Tiếp theo việc trùng tu Nhà Nguyện Sistine và xây lối vào mới, Bảo Tàng Viện Vatican xem ra đang mừng thiên niên kỷ thứ ba bằng một thời kỳ canh tân tâm linh. Suốt năm qua, viện bảo tàng đã cố gắng nhiều để phục hồi bản sắc của mình trong tư cách một nơi thánh và là biểu tượng cho lòng cam kết lâu đời của ngôi vị giáo hoàng đối với nghệ thuật và việc bảo tồn gia tài cổ xưa của Rôma.
Vị giám đốc mới, tiến sĩ Antonio Paolucci, đã bước vào đây như một làn gió tươi mát vào năm 2007. Mới vừa trông coi cuộc triển lãm Petrus Eni tại Vương Cung Thánh Đường Thánh Phêrô năm 2006, Tiến Sĩ Paolucci bắt tay ngay vào việc không mệt mỏi bơm một thứ sinh lực mới vào bảo tàng viện này cũng như kích thích người ta chú tâm tới một vài khu trưng bày ít được biết đến.
Sau khi tuyển dụng một số nhân viên quản thủ (custodians) mới, bảo tàng viện bèn cho mở lại những phòng trưng bày trước đây từng bị đóng cửa, nhờ thế gia tăng nhiều dẫy công trình đáng kể trong bảo tàng viện. Bảo tàng viện cũng sắp xếp nhiều lớp học tiếng Anh cho nhân viên để tăng cường kỹ năng thông đạt, trong khi vị giám đốc và các vị trông coi khác tổ chức nhiều buổi thuyết trình vào buổi sáng để giảng giải ý nghĩa các công trình trong sưu tập.
Hệ thống giữ chỗ trên mạng cũng đã được cải thiện vào năm ngoái, nhờ thế đã giảm được những hàng chờ đợi mất thì giờ, và khiến cho vấn đề ra vào bảo tàng viện dễ dàng hơn trước. Nhất là sáng kiến mới trong việc mở cửa bảo tàng viện sau giờ làm việc cho công chúng vào đêm thứ Sáu cho thấy thiện chí của Bảo Tàng Viện muốn trở thành một thành phần trong sinh hoạt văn hóa của người dân Rôma, thay vì chỉ là chỗ lui tới của khách du lịch và người hành hương. Còn cuộc hẹn hò nào vào đêm thứ Sáu tốt đẹp hơn là cùng khám phá lịch sử của Kinh Thành Muôn Thuở qua kho tàng nghệ thuật vĩ đại của nó?
Vốn là người đặc biệt thưởng ngoạn Raphael, Tiến Sĩ Paolucci đang giám sát việc khôi phục các phòng trưng bày tác phẩm của danh họa này trong khu Julius II, với nhiều kết quả rực rỡ. Trong khi ấy, các vị bảo trợ Bảo Tàng Viện, đứng đầu là cha Mark Haydu thuộc Đạo Binh Chúa Kitô (Legionary of Christ), đang cố gắng vượt bực để tài trợ việc bảo tồn và làm sạch sưu tập khổng lồ này. Gần như tuần lễ nào cũng có một tác phẩm mới được lôi ra khỏi hàng thế kỷ bụi bặm, nhem nhuốc để rạng rỡ bên cạnh các kiệt tác khác của bộ nghệ phẩm Vatican.
Bảo Tàng Piô-Kitô Giáo, tức bộ sưu tập độc đáo các quan tài bằng đá (sarcophagi) vốn cung cấp cho ta nhiều hình ảnh Kitô Giáo buổi sơ khai, đã trở thành hết sức nổi tiếng, nhất là dịp mùa hè vừa qua với cuộc trưng bày sáng giá về Thánh Phaolô. Xét về nhiều phương diện, bảo tàng do Tiến Sĩ Umberto Utro trông coi này đã kề vai sát cánh với Đức Thánh Cha trong cố gắng quảng bá Thánh Phaolô, và cho thấy một sự điển hình hợp tác rất đáng ca ngợi giữa mục vụ và văn hóa.
