáo có thể thúc đẩy nhân loại hướng tới các vấn đề đạo đức sinh thái ra sao… Cao điểm của Hội Nghị Chuyên Đề này là biến cố có tính lịch sử trong đó Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II và Thượng Phụ Bartholomew cùng ký bản “Tuyên Bố Venice về Môi Sinh”.

Hội Nghị Chuyên Đề V: Biển Baltic: Gia Tài Chung, Trách Nhiệm Chung, được tổ chức năm 2003. Biển Baltic nằm trên biên giới và nhận ô nhiễm của 9 quốc gia, rất khác nhau về tài nguyên thiên nhiên, về kinh tế, cấu trúc xã hội và lối sống. Việc chấm dứt Chiến Tranh Lạnh đã cho phép việc hồi sinh các liên hệ chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa và tôn giáo trong vùng. Hội Nghị Chuyên Đề này kêu gọi người ta chú ý tới các vấn để của Biển Baltic cùng các nguyên nhân của chúng và cổ vũ đối thoại giữa tôn giáo và khoa học từng được các hội nghị chuyên đề trước khuyến khích. Nó đưa ra nhiều sáng kiến để ủng hộ các nỗ lực hiện nay nhằm bảo vệ Biển Baltic và áp dụng các bài học học được từ các phần khác của thế giới từng bị đe dọa về phương diện môi sinh.

Hội Nghị Chuyên Đề VI: Sông Amazon, Nguồn Sống, là một hội nghị 8 ngày, được tổ chức năm 2006, bắt đầu tại Manaus, thủ phủ của Bang Amazonas thuộc Brazil, và từ đó du hành ngược dòng sông trên 10 con thuyền để thăm các địa điểm môi sinh khác nhau, giúp các đại biểu cơ hội độc đáo để khảo sát các điều kiện của Sông Amazon, mà không có bất cứ câu trả lời hay giải pháp tiên thiên nào. Mục tiêu của hội nghị là khai triển được một qui luật đạo đức hướng dẫn hành động và chính sách môi sinh. Hơn 200 nhà lãnh đạo tôn giáo, khoa học, môi trường và viên chức chính phủ Brazil và khắp thế giới đã tham gia hội nghị chuyên đề này. Họ đi từ các vấn đề đạo đức môi sinh tới các vấn đề chuyên biệt như nạn phá rừng và việc đánh mất tính đa dạng môi sinh, việc dẫn nhập các sinh vật được cải tạo di truyền (GMO) vào các hệ sinh thái tại Amazon, các quyền lợi và các cuộc tranh đấu của người bản địa cũng như tác động của Amazon đối việc thay đổi khí hậu hoàn cầu.

Hội Nghị Chuyên Đề VII: Bắc Cực: Tấm Gương Sự Sống, diễn ra hồi tháng 9 năm 2007. Vẻ hùng vĩ thầm lặng của Bắc Cực tương phản hẳn với vẻ sum sê đầy mầu sắc của rừng nhiệt đới Brazil. Tuy nhiên, ngay tại đây, người ta vẫn thấy tác động về môi sinh của Amazon. Hội Nghị Chuyên Đề đã viếng thăm các nơi từng chịu ảnh hưởng nặng nề bởi việc băng đá chẩy nước. Hội nghị đã được chứng kiến những khối đá băng khổng lồ, hiện vẫn còn rất lớn nhưng mỗi ngày mỗi lùi dần về Cực nhiều hơn. Tại đây, các nhà lãnh đạo của nhiều tín ngưỡng và ngành chuyên môn đã sát cánh cầu nguyện cho hành tinh của chúng ta, xin cho cuộc hành hương Bắc Cực của mình được mọi người hằng quan tâm tới tương lai nhân loại hưởng ứng, bất kể họ ở Manaus hay Moscow, Borneo hay Beijing, Innsbruck hay Ottawa. Chúng ta biết rõ những đỉnh băng nhưng lại làm ngơ các cảnh giác được viết rõ trên chóp thế giới. Toàn bộ hành tinh của ta đang gặp nguy cơ từ những băng sơn chẩy nước tại Greenland. Tương lai chúng ta đang bị đe dọa bởi việc mất mát nét trắng xóa đầy phản chiếu qúy giá của băng sơn Bắc Cực.

Hội Nghị Chuyên Đề VIII

Hội nghị Chuyên Đề VIII với chủ đề: Sông Mississippi Vĩ Đại: Tái Lập Quân Bình, diễn ra tại New Orleans, Hoa Kỳ, tháng Mười 2009. Thượng Phụ Bartholomew, khi khai mạc hội nghị này ngày 21 tháng Mười, nhấn mạnh tới vai trò của người có đức tin trong việc chăm sóc các tài nguyên của trái đất. Ngài cho hay: lý do chọn Mississippi là do được chứng kiến những hậu quả thảm khốc của trận bão Katrina và trận lụt tiếp theo đó đối với nhiều vùng quanh con sông vĩ đại này vào năm 2005.

