Đã từ lâu, Đức Bênêđíctô XVI cho người ta thấy Kitô Giáo không tin các “đấng” thiên sai chính trị. Và tuần vừa qua, ngài nhắc ta nhớ Đấng Thiên Sai thực sự chỉ là Chúa Kitô, Đấng giúp ta ảnh hưởng tới chính trị một cách hợp đạo đức.
Thực vậy, lời nói của ngài tại Cộng Hòa Czech, một quốc gia đang kỷ niệm 20 năm thoát ách Cộng Sản, có nhiều hệ luận quan trọng đối với toàn cõi Âu Châu và lục địa Mỹ Châu, hai nơi có lịch sử gắn liền với Kitô giáo.
Tại buổi gặp gỡ đại kết vào Chúa Nhật, Đức Giáo Hoàng nhận định rằng: “Cùng lúc với việc lắng nghe lịch sử Kitô Giáo, Âu Châu cũng nghe được chính lịch sử của mình. Ý niệm của Âu Châu về công lý, tự do và trách nhiệm xã hội, cùng với các định chế văn hóa và luật lệ lập ra để bảo toàn các ý niệm trên và truyền chúng lại cho các thế hệ tương lai, đều đã được lên khuôn bởi gia tài Kitô Giáo của mình”.
Sau đó, Đức Giáo Hoàng cho hay: không được đẩy Kitô Giáo ra bên lề xã hội. Tự do tôn giáo phải được bảo vệ, và Kitô Giáo phải có tiếng nói trên diễn đàn công, để lên khuôn lương tâm cho lục địa và mang lại sự nhất trí luân lý. Ngỏ lời với các viên chức chính phủ vào hôm Thứ Bẩy, Đức Giáo Hoàng cho hay: “Tôi muốn nhấn mạnh vai trò không thể thay thế của Kitô Giáo trong việc đào tạo lương tâm cho từng thế hệ và cho việc cổ vũ sự nhất trí căn bản về luân lý từng phục vụ mọi con người đang gọi lục địa này là nhà”. Rồi ngài nhận định rằng: các tín hữu nên luôn luôn tới với chính trị từ quan điểm Kitô giáo của mình, chứ không được đặt Kitô giáo dưới các giải thích chính trị. Ngài nói: “Không bao giờ nên để sự nhạy bén đối với chân lý phổ quát bị che mờ bởi quyền lợi đặc thù, bất kể các quyền lợi này quan trọng ra sao, vì làm thế sẽ chỉ dẫn tới những điển hình mới của tan vỡ hay kỳ thị xã hội, điều mà chính các nhóm quyền lợi hay nhóm vận động hậu trường có ý định vượt qua”.
Phía bên kia
Theo Anderson, Hiệp Sĩ Columbus Tối Cao, điều Đức Giáo Hoàng Bênêđíctô nói về Âu Châu cũng đúng cho cả Mỹ Châu nữa. Ở đó, các Kitô hữu cũng phải đem chân lý Kitô giáo mà ảnh hưởng tới việc đào luyện lương tâm cho các quốc gia của họ.
Cùng ngày với Đức Giáo Hoàng lên tiếng về nhu cầu phải có tiếng nói công cho tôn giáo và đạo đức tại công trường ở Prague, một nghị luận hội về tự do tôn giáo cũng được tổ chức tại Mexico City. Nghị luận hội này thảo luận lịch sử và tương lai của tự do tôn giáo tại bán cầu Mỹ Châu.
Tại Mỹ Châu cũng như tại Âu Châu, toàn bộ lịch sử của lục địa chỉ là lịch sử của những người được rửa tội trong Kitô giáo. Tại Mỹ Châu, mỗi quốc gia đều được Kitô hữu thành lập, mà phần đông là Công Giáo, và điều cũng quan trọng là mỗi quốc gia, kể cả Hoa Kỳ và Gia Nã Đại, đều có một truyền thống Công Giáo mạnh mẽ.
