Ý NIỆM VỀ “ÂN SỦNG” (GRATIA) TRONG THÁNH KINH

Ta có thể nói rằng: Tất cả Thánh Kinh đều nói về “ân sủng” vì luôn đề cao tình thương của Thiên Chúa cho loài người, từ khi họ được dựng nên cho đến ngày cánh chung. Nhưng, trong Thánh Kinh, ta chỉ thấy nhắc đến những trường hợp cụ thể chứ không có một định nghĩa tổng quát về “ân sủng”.

I. Trong Cựu Ước, thường nhắc đến tính từ /Hanan/ và danh từ /Hên/.

Các từ trên, lúc ấy thường được dùng trong văn hoá trần gian với ý nghĩa hy sinh bản thân hay làm điều lành cho tha nhân. Trong Cựu Ước, ý nghĩa các từ ấy vẫn được giữ theo nguyên nghĩa. Nhất là trong các ca vịnh, con người cầu khẩn Thiên Chúa che chở và giúp sức, vì mình u mê và thiếu sức sống hành động. Các từ “sủng ái” và “ân tình” luôn được sử dụng để ngợi khen Thiên Chúa về lòng nhân hậu của Người. “Giavê, Thiên Chúa từ tâm và khoan dung, chậm giận hờn và giàu tình thương” (Es 34,6). Ở nguyên nghĩa, ân sủng (gratia) chỉ sự đón tiếp một người dưới với lòng nhân hậu của một người trên (1 Sam 16,22; 27,5). Thiên Chúa đã luôn có thái độ ấy với dân Do Thái (Ga 6,8). Từ “ân sủng” có ý nghĩa mạnh hơn từ “nhân lành”. Chỉ có Thiên Chúa mới ban “ân sủng” cho người thấp hèn và nghèo khó (Gen 39,21), vì Người có thể ban sự lành cho con người quá ước mong của họ (Gen 32,16).

Trong Cựu Ước, “ân sủng” Thiên Chúa ban cho loài người còn được chỉ bởi từ /hesad/. Đó là thái độ trung thành trong giao ước của Thiên Chúa cho loài người. Từ này chỉ sự nhân lành, tình bạn hữu, lòng thương yêu của Thiên Chúa qua những sự việc cụ thể (Gen 29,19; 24,12-14). Theo ca vịnh 144,2... nhờ ân sủng của Thiên Chúa “Người là thành luỹ, nơi tôi trú ẩn và nơi giải thoát tôi”. “Ơn lành ấy vượt quá mọi ước mong con người có thể có” (Gen 32,15).

Trong sách Đệ Nhị Luật (Dt 5,10), ân sủng không những có vì tình yêu của Thiên Chúa cho dân Israel, nhưng còn vì tình yêu của Người cho cả vũ trụ: “Ân sủng trên tràn đầy trái đất” (cf. Tv 33,5; 115,64) “tồn tại muôn đời” (cf Tv 89,3; 163,17). Riêng Ca vịnh 136 nói đến ân sủng là tình yêu đời đời của Thiên Chúa biểu lộ qua sự sáng tạo và tái tạo của Người trong thời gian.

Trong các ngôn sứ Giêrêmia và Ôsê, tình yêu của Thiên Chúa cho loài người được diễn tả như tình yêu trong hôn nhân. Phải có sự đáp trả của con người (Os 4,1; 10,12), nhưng Thiên Chúa bao giờ cũng ban ân sủng của Người nhiều hơn bội hậu sự đáp trả của cầu nguyện. Dẫu sao với con người có tự do, tuy Thiên Chúa trung thành hết mực, nhưng Người cũng cư xử theo quyền lợi và công bằng (Tv 25,20. 40...).

Như trên, trong Cựu Ước đã có một số từ ngữ để diễn tả kinh nghiệm về “ân sủng” mà dân đã được lựa chọn đã đón nhận bởi Thiên Chúa. Trong kinh nghiệm ấy, cái gì chính yếu là cách Thiên Chúa cư xử với loài người nhân hậu và phong phú vượt mọi thứ đợi chờ của loài người. Các hoàn cảnh cụ thể mà Thánh Kinh đã kể lại về lịch sử tương quan của Thiên Chúa đối với dân Người đã chọn cho ta thấy rõ qua truyện về ơn gọi Abraham: “Hãy bỏ xứ sở người (...) đến nơi ở ta sẽ chỉ cho người” (Gen 12,1-3). Thiên Chúa luôn trung tín với lời hứa dù loài người không luôn làm trọn bổn phận mình. Tất cả những biến cố và tư tưởng của Cựu Ước giúp con người hiểu biết “ân sủng” của Thiên Chúa đối với họ trong tương quan giữa Người và họ như thế nào.