Thượng Phụ nói rằng: “Khi nhìn con sông vĩ đại này và khảo sát các thách đố mà các cộng đồng địa phương từng gặp phải, chúng ta hãy cùng nhau tìm ra các giải pháp theo cái nhìn đức tin, vì ý thức rằng tất cả chúng ta đều đang ở trên cùng một con thuyền mỏng manh của sự sống… Chúng ta đang sống những giây phút quyết định của lịch sử, và ta phải sống những giây phút ấy với nhau trong sự thật, trong tình yêu, trong hy vọng, và nhất là trong trách nhiệm”.

Thượng phụ nhận định rằng Hội Nghị Chuyên Đề lần này có tính lịch sử và độc đáo. “Sông là một thế giới vi mô của hành tinh ta. Trong các làn nước của nó, ta thấy nhiều vấn đề sinh thái của thế giới. Trước nó, ta thấy mình trở thành khiêm hạ. Ta tới đây để lắng nghe truyện kể về nó, để học hỏi từ lịch sử của nó”. Ngài cũng cho rằng việc nới rộng quyền thống trị của con người trên thiên nhiên từng gây ra việc mất mát “một nửa số rừng lớn của thế giới vì nhu cầu cần gỗ và cải đất cho nông nghiệp, mà không nghĩ rằng những thứ thân trữ nước khổng lồ này có nhiệm vụ cung cấp phần lớn nước ngọt cho chúng ta. Một số con sông lớn nhất của thế giới hiện đang bị ảnh hưởng của con người làm kiệt quệ đến không còn sức chẩy ra biển nữa. Còn những con sông nào còn đủ sức thì lại chuyên chở theo các dòng nước của mình đủ thứ phân bón hóa chất, thuốc trừ cỏ, thuốc trừ sâu và vật liệu phế thải chúng lượm được trên đường chẩy”.

Ngài cũng cho hày các khu vực sa mạc ngày một gia tăng trên thế giới trong khi nơi đại dương, lượng dự trữ cá càng ngày càng giảm đi do nạn đánh cá bừa bãi và số cá còn lại thì bị nhiễm độc bởi những chất thải độc hại người ta liệng bỏ vô tội vạ vào môi trường của chúng”.

Một trong những điềm chính của hội nghị là tính mỏng manh của các thành phố duyên hải như New Orleans đối với mực nước biển đang dâng cao hơn và việc xẩy ra thường xuyên hơn các trận bão nhiệt đới. Các nhà chuyên môn sẽ cung cấp cho hội nghị những con số mới nhất về việc chẩy nước của băng đá tại khu vực Bắc Cực cho thấy mực nuớc biển dâng cao sẽ xẩy ra sớm hơn dự liệu từ trước đến nay, với quy mô cũng lớn hơn nhiều. Điều này sẽ đặt ra nhiều nan đề nghiêm trọng cho việc bảo vệ các thành phố lâm nguy như New Orleans, London, New York, Dacca thuộc Bangladesh và Manila thuộc Philippines, thẩy đều là những thành phố được xây dựng trên những dự đoán lỗi thời về mực nước biển dâng cao.

Riêng đối với Mississippi, tác giả John Barry, một tham dự viên Hội Nghị Chuyên Đề lần này, cho hay: nước Mỹ đã phạm khá nhiều sai lầm. Theo ông “trước khi xây các con đê dọc theo Sông Mississippi để bảo vệ các khu vực có dân cư, sông này thường xuyên tích lũy phù sa để tạo đất cho vùng châu thổ. Tuy nhiên, 40,000 đập đã được xây dựng trong nhiều thập niên qua làm giảm đáng kể lượng phù sa cần để tạo lập các đầm lầy duyên hải. Sáu đập phát điện khổng lồ đặt tại Montana, North Dakota và South Dakota đã kìm hãm phân nửa số phù sa do sông chuyên chở. Trước đây, nó từng tạo được 34,000 dặm vuông đất tại 7 tiểu bang thuộc vùng lũ lụt. Hiện nay, vùng này chỉ còn nhận được từ 30 tới 40 phần trăm lượng phù sa đáng lẽ đã có của Mississippi. Đương nhiên việc ấy có ảnh hưởng lớn đối với việc sói mòn đất đai vùng duyên hải. Ông bảo New Orleans đã mất đến 2,300 dặm vuông đất, lớn hơn cả tiểu bang Delaware

Đức Cha Gregory M. Aymond, Tổng Giám Mục Công Giáo của New Orleans, nhân dịp này, đã long trọng đọc thư của Đức Thánh Cha Bênêđíctô XVI gửi Thượng Phụ. Đức Hồng Y Theodore McCarrick cũng tham dự Hội Nghị Chuyên Đề này. Cùng với nhiều đại diện tôn giáo hoàn cầu khác.