Và đức tin tại Mỹ Châu vẫn còn rất sinh động, kể từ ngày Đức Cha Zumárraga, giám muc tiên khởi của Mễ Tây Cơ, cho tới những công trình quan yếu vì tự do tôn giáo ở Hợp Chúng Quốc do John Carroll và muôn vàn người khác thực hiện. Ngày nay, Giáo Hội Công Giáo đã trở thành một phần trong kinh nghiệm Mỹ Châu, và cả lương tâm Mỹ Châu nữa, từng bước lại từng bước, bất kể vấn đề là dân quyền, tự do tôn giáo hay quyền sống. Thực vậy, sự đóng góp của Giáo Hội vào trật tự xã hội của bán cầu Mỹ Châu đã xẩy ra khắp hang cùng ngõ hẻm.
Và theo lịch sử, đặt cơ sở trên chân lý bất biến, sự đóng góp của Giáo Hội cho lương tâm nhà nước không bị giới hạn vào nơi chốn, quốc gia, kiểu thức cai trị, hay ý thức hệ chính trị của những người cầm quyền. Đôi khi, sứ điệp này được hoan nghinh mà nhiều lúc nó được truyền giảng với một giá rất đắt.
Nhìn về phía trước
Như thế, liệu tương lai chính trị tại Âu Châu và tại Mỹ Châu sẽ phải như thế nào?
Theo Hiệp Sĩ Anderson, ta nên bắt đầu sét xem giáo huấn xã hội Công Giáo có thể thông tri ra sao cho toàn bộ cương lĩnh chính trị của hai lục địa này. Nói cách khác, Kitô giáo phải được cộng vào nền đạo đức học chính trị của nhà nước, và phải được phép làm như thế. Và chúng ta phải canh chừng chống lại cơn cám dỗ chỉ muốn áp dụng một cách lọc lựa nền giáo huấn xã hội Công Giáo ấy để hỗ trợ cho các quan điểm nào thích hợp, tiện lợi.
Ta nên bắt đầu bằng cách nhớ rằng trước khi có phe tả hay phe hữu, đã có Phúc Âm từ lâu rồi, và sau khi các nhãn hiệu chính rị kia lui vào quên lãng, Phúc Âm vẫn còn đó. Như những người có đức tin đối mặt với những con người chính trị, tất cả chúng ta đều có trách nhiệm phải bảo vệ Phúc Âm khỏi bị thao túng bởi bất cứ thứ triết lý chính trị nào, kể cả triết lý chính trị của ta.
Tuần trước tại Cộng Hoà Czech, Đức Giáo Hoàng Bênêđíctô đã giải thích rằng một nền tảng dựa vào Chúa và một tìm kiếm cũng như dấn thân đối với các chân lý phổ quát chính là chìa khóa đưa ta vào tự do thực sự và một nền cai trị công chính. Đã từ lâu, Đức Giáo Hoàng vẫn nhấn mạnh như thế. Tại Liên HIệp Quốc năm 2008, ngài đã nói như vậy, mà trở lui trong cuốn sách năm 1987 của ngài tựa là “Giáo Hội, Đại Kết và Chính Trị”, viết vào lúc chủ nghĩa Cộng Sản đang bắt đầu tan rã tại Âu Châu, ngài cũng viết tương tự như thế.
Ngài mời gọi chúng ta tiếp tục điều được triết gia Pháp, Jacques Maritain, vốn gọi là một trong các thành tựu vĩ đại nhất của Kitô Giáo trong xã hội hiện đại. Đó là việc “phúc âm hóa lương tâm thế tục”. Ngài kêu gọi chúng ta, như ngài đã kêu gọi vào tuần trước ở Prague, trở nên những người “ngày nay, trên xứ sở và lục địa này, tìm cách áp dụng đức tin của họ vào khu vực công một cách kính cẩn nhưng cương quyết, với ước mong rằng các qui phạm và chính sách xã hội sẽ được hướng dẫn bởi ý muốn sống theo chân lý vốn là thứ giải phóng mọi người đàn ông và mọi người đàn bà”.