II. Trong Tân Ước, cách phổ thông, ân sủng (gratia) là sự Thiên Chúa ban nhưng không cho con người, họ không có quyền đòi hỏi.

Các thánh Matthêu và Marcô không nhắc đến từ ấy, thánh Gioan chỉ nhắc đến có 3 lần. Sử dụng nhiều nhất là thánh Luca, Tông đồ Công vụ và thánh Phaolô. Để vắn tắt, chúng ta chỉ nhắc đến ở đây thánh Phaolô và thánh Gioan vì giá trị thần học của các vị này khi dùng từ ân sủng (gratia).

Có thể nói chính thánh Phaolô đã đưa từ “ân sủng” vào giáo lý công giáo. Từ này chỉ một cách khái quát sự cứu độ loài người đã phạm tội của Đức Kitô. Liên quan đến chiều kích “ân sủng”, thánh Phaolô nói nhiều đến các sự kiện cụ thể về ơn cứu độ như (2 Cor 6,1): “Chúng tôi khuyên mời anh em đừng đón nhận vô ích ân sủng của Thiên Chúa. Khi ân sủng là như môi trường để ta sống trong thân thể Đức Kitô” (1 Cor 1,2; 2 Cor 1,9). “Người có ơn nghĩa không sống dưới Lề luật, nhưng trong tự do của tình yêu làm cho con người không còn là nô lệ (Gal 3,23; 4,21) nhưng trong Thần Linh” (Gal 5,18).

Ân sủng không chỉ là ơn cứu rỗi của Đức Kitô, mà còn là bầu khí trong đó ta được sống với chính Đức Kitô. Trong các lời chào của thư ngài viết, thánh Phaolô thường nhắc đến: “Ân sủng của Đức Kitô ở cùng anh chị em” (cf. Rm 16,20, 1 Cor 12). Lời ấy đơn giản có nghĩa là: Tôi chúc anh em có tương quan ưu ái với Chúa Giêsu và có như vậy người ta mới được Thiên Chúa sủng ái.

Ân sủng trong thánh Phaolô còn có nghĩa là sức mạnh Thiên Chúa ban cho loài người yếu đuối. Khi ta có ân sủng thì ta đã “có đủ” vì lúc ấy Thiên Chúa là sức mạnh của ta (cf. 2 Cor 12,9). Người Kitô hữu nào cũng có trách nhiệm truyền giáo, việc này con người không tự mình làm trọn được, nhưng họ luôn được ân sủng giúp cho làm xứng đáng (Rm 1,5; 2,3).

Trong các thư mà người ta quen gọi là thư mục vụ của thánh Phaolô, ông thường coi “ân sủng” là nguồn gốc các ân huệ mà sự chết và sự sống lại của Đức Kitô đem lại trong đời sống cụ thể của mọi người từ khi sinh ra đến ngày cánh chung. Ông viết: “Thiên Chúa đã tiền định cho ta là nghĩa tử, nhờ Đức Giêsu Kitô để ta hằng ngợi khen “ân sủng” rạng ngời, ân sủng Người đã tặng ban cho ta trong Thánh Tử yêu dấu” (Eph 2,6-9). Bên cạnh thư gởi thành Ephêsô, thơ gởi người Colossê lại nhận định ân sủng như sự hiểu biết và chấp nhận Tin Mừng của Thiên Chúa đã được mặc khải cho ta (Col 1,6).

Thánh Phaolô coi Đức Kitô là “ân sủng cá vị hoá”, là “biểu lộ hữu hình” và “epiphania” của tình yêu thương và lòng tha thứ của Thiên Chúa cho mỗi người chúng ta (cf. Tt 2,11). Với Timôthê ông viết: “nhờ ‘ân sủng’ của Người, Thiên Chúa biểu lộ lòng nhân lành của Người” (2 Tim 2,11).

Trong thư gởi người Do Thái, thánh Phaolô cho rằng: “Ân sủng” là can thiệp của Đức Giêsu Thượng tế của loài người nay vinh hiển ở trên trời. Vì thế, chúng ta phải tiến gần đến ngai Thiên Chúa là ngai “ân sủng” để được thương xót và trợ giúp mỗi khi cần (Hebr 4,16...). Ông kết thúc bức thư bằng lời chúc mọi người được ân sủng (13,24). Đó là vì ông nghĩ rằng “ân sủng” không những là phần rỗi Đức Kitô đem đến, mà còn là chính Đức Kitô.