Nhưng sự biến đổi đích thực còn nhiều ý nghĩa hơn là phương diện lui tới và sử dụng. Tinh thần của bảo tàng viện cũng đang thay đổi. Tiến Sĩ Paolucci và các cộng sự viên của ông sẵn sàng giúp bất cứ ai cộng tác với bảo tàng viện để họ trở thành các sứ giả tốt hơn của Vatican và sứ mệnh của nó.
Để chống lại tệ nạn phải tham gia những chuyến hướng dẫn nhạt nhẽo, trình bày những tin tức tầm phào hay giật gân khó tin, bảo tàng viện cho gia tăng nhiều nhân viên có khả năng giảng dạy trình bày, chọn lựa kỹ càng một số sử gia và nhà khảo cổ làm hướng dẫn viên để giải thích các bộ sưu tập giá trị. Các nhân viên này không hẳn chỉ dành cho các nhóm thuộc trường học mà thôi mà còn dành cho cả du khách nào muốn có những cuộc thăm viếng có chất lượng hơn là những cuộc chào hàng trơ trẽn dọc đường vào cổng bảo tàng.
Các vị quản thủ cũng gặp gỡ các hướng dẫn viên này để cung cấp cho họ ý kiến, kinh nghiệm và hiểu biết nội bộ về bộ sưu tập. Bảo tàng viện cũng khuyến khích các nhân viên giảng dạy gặp gỡ, tiếp xúc và chia sẻ tư tưởng cũng như làm họ cảm nhận mình là thành phần thân thiết của định chế cổ xưa và đáng kính này.
Trong số các hướng dẫn viên mới này, người ta thấy có nhóm nhỏ các nữ tu thuộc Dòng Truyền Giáo Mạc Khải Thiên Chúa (Missionaries of the Divine Revelation) do Mẹ Prisca Mormina thành lập để làm việc tông đồ trong ngành giáo lý. Với bộ áo dòng màu xanh lá cây dễ nhìn, các nữ tu này mau chóng trở thành những bộ mặt quen thuộc tại Bảo Tàng Viện Vatican.
Một số các nữ tu này đã đảm nhận ơn gọi dạy giáo lý bằng nghệ thuật, phụ trách các vòng hướng dẫn du lịch quanh hai Vương Cung Thánh Đường Thánh Phêrô và Giao Latêranô. Năm 2008, các nữ tu này được mời tới Bảo Tàng Viện Vatican để khai triển các lộ trình thăm viếng bảo tàng nhằm phản ảnh nghệ thuật và đức tin. Những lộ trình do các nữ tu và nhân viên của họ hướng dẫn này giới thiệu các bộ sưu tập dưới con mắt đức tin từng được các tác phẩm này nói lên cũng như các niềm tin Kitô Giáo từng linh hứng cho các nghệ sĩ tạo nên chúng.
Mẹ Rebecca Nazzaro, bề trên của nhóm, mô tả việc họ quyết định chọn sứ mệnh tại bảo tàng viện như sau: “Giáo Hội cần nghệ thuật vì qua nghệ thuật con người rời bỏ cái tôi ‘hữu hạn’ của mình mà bước vào cõi vô tận của Thiên Chúa. Giáo Hội tin rằng việc nhập thể của Chúa Giêsu Kitô, sự sống thân mật và vô hình của Thiên Chúa đã trở nên hữu hình cho con người, và do đó, ngôn ngữ của nghệ thuật trở nên cây cầu giữa trời và đất, giữa hữu hình và vô hình”.
