Thánh Têrêxa Hài Đồng Giêsu và Thiên Chức Linh Mục
Đức Bênêdictô XVI khai mạc Năm Linh Muc (Annus Sacerdotalis) vào ngày cầu nguyện thánh hóa các linh mục (19-6-2009). Hôm nay (1-10), Giáo hội cử hành lễ kính thánh Têrêxa Hài đồng Giêsu trong khuôn khổ Năm Linh Mục. Đây là thời điểm thích hợp để tìm hiểu học thuyết của thánh nhân qua 270 lá thư, trong số có 17 thư gửi các linh mục trẻ. Trong nội cấm dòng kín, thánh nhân kiên trì cầu nguyện để cứu rỗi các linh hồn và nâng đỡ các linh mục trẻ. Sau bảy năm đan tu, vào tháng 10-1895, thánh nhân nhận được bài sai của mẹ bề trên Agnès de Jésus giao nhiệm vụ cầu nguyện cho một thầy chủng viện, sau này là cha Maurice Bellière. Ngoài ra còn có cha Adolphe Roulland. Sau này, cả hai đều lên đường truyền giáo, một tại Phi châu và một tại Trung Quốc. Nội dung thư từ trao đổi giữa thánh nữ và hai linh mục Bellière và Roulland góp phần vào môn thần học chức thánh (théologie sacerdotale), dựa trên lòng hy sinh và sự trăn trở trong việc cải hoán cải các linh hồn. Trong các lá thư, thánh nữ còn nói đến các thánh thông công, sự phong phú của lời cầu nguyện, tình yêu của Chúa biến đổi cuộc đời và niềm vui của người có đức tin. Thánh nữ kêu cầu lòng Chúa thương sót. Ngài thấu hiểu cuộc sống của các linh mục và nhiệm vụ truyền giáo. Cha Roulland sang Trung Quốc truyền giáo trong lúc thánh nữ mong đến nhà kín Hà Nội. Thánh nữ tôn kính linh mục Théophane Vénard vừa bị xử trảm tại miền bắc Việt Nam ngày 2-2-1829. Thánh nữ hằng khuyên nhủ các linh mục chú tâm rao giảng tin mừng và truyền giáo.
Têrêxa soạn kinh nguyện gởi cho Bellière. Lúc đó Têrêxa giúp cho mẹ nhà tập. Tháng 5-1896, thầy Roulland của Hội Thừa sai Paris (M.E.P.) viết thư cho thánh nữ thông báo lễ truyền chức linh mục. Trong thư chúc mừng, sœur Têrêxa viết: ‘‘Con rất là vui được cùng thầy cứu vớt các linh hồn; chính vì vậy mà con dâng mình trở thành nữ tu dòng kín. Tuy không thể là linh mục thừa sai, con hằng mong thông phần với nhiệm vụ truyền giáo, bằng tình yêu và thống hối.’’ Thánh nữ đã trao đổi thư từ với hai linh mục trẻ trong suốt hai năm, mãi tới khi lâm trọng bệnh. Têrêxa đã sáng tác bài thơ ‘‘Sống bằng tình yêu’’ (Vivre d’amour) gởi cho thầy Bellière, ‘‘tuy những vần thơ này thích hợp cho một nữ tu hơn là chủng sinh’’:
Vivre d'Amour
Au soir d'Amour, parlant sans parabole
Jésus disait: "Si quelqu'un veut m'aimer
"Toute sa vie, qu'il garde ma Parole
"Mon Père et moi viendront le visiter.
"Et de son coeur faisant notre demeure
"Venant à lui, nous l'aimeront toujours !...
"Rempli de paix, nous voulons qu'il demeure
"En notre Amour !"
Vivre d'Amour, c'est te garder Toi-Même
Verbe incrée, Parole de mon Dieu,
Ah ! tu le sais, Divin Jésus, je t'aime
L'Esprit d'Amour m'embrase de son feu
C'est en t'aimant que j'attire le Père
Mon faible coeur le garde sans retour.
O Trinité ! vous êtes Prisonnière
De mon Amour !...
Vivre d'Amour, c'est donner sans mesure
Sans réclamer de salaire ici-bas
Ah ! sans compter je donne étant bien sûre
Que lorsqu'on aime, on ne calcule pas !...