Thánh Gioan không có cả một tổng hợp về ý nghĩa của từ “ân sủng” như thánh Phaolô, nhưng ngay từ chương đầu Phúc Âm thứ bốn, ông cũng đã xác định ý nghĩa của “ân sủng” là gì (1,14. 16. 17). “Ngôi Lời làm người đầy tràn ân sủng và sự thật”. “Từ nguồn sung mãn của Người, tất cả chúng ta nhận được hết ân sủng này đến ân sủng khác”. Lề luật đã được Thiên Chúa ban qua ông Môsê, còn ân sủng và sự thật thì nhờ Đức Kitô Giêsu mà có. Thánh Gioan lưu ý cách riêng đến tương quan ân sủng và sự thật, hai từ này đều nhắc đến “thiên tính” hiện diện nơi Đức Giêsu. Dầu sao, sự sung mãn đời sống thần linh mà Ngôi Lời nhập thể ban cho loài người thì ai trong chúng ta cũng được tràn đầy, “từ ân sủng này đến ân sủng khác” (1,16). Như vậy, Lề luật đến từ Môsê, ân sủng và chân lý đến từ Đức Kitô. Trật tự của Lề luật được thay thế bởi biến cố cánh chung nơi Đức Giêsu Kitô.

III. Nghiên cứu các ý nghĩa khác nhau của “ân sủng” nhất là trong Tân Ước cho ta đi đến một số kết luận:

Từ “ân sủng” thường chỉ biến cố cứu độ của Đức Kitô tuỳ các trường hợp khác nhau khi sử dụng từ ấy. Lúc này chỉ việc tha thứ các tội lỗi, lúc khác chỉ hiến lễ mà Đức Kitô dâng lên trước mặt Ngôi Cha, thay cho ta như con hiếu thảo, lúc khác nữa như sự soi sáng và sự nâng đỡ của Thánh Linh để ta trở nên thánh trong đời sống trần gian... Thánh Phaolô đã nhắc đến cụ thể sự chiến thắng trong đời sống các cá nhân và đoàn thể của những người nhờ “ân sủng” mà nên công chính. “Ân sủng” và chân lý đến với người công chính khi họ chấp nhận tin vào sự hiện diện của Đức Kitô trong đời họ qua các bí tích và nhất là trong bí tích Thánh Thể. Các Giáo Hội ở các miền khác nhau nhận được từ sự hiện diện ấy những ơn huệ luôn phong phú “gratia in gratia” chẳng bao giờ thiếu ở trần gian này. Đó là điều mà thánh Gioan đã diễn tả trong sách Khải Huyền (Ap 1,4; 22,21).

Nhờ “ân sủng”, con người tiến gần đến ngày cánh chung, đó là việc con người sát nhập trong thời gian vào thân thể Đức Kitô (in corporation). Đời sống của mỗi người trong “ân sủng” không những phải nhìn ở phạm vị cá nhân, nhưng còn phải nhìn ở phạm vi tập thể nữa. Hơn thế, còn phải nhìn ở thông hiệp với vũ trụ nữa.

Các từ mà chúng tôi đã giải thích trong bài này không cho nhiều điểm tựa để phân biệt những dị đồng cho yếu tố làm nên ơn cứu độ (Redemptio). Dầu sao, ta cũng thấy các sự kiện khách quan như sự sinh ra, sự lớn lên, việc ra giảng đạo, sự đón nhận đau khổ, sự chết, sự sống lại... của Chúa Giêsu và phương diện chủ quan ở mỗi người đã sống theo gương Người là “ân sủng” mỗi ngày một phong phú hơn cho đến ngày chung thẩm.

Ta đừng quên rằng ý nghĩa các từ khác nhau trong Tân Ước diễn tả “ân sủng” mỗi ngày một phong phú hơn nhờ ở nội dung cụ thể mà nhân loại học đã đem lại. Bước tiến ấy ảnh hưởng vào huỷ bỏ hay thay đổi ý nghĩa các tục lệ cá nhân và xã hội rất nhiều. Trong thông hiệp vào đời sống Đức Kitô, “ân sủng” thật là một yếu tố không thiếu được cho mỗi người và cho xã hội ngày nay.