Giáo hội là cộng đoàn dân Chúa, mọi tín hữu nhờ thần linh Chúa là dấu chỉ cho thế giới. Dể dấu chỉ này có thể tồn tại, thì sự hiện diện của linh mục không thể thiếu. Giữa cộng đoàn đức tin, linh mục là dấu chỉ cho thấy việc rao giảng, việc cử hành phụng vụ và lối sống của linh mục không phải là sự qui định của cộng đoàn. Vấn đề nằm ở việc đạo lí, cử hành bí tích, phục vụ, duy trì sự hợp nhất với Chúa và với nhau. Qua những việc làm này của linh mục, cộng đoàn cảm nghiệm được giáo hội không phải là việc của loài người, nhưng là công trình của Chúa, đấng hằng sống.
Như thế, toàn thể cộng đoàn là dấu chỉ của tình yêu Chúa cho thế giới. Vì thế, giới giáo sĩ (giám mục, linh mục, phó tế) rất cần cho sứ vụ này, vì họ làm cho Chúa sống động. Sứ vụ linh mục thừa tác không thể thiếu đối với chức linh mục phổ quát của cộng đoàn. Linh mục cần lắng nghe lời Chúa, để trở nên dấu chỉ sống động, dù bất toàn. Linh mục được gọi trở nên dấu chỉ của cái điều do Chúa ban cho cộng đoàn, chứ không phải cái điều mà cộng đoàn muốn thực hiện.
Có phải đó là hình thức tinh tế của hàng giáo sĩ? Vì như thế là đặt linh mục lên cao, làm tổn thương cộng đoàn dân Chúa? Không phải thế, bởi vì linh mục làm tất cả nhưng điều này với sự khiêm tốn to lớn. Dĩ nhiên là với những năng quyến cần thiết của con người, nhưng không một chút kiêu hảnh. Linh mục chỉ là người tiên phong giữa giáo hội, khi linh mục lắng nghe lời Chúa. Mở rộng cho Chúa, đấng mà linh mục chia sẻ với mỗi tín hữu, là nền tảng và trợ lực của ngài. Vì đó là ơn gọi và sứ vụ của linh mục. Khi linh mục khám phá ra ơn gọi của ngài là tiếng gọi của lời Chúa, ngài tìm thấy lối thoát cho ngài. Linh mục mở lòng ra cho lời Chúa, ngài sẽ khám phá ra sự giải thoát. Bởi vì linh mục là dấu chỉ của lời Chúa, là đầy tớ vô dụng, là khí cụ cho công trình của Chúa, đấng chăn dắt dân ngài.
Linh mục là dấu chỉ, vi thế ngài không phải gánh cả thế giới trên vai, không phải cứu cả giáo hội. Thành quả của lời giảng dạy, bí tích và sự dấn thân của ngài chỉ là những mảnh vụn của một công trình. Ngài không phải tìm đến mọi người, không thể có mặt khắp nơi và sẵn sàng đáp ứng cho mọi người. Ngài không thể sắp xếp mọi việc, không thể chữa lành mọi bịnh nhân. Ngài không thể rao giảng trong mọi hội đường, không thể phục vụ mọi người. Ngài không phải làm hết mọi sự, không thể gánh vác và tổ chức mọi điều cho toàn thể cộng đoàn, vì người tín hữu có thể làm được, nhờ khả năng và đặc sủng của họ. Nhưng ngài là dấu chỉ tình yêu vô biên của Chúa. Ngài làm niềm hi vọng nảy sinh về điều đã bắt đầu toả sáng, và sẽ xảy ra cho mọi người khi Chúa hoàn thành thiên quốc của Chúa.
Như thế, toàn thể cộng đoàn là dấu chỉ của tình yêu Chúa cho thế giới. Vì thế, giới giáo sĩ (giám mục, linh mục, phó tế) rất cần cho sứ vụ này, vì họ làm cho Chúa sống động. Sứ vụ linh mục thừa tác không thể thiếu đối với chức linh mục phổ quát của cộng đoàn. Linh mục cần lắng nghe lời Chúa, để trở nên dấu chỉ sống động, dù bất toàn. Linh mục được gọi trở nên dấu chỉ của cái điều do Chúa ban cho cộng đoàn, chứ không phải cái điều mà cộng đoàn muốn thực hiện.
Có phải đó là hình thức tinh tế của hàng giáo sĩ? Vì như thế là đặt linh mục lên cao, làm tổn thương cộng đoàn dân Chúa? Không phải thế, bởi vì linh mục làm tất cả nhưng điều này với sự khiêm tốn to lớn. Dĩ nhiên là với những năng quyến cần thiết của con người, nhưng không một chút kiêu hảnh. Linh mục chỉ là người tiên phong giữa giáo hội, khi linh mục lắng nghe lời Chúa. Mở rộng cho Chúa, đấng mà linh mục chia sẻ với mỗi tín hữu, là nền tảng và trợ lực của ngài. Vì đó là ơn gọi và sứ vụ của linh mục. Khi linh mục khám phá ra ơn gọi của ngài là tiếng gọi của lời Chúa, ngài tìm thấy lối thoát cho ngài. Linh mục mở lòng ra cho lời Chúa, ngài sẽ khám phá ra sự giải thoát. Bởi vì linh mục là dấu chỉ của lời Chúa, là đầy tớ vô dụng, là khí cụ cho công trình của Chúa, đấng chăn dắt dân ngài.
Linh mục là dấu chỉ, vi thế ngài không phải gánh cả thế giới trên vai, không phải cứu cả giáo hội. Thành quả của lời giảng dạy, bí tích và sự dấn thân của ngài chỉ là những mảnh vụn của một công trình. Ngài không phải tìm đến mọi người, không thể có mặt khắp nơi và sẵn sàng đáp ứng cho mọi người. Ngài không thể sắp xếp mọi việc, không thể chữa lành mọi bịnh nhân. Ngài không thể rao giảng trong mọi hội đường, không thể phục vụ mọi người. Ngài không phải làm hết mọi sự, không thể gánh vác và tổ chức mọi điều cho toàn thể cộng đoàn, vì người tín hữu có thể làm được, nhờ khả năng và đặc sủng của họ. Nhưng ngài là dấu chỉ tình yêu vô biên của Chúa. Ngài làm niềm hi vọng nảy sinh về điều đã bắt đầu toả sáng, và sẽ xảy ra cho mọi người khi Chúa hoàn thành thiên quốc của Chúa.