Qua trang mạng của Vatican, các lộ trình này được trình bày bằng tiếng Anh và tiếng Ý. Nhờ chúng, Mẹ Rebecca hy vọng có thể “cung ứng cho khách hành hương, những người thường bị ‘lạc’ giữa các bộ sưu tập mênh mông hay các du khách, những người thường dễ bị chia trí vì man vàn các công trình khác nhau, một hành trình xuyên suốt lịch sử con người bằng ngôn ngữ nghệ thuật”. Vị nữ tu này coi nghệ thuật như “phương tiện tuyệt hảo để phúc âm hóa nhờ cách diễn đạt toàn bộ của nó và khả năng của nó trong việc mở ra những cuộc đối thoại giữa các con người thuộc các gốc gác xã hội hay tôn giáo khác nhau”.
Dù vẫn còn những ngày hỗn độn tại bảo tàng viện, nghĩa là đường vẫn còn dài để cải tiến, để biến các sưu tập giáo hoàng thành một vườn địa đàng cho khách viếng thăm, thế kỷ thứ sáu của Bảo Tàng Viện Vatican quả đang có vóc dáng tích cực.
Áp đặt
Nhân đưa các sinh viên của mình tới Florence gần đây, nữ giáo sư Elizabeth Lev về môn nghệ thuật Kitô giáo tại Trường Đại Học Duquesne ở Rôma, được dịp
chiêm ngưỡng bức điêu khắc Đavít nổi tiếng của Michelangelo, và lấy làm buồn, vì người ta đã trưng bày tác phẩm tuyệt vời này bên cạnh những bức hình đen trắng của Robert Mapplethorpe, nhà nhiếp ảnh Mỹ gây tranh luận vì những bức hình đồng tính gợi dục (homoerotic) và đã qua đời vì bệnh AIDS vào năm 1989.
Bà cố gắng tìm hiểu xem tại sao các nhà quản thủ cuộc trình bày có tên Accademia này lại làm việc đó. Và kết luận duy nhất của bà chỉ có thể là tổ chức này muốn đưa ra một song đối giữa các tác phẩm điêu khắc khỏa thân của Michelangelo và những bức hình nhiếp ảnh chụp các người đàn ông và đàn bà khỏa thân của Mapplethorpe. Nhưng bà cho rằng, ngoại trừ những nét giống nhau dễ dãi trong các đường cong của Michelangelo và bộ sưu tập qua ống kính của Mapplethorpe, thật khó có thể đem hai nghệ sĩ này tới một điểm chung nào được. Xét một cách hời hợt, người ta dám cho rằng cả hai nghệ sĩ đều có chung các đặc tính về hình thể trong cố gắng rút gọn nghệ thuật vào những nét chủ yếu. Nhưng thực ra, Michelangelo quan tâm đến một điều gì khác hơn là hình thể con người và khung cảnh của họ. Đối với ông, kiến trúc và cái phông của nó chỉ là những xem sét thoáng qua. Mapplethorpe cũng thế, ông không muốn người ta sao lãng các chủ thể của mình và sử dụng thật ít các hậu cảnh trong các bức hình ấy.
Tuy nhiên, sự gống nhau chỉ đến đó là chấm dứt. Mapplethorpe tán dương hình thể con người vì tính hữu dụng tạm thời của riêng nó; trong khi Michelangelo cố gắng biến con người không phải thành điều anh ta đang là, nhưng thành điều anh ta được mời gọi trở nên.
Các hình ảnh đầu tiên của Mapplethorpe đã được khéo léo trưng bày rải rác dọc theo hành lang chính bên cạnh các “nô lệ” của Michelangelo, vốn được tạc cho ngôi mộ của Đức Giuliô II ở Rôma. Loạt hình này mang tên “Thomas” theo tên người mẫu, trình bày một người đàn ông khỏa thân chụp trong một chiếc khung vòng tròn. Trong cả bốn bức hình, tuy Thomas được chụp với những kiểu khác nhau, nhưng luôn luôn phù hợp với độ cong của chiếc khuôn hình tròn. Chân dung ấy vì thế là tù nhân của một chiếc vòng, bị chết cứng trong hình thể khô cứng trắng toát, và người mẫu tuân theo một nét do khuôn hình ra lệnh. Rõ ràng anh ta tuân theo ý muốn của ống kính máy ảnh, một đầy tớ dễ bảo và đầy tuân phục.