Tiếp tục việc phúc âm hóa lương tâm này trong khung cảnh tân phúc âm hóa, chính là nhiệm vụ Kitô hữu chúng ta. Các chính khách và công dân có lương tâm ở cả hai bên Đại Tây Dương nên lưu ý điều đó. Ta phải phúc âm hóa nền văn hóa của ta, và phải lo lắng sao để tự do tôn giáo được bảo vệ chứ không để nó bị đẩy ra bên lề bởi một nền văn hóa chỉ biết coi chủ nghĩa thế tục duy tương đối là chìa khóa dẫn người ta vào thứ tự do giả tạo, phù phiếm.
Khi tìm kiếm tự do và tìm cách thăng tiến các quốc gia và các lục địa ta đang sống, ta nên nhớ lời của Đức Giáo Hoàng Bênêđíctô nói cuối tuần qua: “Tự do tìm kiếm mục đích: nó đòi phải có xác tín. Tự do đích thực giả thiết phải tìm kiếm chân lý, tìm kiếm sự thiện đích thực, và qua đó, tìm được thoả mãn chỉ vì biết được và làm được điều đúng và điều công chính. Nói cách khác, chân lý chính là qui phạm điều hướng để tìm ra tự do, và điều thiện chính là sự hoàn thiện của tự do. Đối với Kitô hữu, chân lý có tên là Thiên Chúa. Còn điều thiện có mặt là Chúa Giêsu”. Đó chính là trọng trách Đức Giáo Hoàng Bênêđíctô trao cho chúng ta. Bây giờ, tùy chúng ta có lưu ý tới lời của ngài và sẵn sàng hành động hay không ngõ hầu tận mắt nhìn thấy và đóng góp phần mình vào việc xây đắp văn minh tình thương.
Vai trò của Giáo Hội trong đời sống công
Trên đây là các nhận định của Ông Anderson, Hiệp Sĩ Tối Cao của Hội Hiệp Sĩ Columbus. Các chủ đề được vị Hiệp Sĩ Tối Cao này đề cập đã được Đức Giáo Hoàng Bênêđíctô lặp lại khi tiếp kiến Ông Miguel Humberto Díaz, tân đại sứ Mỹ tại Tòa Thánh, ngày 2 tháng Mười vừa qua. Ngài nhấn mạnh với Ông Đại Sứ Mỹ vai trò của Giáo Hội trong việc giáo dục và đào luyện lương tâm các công dân, như một đóng góp tích cực và có thực chất vào sinh hoạt công dân và tranh luận công cộng.
Nhân dịp này, Đức Giáo Hoàng cho hay tự do là một hồng phúc, đồng thời cũng là lời mời ta nhận trách nhiệm. Duy trì tự do luôn nối kết chặt chẽ với việc tôn trọng sự thật và việc mưu cầu sự triển nở nhân bản chân chính. Ngài nói: “cuộc khủng hoảng trong các nền dân chủ hiện nay đòi ta phải dấn thân như mới vào cuộc đối thoại hợp lý để nhận ra các chính sách khôn ngoan và công chính biết tôn trọng bản tính và phẩm giá con người”.
Ngài cho hay: tại Hoa Kỳ, Giáo Hội đã đóng góp vào việc nhận thức ấy bằng cách giáo dục và đào luyện lương tâm. Nhờ thế, Giáo Hội đã đóng góp đáng kể và tích cực vào sinh hoạt công dân và cuộc tranh luận chung của nước này. Ngài nhấn mạnh: “Ở đây, tôi đặc biệt nghĩ tới nhu cầu cần phải có những nhận thức rõ về các vấn đề có liên quan đến việc bảo vệ nhân phẩm và tôn trọng quyền sống bất khả nhượng từ lúc tượng thai cho đến lúc chết tự nhiên”. Ngài cũng quả quyết: Giáo Hội cần phải hướng dẫn các vấn đề như việc “bảo vệ quyền phản đối lương tâm của các nhân viên chăm sóc sức khỏe, và nói chung của mọi công dân”. Về phương diện này, ngài nhấn mạnh đến “mối liên kết không thể bẻ gẫy giữa đạo đức học về sự sống và các khía cạnh khác của đạo đức học xã hội”.