Au Coeur Divin, débordant de tendresse
J'ai tout donné...légèrement je cours
Je n'ai plus rien que ma seule richesse
Vivre d'Amour.
Vivre d'Amour c'est bannir toute crainte
Tout souvenir des fautes du passé.
De mes péchés, je ne vois nulle empreinte,
En un instant l'amour a tout brulé...
Flamme divine, ô tres douce Fournaise !
En ton foyer je fixe mon séjour
C'est en tes feux que je chante à mon aise:
"Je vis d'Amour !..."
Vivre d'Amour, c'est naviguer sans cesse
Semant la paix, la joie dans tous les coeurs
Pilote Aimé, la Charité me presse
Car je te vois dans les âmes mes soeurs
La Charité voilà ma seule étoile
A sa clarté je vogue sans détour
J'ai ma devise écrite sur ma voile:
"Vivre d'Amour."
Mourir d'Amour, voilà mon espérance
Quand je verrai se briser mes liens
Mon Dieu sera ma Grande Récompense
Je ne veux point posséder d'autres biens.
De son Amour je veux être embrasée
Je veux Le voir, m'unir à Lui toujours
Voilà mon Ciel...voilà ma destinée:
Vivre d'Amour...
Sống tình yêu
Nắng nương chiều chẳng cần đến dụ ngôn,
Chúa phán bảo ‘‘Ai yêu ta tha thiết
Giữ lời thiêng, trọn đời sống sắt son
Đức Chúa Cha sẽ thăm viếng tâm hồn
Trái tim hồng là đền thờ bất diệt
Trong an hòa đức ái cũng vuông tròn.
Sống thương yêu là giữ lời hằng sống,
Chúa biết con yêu mến Chúa dường bao
Yêu Giêsu lửa thánh đức dạt dào
Trong nhất thể Ngôi Lời là hệ trọng
Trái tim hằng trông cậy chẳng hề nao
Lạy Ba Ngôi chí thánh rất tự hào
Trong biển ái trái tim hiền sống động.
Sống tình yêu là cho không tính toán
Không tham danh cầu lợi lộc người đời
Không so đo tính toán chuyện thiệt thòi
Vì khi yêu là không còn suy đoán.
Thánh Tâm Người tình yêu không đứt đoạn
Sống yêu thương là dâng hiến tuyệt vời.
Sống thương yêu là xua tan sợ hãi
Bao lỗi lầm đã phạm tháng năm qua
Trong tội lỗi con đui mù phải trái
Trong phút giây làm cháy rụi tình xưa
Ngọn lửa thiêng xua tăm tối sớm trưa
Trong nhà Chúa con ngợi ca đức Ái.
Sống thương yêu thuyền đời qua bến đục
Gieo thương yêu, hòa thuận khắp nơi nơi
Cha yêu dấu lòng thương yêu thúc giục
Yêu chúng sinh vì sao sáng rạng ngời
Trong sáng láng thuyền đời còn thao thức
Căng cánh buồm lướt sóng vượt ngàn khơi.
Chết vì yêu con mong sẽ vuông tròn
Bao nợ nần oan trái sẽ sạch trơn
Chúa Cha nguồn thánh đức, đấng ban ơn
Lửa thương yêu nung đốt mãi không sờn
Gặp cha hiền con kết hiệp sắt son
Nơi thiên cung định mệnh đã an bài.
Thánh nữ Têrêxa Hài đồng Giêsu
(bản tiếng Việt: Lê Đình Thông)
Trong hội thảo quốc tế kỷ niệm 100 năm thánh nữ từ trần, tổ chức tại Lisieux vào đầu tháng 10-1997, Đức Hồng Y Jean-Marie Lustiger đã đưa ra ba phương cách để tìm hiểu trực quan của thánh Têrêxa về thiên chức linh mục. Trực quan về kinh nghiệm của nữ thánh về các linh mục. Thủ bản A,56 nói lên thiên chức cao quý cũng như sự mỏng manh (fragilité) của các linh mục. Vì vậy, cần phải cầu nguyện cho các ngài. Cái nhìn của thánh nữ không dừng lại ở sự mong manh, nhưng đạt đến điều thiết yếu là sự thánh thiện và thánh hóa ‘‘để kết hiệp với chính Chúa Kitô và cuộc khổ nạn của người.’’