Các tù nhân của Michelangelo, tạc để trang trí một cơ cấu kiến trúc độc lập, luôn cố gắng thoát ra khỏi cái hạn chế không gian của họ. Đáng lý họ bị cột chặt vào ngôi mộ của Đức Giuliô II, nhưng họ luôn cố gắng vươn tới tự do, để thi thố hết tiềm năng của mình.
Nhưng chưa hết, sự sỉ nhục lớn nhất của cuộc triển lãm này là đối với bức điêu khắc Đavít, bức tượng đồ sộ của Michelangelo từ năm 1504. Vốn dùng làm biểu tượng cho Florence, bức tượng này được tôn vinh nhờ một nét vụng dại nào đó về kích thước và cái nhìn do dự, dường như để diễn tả các thử thách và khó khăn của vị anh hùng này.
Ngược lại, “Thomas” của Mapplethorpe xem ra quá dễ nắn, một khối thịt không có bất cứ điều gì để nói lên. Bản thể nhường hẳn chỗ cho hình thể. Chẳng qua chỉ là một lặp lại của nghệ thuật ngoại đạo, một thứ nghệ thuật chỉ có thể tạo nên những hình thể hoàn toàn tự cuốn hút vào nhau. Trong nghệ thuật này, cái đẹp tự nó là cùng đích cho chính nó, còn con người thì tôn thờ cái hình thể cảm nhục (sensual form) của chính mình. Qua mầu sắc đầy sức sống và cách kết cấu rút gọn đầy năng động (dynamic foreshortening) nơi các kiệt tác của Michelangelo, Kitô Giáo đã mang đến cho con người một cái đẹp lớn hơn để tôn thờ, đó chính là cái đẹp của Nhập Thể.
Michelangelo không bao giờ có thể có ích chi đối với các tranh nhiếp ảnh của Mapplethorpe, cũng như chẳng bao giờ có ích chi đối với tạp chí Playboy. Cho nên, sự kiện những nhà tổ chức cuộc triển lãm Accademia trên đây khi trơ trẽn mang các tranh nhiếp ảnh của một con người vốn cổ vũ cho phong trào đồng tính luyến ái so sánh với nghệ thuật của Michelangelo, quả đã hạ nhục một thành phố từng sản xuất cho Giáo Hội thật nhiều vĩ nhân, từ Dante tới Thánh Antonius. Michelangelo từng viết mấy vần thơ diễn tả lòng yêu mến của mình đối với hình thể con người. Tiếc thay những người như Mapplethorpe chẳng học được gì qua các vần thơ này: “Thiên Chúa đã không hạ cố mạc khải Người ra nơi nào khác rõ ràng hơn là trong chính hình thể tuyệt vời của con người. Đó là hình thể tôi yêu mến nhất vì chúng là họa ảnh của Người”
Vị giám đốc mới, tiến sĩ Antonio Paolucci, đã bước vào đây như một làn gió tươi mát vào năm 2007. Mới vừa trông coi cuộc triển lãm Petrus Eni tại Vương Cung Thánh Đường Thánh Phêrô năm 2006, Tiến Sĩ Paolucci bắt tay ngay vào việc không mệt mỏi bơm một thứ sinh lực mới vào bảo tàng viện này cũng như kích thích người ta chú tâm tới một vài khu trưng bày ít được biết đến.
![]() |
| Cầu Thang Bảo Tàng Viện Vatican |
Hệ thống giữ chỗ trên mạng cũng đã được cải thiện vào năm ngoái, nhờ thế đã giảm được những hàng chờ đợi mất thì giờ, và khiến cho vấn đề ra vào bảo tàng viện dễ dàng hơn trước. Nhất là sáng kiến mới trong việc mở cửa bảo tàng viện sau giờ làm việc cho công chúng vào đêm thứ Sáu cho thấy thiện chí của Bảo Tàng Viện muốn trở thành một thành phần trong sinh hoạt văn hóa của người dân Rôma, thay vì chỉ là chỗ lui tới của khách du lịch và người hành hương. Còn cuộc hẹn hò nào vào đêm thứ Sáu tốt đẹp hơn là cùng khám phá lịch sử của Kinh Thành Muôn Thuở qua kho tàng nghệ thuật vĩ đại của nó?