Thực vậy, lời nói của ngài tại Cộng Hòa Czech, một quốc gia đang kỷ niệm 20 năm thoát ách Cộng Sản, có nhiều hệ luận quan trọng đối với toàn cõi Âu Châu và lục địa Mỹ Châu, hai nơi có lịch sử gắn liền với Kitô giáo.
Tại buổi gặp gỡ đại kết vào Chúa Nhật, Đức Giáo Hoàng nhận định rằng: “Cùng lúc với việc lắng nghe lịch sử Kitô Giáo, Âu Châu cũng nghe được chính lịch sử của mình. Ý niệm của Âu Châu về công lý, tự do và trách nhiệm xã hội, cùng với các định chế văn hóa và luật lệ lập ra để bảo toàn các ý niệm trên và truyền chúng lại cho các thế hệ tương lai, đều đã được lên khuôn bởi gia tài Kitô Giáo của mình”.
Sau đó, Đức Giáo Hoàng cho hay: không được đẩy Kitô Giáo ra bên lề xã hội. Tự do tôn giáo phải được bảo vệ, và Kitô Giáo phải có tiếng nói trên diễn đàn công, để lên khuôn lương tâm cho lục địa và mang lại sự nhất trí luân lý. Ngỏ lời với các viên chức chính phủ vào hôm Thứ Bẩy, Đức Giáo Hoàng cho hay: “Tôi muốn nhấn mạnh vai trò không thể thay thế của Kitô Giáo trong việc đào tạo lương tâm cho từng thế hệ và cho việc cổ vũ sự nhất trí căn bản về luân lý từng phục vụ mọi con người đang gọi lục địa này là nhà”. Rồi ngài nhận định rằng: các tín hữu nên luôn luôn tới với chính trị từ quan điểm Kitô giáo của mình, chứ không được đặt Kitô giáo dưới các giải thích chính trị. Ngài nói: “Không bao giờ nên để sự nhạy bén đối với chân lý phổ quát bị che mờ bởi quyền lợi đặc thù, bất kể các quyền lợi này quan trọng ra sao, vì làm thế sẽ chỉ dẫn tới những điển hình mới của tan vỡ hay kỳ thị xã hội, điều mà chính các nhóm quyền lợi hay nhóm vận động hậu trường có ý định vượt qua”.
Phía bên kia
Theo Anderson, Hiệp Sĩ Columbus Tối Cao, điều Đức Giáo Hoàng Bênêđíctô nói về Âu Châu cũng đúng cho cả Mỹ Châu nữa. Ở đó, các Kitô hữu cũng phải đem chân lý Kitô giáo mà ảnh hưởng tới việc đào luyện lương tâm cho các quốc gia của họ.
Cùng ngày với Đức Giáo Hoàng lên tiếng về nhu cầu phải có tiếng nói công cho tôn giáo và đạo đức tại công trường ở Prague, một nghị luận hội về tự do tôn giáo cũng được tổ chức tại Mexico City. Nghị luận hội này thảo luận lịch sử và tương lai của tự do tôn giáo tại bán cầu Mỹ Châu.
Tại Mỹ Châu cũng như tại Âu Châu, toàn bộ lịch sử của lục địa chỉ là lịch sử của những người được rửa tội trong Kitô giáo. Tại Mỹ Châu, mỗi quốc gia đều được Kitô hữu thành lập, mà phần đông là Công Giáo, và điều cũng quan trọng là mỗi quốc gia, kể cả Hoa Kỳ và Gia Nã Đại, đều có một truyền thống Công Giáo mạnh mẽ.