Thủ bản A,56 còn nói lên sự cao đẹp trong việc cầu nguyện cho các linh mục để các ngài rao giảng Tin Mừng. Thánh nữ suy ngẫm về lời cầu nguyện của Chúa Giêsu cho các linh mục:
‘‘Lạy Cha chí thánh, xin gìn giữ các môn đệ trong danh thánh mà Cha đã ban cho con, để họ nên một như chúng ta. Khi con ở với họ, con đã gìn giữ họ trong danh Cha mà Cha đã ban cho con. Con đã canh giữ, và không một ai trong họ phải hư mất, trừ đứa con hư hỏng, để ứng nghiệm như lời Kinh Thánh. Bây giờ con đến cùng Cha, và con nói những điều này lúc còn ở thế gian, để họ được hưởng trọn vẹn niềm vui của con. Con đã truyền lại cho họ lời của Cha, và thế gian đã ghét họ, vì họ không thuộc về thế gian, cũng như con đây không thuộc về thế gian. Con không xin Cha cất họ khỏi thế gian, nhưng xin Cha gìn giữ họ khỏi ác thần. Họ không thuộc về thế gian cũng như con đây không thuộc về thế gian. Xin Cha lấy sự thật mà thánh hiến họ. Lời Cha là sự thật. Như Cha đã sai con đến thế gian, thì con cũng sai họ đến thế gian. Vì họ, con xin thánh hiến chính mình con, để nhờ sự thật, họ cũng được thánh hiến’’ (Ga 17,12-19).
Cầu nguyện cho các linh mục là kết hiệp với Chúa Giêsu như Chúa đã phán cùng Phêrô: ‘‘Thầy đã cầu nguyện cho anh để anh khỏi mất lòng tin.’’ (Lc 22,32). Ai đã cầu nguyện cho các linh mục, nếu không phải là đấng đã sai đi.
Theo ĐHY Lustiger, thánh nữ cầu nguyện cho các linh mục trước hết là vì ngài hằng mong trở nên linh mục. Thánh nữ nhận ra sự yếu đuối của người nam phạm tội. Vì vậy, thánh nhân cầu nguyện cho các linh mục luôn trung thành với sứ mạng. Theo Têrêxa, thiên chức linh mục còn là nhiệm vụ tông đồ, loan báo Chúa Kitô cho những ai chưa biết ngài, giúp các lương dân được ơn cứu độ. Theo ĐHY Lustiger, ‘‘thánh nữ biết rằng biên cương những người không biết Chúa chẳng xa xôi gì. Ngay ở Pháp vẫn có nhiều người không có đức tin. Trong ý nghĩ, Têrêxa cầu mong các linh mục sốt sắng làm việc tông đồ. Thánh nhân hằng ước mong trở nên linh mục, được cử hành thánh lễ và chu toàn các nhiệm vụ khác của linh mục.
Theo Têrêxa, tông đồ và truyền giáo là hai thừa tác vụ linh mục. Chức vụ linh mục tham dự vào sứ mệnh của Chúa Giêsu nhằm phục vụ dân Chúa. Nhiệm vụ này trước hết là việc tông đồ, do các thánh tông đồ và các đấng kế vị trao ban. Thánh Têrêxa mong muốn được tham dự vào việc cứu độ nhân loại. ‘‘Việc tông đồ được nuôi dưỡng trong Tin, Cậy, Mến mà Chúa Thánh Thần đổ tràn trong tâm hồn mỗi thành phần trong Giáo hội.’’
Thánh Têrêxa đã sống trọn vẹn thiên chức linh mục trong lời cầu nguyện, đi đôi với lễ vật là cuộc sống đan tu, kết hiệp với Chúa Kitô trong cuộc thụ nạn. Thánh nữ đã liên kết sứ mạng linh mục với việc giáo huấn, hướng dẫn và thánh hóa. Thánh nữ đưa ra học thuyết mới qua chính cuộc sống. Têrêxa tiếp tục nâng đỡ các linh mục một khi đã về Nước Trời.