Vốn là người đặc biệt thưởng ngoạn Raphael, Tiến Sĩ Paolucci đang giám sát việc khôi phục các phòng trưng bày tác phẩm của danh họa này trong khu Julius II, với nhiều kết quả rực rỡ. Trong khi ấy, các vị bảo trợ Bảo Tàng Viện, đứng đầu là cha Mark Haydu thuộc Đạo Binh Chúa Kitô (Legionary of Christ), đang cố gắng vượt bực để tài trợ việc bảo tồn và làm sạch sưu tập khổng lồ này. Gần như tuần lễ nào cũng có một tác phẩm mới được lôi ra khỏi hàng thế kỷ bụi bặm, nhem nhuốc để rạng rỡ bên cạnh các kiệt tác khác của bộ nghệ phẩm Vatican.
Bảo Tàng Piô-Kitô Giáo, tức bộ sưu tập độc đáo các quan tài bằng đá (sarcophagi) vốn cung cấp cho ta nhiều hình ảnh Kitô Giáo buổi sơ khai, đã trở thành hết sức nổi tiếng, nhất là dịp mùa hè vừa qua với cuộc trưng bày sáng giá về Thánh Phaolô. Xét về nhiều phương diện, bảo tàng do Tiến Sĩ Umberto Utro trông coi này đã kề vai sát cánh với Đức Thánh Cha trong cố gắng quảng bá Thánh Phaolô, và cho thấy một sự điển hình hợp tác rất đáng ca ngợi giữa mục vụ và văn hóa.
Nhưng sự biến đổi đích thực còn nhiều ý nghĩa hơn là phương diện lui tới và sử dụng. Tinh thần của bảo tàng viện cũng đang thay đổi. Tiến Sĩ Paolucci và các cộng sự viên của ông sẵn sàng giúp bất cứ ai cộng tác với bảo tàng viện để họ trở thành các sứ giả tốt hơn của Vatican và sứ mệnh của nó.
Để chống lại tệ nạn phải tham gia những chuyến hướng dẫn nhạt nhẽo, trình bày những tin tức tầm phào hay giật gân khó tin, bảo tàng viện cho gia tăng nhiều nhân viên có khả năng giảng dạy trình bày, chọn lựa kỹ càng một số sử gia và nhà khảo cổ làm hướng dẫn viên để giải thích các bộ sưu tập giá trị. Các nhân viên này không hẳn chỉ dành cho các nhóm thuộc trường học mà thôi mà còn dành cho cả du khách nào muốn có những cuộc thăm viếng có chất lượng hơn là những cuộc chào hàng trơ trẽn dọc đường vào cổng bảo tàng.
Các vị quản thủ cũng gặp gỡ các hướng dẫn viên này để cung cấp cho họ ý kiến, kinh nghiệm và hiểu biết nội bộ về bộ sưu tập. Bảo tàng viện cũng khuyến khích các nhân viên giảng dạy gặp gỡ, tiếp xúc và chia sẻ tư tưởng cũng như làm họ cảm nhận mình là thành phần thân thiết của định chế cổ xưa và đáng kính này.
Trong số các hướng dẫn viên mới này, người ta thấy có nhóm nhỏ các nữ tu thuộc Dòng Truyền Giáo Mạc Khải Thiên Chúa (Missionaries of the Divine Revelation) do Mẹ Prisca Mormina thành lập để làm việc tông đồ trong ngành giáo lý. Với bộ áo dòng màu xanh lá cây dễ nhìn, các nữ tu này mau chóng trở thành những bộ mặt quen thuộc tại Bảo Tàng Viện Vatican.