Và đức tin tại Mỹ Châu vẫn còn rất sinh động, kể từ ngày Đức Cha Zumárraga, giám muc tiên khởi của Mễ Tây Cơ, cho tới những công trình quan yếu vì tự do tôn giáo ở Hợp Chúng Quốc do John Carroll và muôn vàn người khác thực hiện. Ngày nay, Giáo Hội Công Giáo đã trở thành một phần trong kinh nghiệm Mỹ Châu, và cả lương tâm Mỹ Châu nữa, từng bước lại từng bước, bất kể vấn đề là dân quyền, tự do tôn giáo hay quyền sống. Thực vậy, sự đóng góp của Giáo Hội vào trật tự xã hội của bán cầu Mỹ Châu đã xẩy ra khắp hang cùng ngõ hẻm.
Và theo lịch sử, đặt cơ sở trên chân lý bất biến, sự đóng góp của Giáo Hội cho lương tâm nhà nước không bị giới hạn vào nơi chốn, quốc gia, kiểu thức cai trị, hay ý thức hệ chính trị của những người cầm quyền. Đôi khi, sứ điệp này được hoan nghinh mà nhiều lúc nó được truyền giảng với một giá rất đắt.
Nhìn về phía trước
Như thế, liệu tương lai chính trị tại Âu Châu và tại Mỹ Châu sẽ phải như thế nào?
Theo Hiệp Sĩ Anderson, ta nên bắt đầu sét xem giáo huấn xã hội Công Giáo có thể thông tri ra sao cho toàn bộ cương lĩnh chính trị của hai lục địa này. Nói cách khác, Kitô giáo phải được cộng vào nền đạo đức học chính trị của nhà nước, và phải được phép làm như thế. Và chúng ta phải canh chừng chống lại cơn cám dỗ chỉ muốn áp dụng một cách lọc lựa nền giáo huấn xã hội Công Giáo ấy để hỗ trợ cho các quan điểm nào thích hợp, tiện lợi.
Ta nên bắt đầu bằng cách nhớ rằng trước khi có phe tả hay phe hữu, đã có Phúc Âm từ lâu rồi, và sau khi các nhãn hiệu chính rị kia lui vào quên lãng, Phúc Âm vẫn còn đó. Như những người có đức tin đối mặt với những con người chính trị, tất cả chúng ta đều có trách nhiệm phải bảo vệ Phúc Âm khỏi bị thao túng bởi bất cứ thứ triết lý chính trị nào, kể cả triết lý chính trị của ta.
Tuần trước tại Cộng Hoà Czech, Đức Giáo Hoàng Bênêđíctô đã giải thích rằng một nền tảng dựa vào Chúa và một tìm kiếm cũng như dấn thân đối với các chân lý phổ quát chính là chìa khóa đưa ta vào tự do thực sự và một nền cai trị công chính. Đã từ lâu, Đức Giáo Hoàng vẫn nhấn mạnh như thế. Tại Liên HIệp Quốc năm 2008, ngài đã nói như vậy, mà trở lui trong cuốn sách năm 1987 của ngài tựa là “Giáo Hội, Đại Kết và Chính Trị”, viết vào lúc chủ nghĩa Cộng Sản đang bắt đầu tan rã tại Âu Châu, ngài cũng viết tương tự như thế.
Ngài mời gọi chúng ta tiếp tục điều được triết gia Pháp, Jacques Maritain, vốn gọi là một trong các thành tựu vĩ đại nhất của Kitô Giáo trong xã hội hiện đại. Đó là việc “phúc âm hóa lương tâm thế tục”. Ngài kêu gọi chúng ta, như ngài đã kêu gọi vào tuần trước ở Prague, trở nên những người “ngày nay, trên xứ sở và lục địa này, tìm cách áp dụng đức tin của họ vào khu vực công một cách kính cẩn nhưng cương quyết, với ước mong rằng các qui phạm và chính sách xã hội sẽ được hướng dẫn bởi ý muốn sống theo chân lý vốn là thứ giải phóng mọi người đàn ông và mọi người đàn bà”.