Kết luận:
Ngày 15-11-2007, ĐTC Bênêdictô XVI đã cầu nguyện trước xương thánh Têrêxa trong nguyện đường riêng, nhân kỷ niệm:
- 20-11-1887: Têrêxa triều yết ĐTC Léon XIII để xin được đặc cách gia nhập dòng kín dù còn nhỏ tuổi;
- 14-12-1927: Đức Piô XI công bố thánh Têrêxa là bổn mạng các nhà truyền giáo;
- 19-10-1997: Đức Gioan-Phaolô II công bố thánh nhân là Tiến sĩ Hội thánh.
Nhân dịp này, ĐTC Bênêdictô XVI tuyên bố: ‘‘Chúng ta đều nhớ rằng 120 năm trước đây, thiếu nữ Têrêxa đã gặp Đức Léon để được nhận vào đan viện Carmel dù tuổi còn nhỏ. Thánh nhân hằng mong học tập các cổ ngữ để hiểu biết thấu đáo Kinh Thánh. Thánh nhân đã đọc Kinh Thánh qua bản chép tay của các nữ tu dòng Kín. Ngài đã nghiền ngẫm, suy niệm và cầu nguyện để ‘‘các linh mục cũng được thánh hiến’’ (Ga 17,19).
Paris, ngày 1-10-2009
![]() |
Têrêxa soạn kinh nguyện gởi cho Bellière. Lúc đó Têrêxa giúp cho mẹ nhà tập. Tháng 5-1896, thầy Roulland của Hội Thừa sai Paris (M.E.P.) viết thư cho thánh nữ thông báo lễ truyền chức linh mục. Trong thư chúc mừng, sœur Têrêxa viết: ‘‘Con rất là vui được cùng thầy cứu vớt các linh hồn; chính vì vậy mà con dâng mình trở thành nữ tu dòng kín. Tuy không thể là linh mục thừa sai, con hằng mong thông phần với nhiệm vụ truyền giáo, bằng tình yêu và thống hối.’’ Thánh nữ đã trao đổi thư từ với hai linh mục trẻ trong suốt hai năm, mãi tới khi lâm trọng bệnh. Têrêxa đã sáng tác bài thơ ‘‘Sống bằng tình yêu’’ (Vivre d’amour) gởi cho thầy Bellière, ‘‘tuy những vần thơ này thích hợp cho một nữ tu hơn là chủng sinh’’:
Vivre d'Amour
Au soir d'Amour, parlant sans parabole
Jésus disait: "Si quelqu'un veut m'aimer
"Toute sa vie, qu'il garde ma Parole
"Mon Père et moi viendront le visiter.
"Et de son coeur faisant notre demeure
"Venant à lui, nous l'aimeront toujours !...
"Rempli de paix, nous voulons qu'il demeure
"En notre Amour !"
Vivre d'Amour, c'est te garder Toi-Même
Verbe incrée, Parole de mon Dieu,
Ah ! tu le sais, Divin Jésus, je t'aime
L'Esprit d'Amour m'embrase de son feu
C'est en t'aimant que j'attire le Père
Mon faible coeur le garde sans retour.
O Trinité ! vous êtes Prisonnière
De mon Amour !...
Vivre d'Amour, c'est donner sans mesure
Sans réclamer de salaire ici-bas
Ah ! sans compter je donne étant bien sûre
Que lorsqu'on aime, on ne calcule pas !...
Au Coeur Divin, débordant de tendresse
J'ai tout donné...légèrement je cours
Je n'ai plus rien que ma seule richesse
Vivre d'Amour.
Vivre d'Amour c'est bannir toute crainte
Tout souvenir des fautes du passé.
De mes péchés, je ne vois nulle empreinte,
En un instant l'amour a tout brulé...
Flamme divine, ô tres douce Fournaise !
En ton foyer je fixe mon séjour
C'est en tes feux que je chante à mon aise:
"Je vis d'Amour !..."
Vivre d'Amour, c'est naviguer sans cesse
Semant la paix, la joie dans tous les coeurs
Pilote Aimé, la Charité me presse
Car je te vois dans les âmes mes soeurs
La Charité voilà ma seule étoile
A sa clarté je vogue sans détour
J'ai ma devise écrite sur ma voile:
"Vivre d'Amour."
Mourir d'Amour, voilà mon espérance
Quand je verrai se briser mes liens
Mon Dieu sera ma Grande Récompense
Je ne veux point posséder d'autres biens.