Một số các nữ tu này đã đảm nhận ơn gọi dạy giáo lý bằng nghệ thuật, phụ trách các vòng hướng dẫn du lịch quanh hai Vương Cung Thánh Đường Thánh Phêrô và Giao Latêranô. Năm 2008, các nữ tu này được mời tới Bảo Tàng Viện Vatican để khai triển các lộ trình thăm viếng bảo tàng nhằm phản ảnh nghệ thuật và đức tin. Những lộ trình do các nữ tu và nhân viên của họ hướng dẫn này giới thiệu các bộ sưu tập dưới con mắt đức tin từng được các tác phẩm này nói lên cũng như các niềm tin Kitô Giáo từng linh hứng cho các nghệ sĩ tạo nên chúng.
Mẹ Rebecca Nazzaro, bề trên của nhóm, mô tả việc họ quyết định chọn sứ mệnh tại bảo tàng viện như sau: “Giáo Hội cần nghệ thuật vì qua nghệ thuật con người rời bỏ cái tôi ‘hữu hạn’ của mình mà bước vào cõi vô tận của Thiên Chúa. Giáo Hội tin rằng việc nhập thể của Chúa Giêsu Kitô, sự sống thân mật và vô hình của Thiên Chúa đã trở nên hữu hình cho con người, và do đó, ngôn ngữ của nghệ thuật trở nên cây cầu giữa trời và đất, giữa hữu hình và vô hình”.
Qua trang mạng của Vatican, các lộ trình này được trình bày bằng tiếng Anh và tiếng Ý. Nhờ chúng, Mẹ Rebecca hy vọng có thể “cung ứng cho khách hành hương, những người thường bị ‘lạc’ giữa các bộ sưu tập mênh mông hay các du khách, những người thường dễ bị chia trí vì man vàn các công trình khác nhau, một hành trình xuyên suốt lịch sử con người bằng ngôn ngữ nghệ thuật”. Vị nữ tu này coi nghệ thuật như “phương tiện tuyệt hảo để phúc âm hóa nhờ cách diễn đạt toàn bộ của nó và khả năng của nó trong việc mở ra những cuộc đối thoại giữa các con người thuộc các gốc gác xã hội hay tôn giáo khác nhau”.
Dù vẫn còn những ngày hỗn độn tại bảo tàng viện, nghĩa là đường vẫn còn dài để cải tiến, để biến các sưu tập giáo hoàng thành một vườn địa đàng cho khách viếng thăm, thế kỷ thứ sáu của Bảo Tàng Viện Vatican quả đang có vóc dáng tích cực.
Áp đặt
Nhân đưa các sinh viên của mình tới Florence gần đây, nữ giáo sư Elizabeth Lev về môn nghệ thuật Kitô giáo tại Trường Đại Học Duquesne ở Rôma, được dịp
![]() |
| Kiệt tác Đavít của Michelangelo |
Bà cố gắng tìm hiểu xem tại sao các nhà quản thủ cuộc trình bày có tên Accademia này lại làm việc đó. Và kết luận duy nhất của bà chỉ có thể là tổ chức này muốn đưa ra một song đối giữa các tác phẩm điêu khắc khỏa thân của Michelangelo và những bức hình nhiếp ảnh chụp các người đàn ông và đàn bà khỏa thân của Mapplethorpe. Nhưng bà cho rằng, ngoại trừ những nét giống nhau dễ dãi trong các đường cong của Michelangelo và bộ sưu tập qua ống kính của Mapplethorpe, thật khó có thể đem hai nghệ sĩ này tới một điểm chung nào được. Xét một cách hời hợt, người ta dám cho rằng cả hai nghệ sĩ đều có chung các đặc tính về hình thể trong cố gắng rút gọn nghệ thuật vào những nét chủ yếu. Nhưng thực ra, Michelangelo quan tâm đến một điều gì khác hơn là hình thể con người và khung cảnh của họ. Đối với ông, kiến trúc và cái phông của nó chỉ là những xem sét thoáng qua. Mapplethorpe cũng thế, ông không muốn người ta sao lãng các chủ thể của mình và sử dụng thật ít các hậu cảnh trong các bức hình ấy.