Tiếp tục việc phúc âm hóa lương tâm này trong khung cảnh tân phúc âm hóa, chính là nhiệm vụ Kitô hữu chúng ta. Các chính khách và công dân có lương tâm ở cả hai bên Đại Tây Dương nên lưu ý điều đó. Ta phải phúc âm hóa nền văn hóa của ta, và phải lo lắng sao để tự do tôn giáo được bảo vệ chứ không để nó bị đẩy ra bên lề bởi một nền văn hóa chỉ biết coi chủ nghĩa thế tục duy tương đối là chìa khóa dẫn người ta vào thứ tự do giả tạo, phù phiếm.
Khi tìm kiếm tự do và tìm cách thăng tiến các quốc gia và các lục địa ta đang sống, ta nên nhớ lời của Đức Giáo Hoàng Bênêđíctô nói cuối tuần qua: “Tự do tìm kiếm mục đích: nó đòi phải có xác tín. Tự do đích thực giả thiết phải tìm kiếm chân lý, tìm kiếm sự thiện đích thực, và qua đó, tìm được thoả mãn chỉ vì biết được và làm được điều đúng và điều công chính. Nói cách khác, chân lý chính là qui phạm điều hướng để tìm ra tự do, và điều thiện chính là sự hoàn thiện của tự do. Đối với Kitô hữu, chân lý có tên là Thiên Chúa. Còn điều thiện có mặt là Chúa Giêsu”. Đó chính là trọng trách Đức Giáo Hoàng Bênêđíctô trao cho chúng ta. Bây giờ, tùy chúng ta có lưu ý tới lời của ngài và sẵn sàng hành động hay không ngõ hầu tận mắt nhìn thấy và đóng góp phần mình vào việc xây đắp văn minh tình thương.
Vai trò của Giáo Hội trong đời sống công
Trên đây là các nhận định của Ông Anderson, Hiệp Sĩ Tối Cao của Hội Hiệp Sĩ Columbus. Các chủ đề được vị Hiệp Sĩ Tối Cao này đề cập đã được Đức Giáo Hoàng Bênêđíctô lặp lại khi tiếp kiến Ông Miguel Humberto Díaz, tân đại sứ Mỹ tại Tòa Thánh, ngày 2 tháng Mười vừa qua. Ngài nhấn mạnh với Ông Đại Sứ Mỹ vai trò của Giáo Hội trong việc giáo dục và đào luyện lương tâm các công dân, như một đóng góp tích cực và có thực chất vào sinh hoạt công dân và tranh luận công cộng.
Nhân dịp này, Đức Giáo Hoàng cho hay tự do là một hồng phúc, đồng thời cũng là lời mời ta nhận trách nhiệm. Duy trì tự do luôn nối kết chặt chẽ với việc tôn trọng sự thật và việc mưu cầu sự triển nở nhân bản chân chính. Ngài nói: “cuộc khủng hoảng trong các nền dân chủ hiện nay đòi ta phải dấn thân như mới vào cuộc đối thoại hợp lý để nhận ra các chính sách khôn ngoan và công chính biết tôn trọng bản tính và phẩm giá con người”.
Ngài cho hay: tại Hoa Kỳ, Giáo Hội đã đóng góp vào việc nhận thức ấy bằng cách giáo dục và đào luyện lương tâm. Nhờ thế, Giáo Hội đã đóng góp đáng kể và tích cực vào sinh hoạt công dân và cuộc tranh luận chung của nước này. Ngài nhấn mạnh: “Ở đây, tôi đặc biệt nghĩ tới nhu cầu cần phải có những nhận thức rõ về các vấn đề có liên quan đến việc bảo vệ nhân phẩm và tôn trọng quyền sống bất khả nhượng từ lúc tượng thai cho đến lúc chết tự nhiên”. Ngài cũng quả quyết: Giáo Hội cần phải hướng dẫn các vấn đề như việc “bảo vệ quyền phản đối lương tâm của các nhân viên chăm sóc sức khỏe, và nói chung của mọi công dân”. Về phương diện này, ngài nhấn mạnh đến “mối liên kết không thể bẻ gẫy giữa đạo đức học về sự sống và các khía cạnh khác của đạo đức học xã hội”.