De son Amour je veux être embrasée
Je veux Le voir, m'unir à Lui toujours
Voilà mon Ciel...voilà ma destinée:
Vivre d'Amour...
Sống tình yêu
Nắng nương chiều chẳng cần đến dụ ngôn,
Chúa phán bảo ‘‘Ai yêu ta tha thiết
Giữ lời thiêng, trọn đời sống sắt son
Đức Chúa Cha sẽ thăm viếng tâm hồn
Trái tim hồng là đền thờ bất diệt
Trong an hòa đức ái cũng vuông tròn.
Sống thương yêu là giữ lời hằng sống,
Chúa biết con yêu mến Chúa dường bao
Yêu Giêsu lửa thánh đức dạt dào
Trong nhất thể Ngôi Lời là hệ trọng
Trái tim hằng trông cậy chẳng hề nao
Lạy Ba Ngôi chí thánh rất tự hào
Trong biển ái trái tim hiền sống động.
Sống tình yêu là cho không tính toán
Không tham danh cầu lợi lộc người đời
Không so đo tính toán chuyện thiệt thòi
Vì khi yêu là không còn suy đoán.
Thánh Tâm Người tình yêu không đứt đoạn
Sống yêu thương là dâng hiến tuyệt vời.
Sống thương yêu là xua tan sợ hãi
Bao lỗi lầm đã phạm tháng năm qua
Trong tội lỗi con đui mù phải trái
Trong phút giây làm cháy rụi tình xưa
Ngọn lửa thiêng xua tăm tối sớm trưa
Trong nhà Chúa con ngợi ca đức Ái.
Sống thương yêu thuyền đời qua bến đục
Gieo thương yêu, hòa thuận khắp nơi nơi
Cha yêu dấu lòng thương yêu thúc giục
Yêu chúng sinh vì sao sáng rạng ngời
Trong sáng láng thuyền đời còn thao thức
Căng cánh buồm lướt sóng vượt ngàn khơi.
Chết vì yêu con mong sẽ vuông tròn
Bao nợ nần oan trái sẽ sạch trơn
Chúa Cha nguồn thánh đức, đấng ban ơn
Lửa thương yêu nung đốt mãi không sờn
Gặp cha hiền con kết hiệp sắt son
Nơi thiên cung định mệnh đã an bài.
Thánh nữ Têrêxa Hài đồng Giêsu
(bản tiếng Việt: Lê Đình Thông)
Trong hội thảo quốc tế kỷ niệm 100 năm thánh nữ từ trần, tổ chức tại Lisieux vào đầu tháng 10-1997, Đức Hồng Y Jean-Marie Lustiger đã đưa ra ba phương cách để tìm hiểu trực quan của thánh Têrêxa về thiên chức linh mục. Trực quan về kinh nghiệm của nữ thánh về các linh mục. Thủ bản A,56 nói lên thiên chức cao quý cũng như sự mỏng manh (fragilité) của các linh mục. Vì vậy, cần phải cầu nguyện cho các ngài. Cái nhìn của thánh nữ không dừng lại ở sự mong manh, nhưng đạt đến điều thiết yếu là sự thánh thiện và thánh hóa ‘‘để kết hiệp với chính Chúa Kitô và cuộc khổ nạn của người.’’
Thủ bản A,56 còn nói lên sự cao đẹp trong việc cầu nguyện cho các linh mục để các ngài rao giảng Tin Mừng. Thánh nữ suy ngẫm về lời cầu nguyện của Chúa Giêsu cho các linh mục:
‘‘Lạy Cha chí thánh, xin gìn giữ các môn đệ trong danh thánh mà Cha đã ban cho con, để họ nên một như chúng ta. Khi con ở với họ, con đã gìn giữ họ trong danh Cha mà Cha đã ban cho con. Con đã canh giữ, và không một ai trong họ phải hư mất, trừ đứa con hư hỏng, để ứng nghiệm như lời Kinh Thánh. Bây giờ con đến cùng Cha, và con nói những điều này lúc còn ở thế gian, để họ được hưởng trọn vẹn niềm vui của con. Con đã truyền lại cho họ lời của Cha, và thế gian đã ghét họ, vì họ không thuộc về thế gian, cũng như con đây không thuộc về thế gian. Con không xin Cha cất họ khỏi thế gian, nhưng xin Cha gìn giữ họ khỏi ác thần. Họ không thuộc về thế gian cũng như con đây không thuộc về thế gian. Xin Cha lấy sự thật mà thánh hiến họ. Lời Cha là sự thật. Như Cha đã sai con đến thế gian, thì con cũng sai họ đến thế gian. Vì họ, con xin thánh hiến chính mình con, để nhờ sự thật, họ cũng được thánh hiến’’ (Ga 17,12-19).