Tuy nhiên, sự gống nhau chỉ đến đó là chấm dứt. Mapplethorpe tán dương hình thể con người vì tính hữu dụng tạm thời của riêng nó; trong khi Michelangelo cố gắng biến con người không phải thành điều anh ta đang là, nhưng thành điều anh ta được mời gọi trở nên.
Các hình ảnh đầu tiên của Mapplethorpe đã được khéo léo trưng bày rải rác dọc theo hành lang chính bên cạnh các “nô lệ” của Michelangelo, vốn được tạc cho ngôi mộ của Đức Giuliô II ở Rôma. Loạt hình này mang tên “Thomas” theo tên người mẫu, trình bày một người đàn ông khỏa thân chụp trong một chiếc khung vòng tròn. Trong cả bốn bức hình, tuy Thomas được chụp với những kiểu khác nhau, nhưng luôn luôn phù hợp với độ cong của chiếc khuôn hình tròn. Chân dung ấy vì thế là tù nhân của một chiếc vòng, bị chết cứng trong hình thể khô cứng trắng toát, và người mẫu tuân theo một nét do khuôn hình ra lệnh. Rõ ràng anh ta tuân theo ý muốn của ống kính máy ảnh, một đầy tớ dễ bảo và đầy tuân phục.
![]() |
| Tác phẩm Nô Lệ của Michelangelo |
Nhưng chưa hết, sự sỉ nhục lớn nhất của cuộc triển lãm này là đối với bức điêu khắc Đavít, bức tượng đồ sộ của Michelangelo từ năm 1504. Vốn dùng làm biểu tượng cho Florence, bức tượng này được tôn vinh nhờ một nét vụng dại nào đó về kích thước và cái nhìn do dự, dường như để diễn tả các thử thách và khó khăn của vị anh hùng này.
Ngược lại, “Thomas” của Mapplethorpe xem ra quá dễ nắn, một khối thịt không có bất cứ điều gì để nói lên. Bản thể nhường hẳn chỗ cho hình thể. Chẳng qua chỉ là một lặp lại của nghệ thuật ngoại đạo, một thứ nghệ thuật chỉ có thể tạo nên những hình thể hoàn toàn tự cuốn hút vào nhau. Trong nghệ thuật này, cái đẹp tự nó là cùng đích cho chính nó, còn con người thì tôn thờ cái hình thể cảm nhục (sensual form) của chính mình. Qua mầu sắc đầy sức sống và cách kết cấu rút gọn đầy năng động (dynamic foreshortening) nơi các kiệt tác của Michelangelo, Kitô Giáo đã mang đến cho con người một cái đẹp lớn hơn để tôn thờ, đó chính là cái đẹp của Nhập Thể.
Michelangelo không bao giờ có thể có ích chi đối với các tranh nhiếp ảnh của Mapplethorpe, cũng như chẳng bao giờ có ích chi đối với tạp chí Playboy. Cho nên, sự kiện những nhà tổ chức cuộc triển lãm Accademia trên đây khi trơ trẽn mang các tranh nhiếp ảnh của một con người vốn cổ vũ cho phong trào đồng tính luyến ái so sánh với nghệ thuật của Michelangelo, quả đã hạ nhục một thành phố từng sản xuất cho Giáo Hội thật nhiều vĩ nhân, từ Dante tới Thánh Antonius. Michelangelo từng viết mấy vần thơ diễn tả lòng yêu mến của mình đối với hình thể con người. Tiếc thay những người như Mapplethorpe chẳng học được gì qua các vần thơ này: “Thiên Chúa đã không hạ cố mạc khải Người ra nơi nào khác rõ ràng hơn là trong chính hình thể tuyệt vời của con người. Đó là hình thể tôi yêu mến nhất vì chúng là họa ảnh của Người”