Cầu nguyện cho các linh mục là kết hiệp với Chúa Giêsu như Chúa đã phán cùng Phêrô: ‘‘Thầy đã cầu nguyện cho anh để anh khỏi mất lòng tin.’’ (Lc 22,32). Ai đã cầu nguyện cho các linh mục, nếu không phải là đấng đã sai đi.
Theo ĐHY Lustiger, thánh nữ cầu nguyện cho các linh mục trước hết là vì ngài hằng mong trở nên linh mục. Thánh nữ nhận ra sự yếu đuối của người nam phạm tội. Vì vậy, thánh nhân cầu nguyện cho các linh mục luôn trung thành với sứ mạng. Theo Têrêxa, thiên chức linh mục còn là nhiệm vụ tông đồ, loan báo Chúa Kitô cho những ai chưa biết ngài, giúp các lương dân được ơn cứu độ. Theo ĐHY Lustiger, ‘‘thánh nữ biết rằng biên cương những người không biết Chúa chẳng xa xôi gì. Ngay ở Pháp vẫn có nhiều người không có đức tin. Trong ý nghĩ, Têrêxa cầu mong các linh mục sốt sắng làm việc tông đồ. Thánh nhân hằng ước mong trở nên linh mục, được cử hành thánh lễ và chu toàn các nhiệm vụ khác của linh mục.
Theo Têrêxa, tông đồ và truyền giáo là hai thừa tác vụ linh mục. Chức vụ linh mục tham dự vào sứ mệnh của Chúa Giêsu nhằm phục vụ dân Chúa. Nhiệm vụ này trước hết là việc tông đồ, do các thánh tông đồ và các đấng kế vị trao ban. Thánh Têrêxa mong muốn được tham dự vào việc cứu độ nhân loại. ‘‘Việc tông đồ được nuôi dưỡng trong Tin, Cậy, Mến mà Chúa Thánh Thần đổ tràn trong tâm hồn mỗi thành phần trong Giáo hội.’’
Thánh Têrêxa đã sống trọn vẹn thiên chức linh mục trong lời cầu nguyện, đi đôi với lễ vật là cuộc sống đan tu, kết hiệp với Chúa Kitô trong cuộc thụ nạn. Thánh nữ đã liên kết sứ mạng linh mục với việc giáo huấn, hướng dẫn và thánh hóa. Thánh nữ đưa ra học thuyết mới qua chính cuộc sống. Têrêxa tiếp tục nâng đỡ các linh mục một khi đã về Nước Trời.
Kết luận:
Ngày 15-11-2007, ĐTC Bênêdictô XVI đã cầu nguyện trước xương thánh Têrêxa trong nguyện đường riêng, nhân kỷ niệm:
- 20-11-1887: Têrêxa triều yết ĐTC Léon XIII để xin được đặc cách gia nhập dòng kín dù còn nhỏ tuổi;
- 14-12-1927: Đức Piô XI công bố thánh Têrêxa là bổn mạng các nhà truyền giáo;
- 19-10-1997: Đức Gioan-Phaolô II công bố thánh nhân là Tiến sĩ Hội thánh.
Nhân dịp này, ĐTC Bênêdictô XVI tuyên bố: ‘‘Chúng ta đều nhớ rằng 120 năm trước đây, thiếu nữ Têrêxa đã gặp Đức Léon để được nhận vào đan viện Carmel dù tuổi còn nhỏ. Thánh nhân hằng mong học tập các cổ ngữ để hiểu biết thấu đáo Kinh Thánh. Thánh nhân đã đọc Kinh Thánh qua bản chép tay của các nữ tu dòng Kín. Ngài đã nghiền ngẫm, suy niệm và cầu nguyện để ‘‘các linh mục cũng được thánh hiến’’ (Ga 17,19).
Paris, ngày 1-10-2009
