Câu hỏi tự nhiên của mỗi con người sống trong một giai đoạn lịch sử của mình luôn là những câu hỏi liên quan đến vận mệnh cuộc đời con người: Tại sao tôi sinh ra ở đời này? Tại sao lại chết? cuộc sống này có ý nghĩa gì? tại sao lại có nhiều đau khổ đến thế? Tại sao thế gian này có nhiều tội ác đến thế? người ta chà đạp phẩm giá lẫn nhau? người ta đua nhau hất nhau ra khỏi cuộc sống?...
Những câu hỏi như vậy là trung tâm điểm của tôn giáo, vì đó là những nhu cầu hiểu biết về thực tại nhân sinh của mình, thực tại của xã hội đang sống, thực tại tối hậu của vòng đời người, lối đường nào dẫn dắt số phận của con người đi từ sống đến chết? hướng mở nào của con người khi kinh nghiệm về những cái chết tự nhiên của những con người? Hy vọng nào cho đằng sau sự chết? Kinh nghiệm nào của những con đường tội lỗi?
Bắt nguồn từ khi con người phải chết, con người đi tìm hiểu ý nghĩa thực sự của cuộc sống là gì, nên vào những thời điểm sơ khai con người bắt đầu giải thích bằng những huyền thoại vũ trụ, giải thích sự tồn vong của vũ trụ, tìm câu trả lời cho những vấn đề nhân sinh. Từ những nguồn câu trả lời đó của mỗi dân tộc hình thành nên một lối sống, định hình cho những nền văn hoá khác nhau, để đi theo hướng phải lựa chọn giữa sự thiện và sự ác, theo sự tự do của mình được ánh sáng văn hoá soi sáng.
Nếu sự dữ cuối cùng là sự chết, và Tội lỗi là mồ chôn nhân loại, ra khỏi mồ nghĩa là giải thoát ra khỏi vòng vây của tội lỗi. Nếu sự chết là chiến thắng cao điểm của tội lỗi thì việc ra khỏi mồ là việc đánh bại thần chết và tiêu diệt tội lỗi. Chúa đã ra khỏi mồ, đó là một sự kiện lớn lao nhất từ khi con người phải chết, đánh dấu một nền văn hoá mới, một nền văn hoá sự sống. Văn hoá của con người bắt nguồn từ việc chôn xác kẻ chết (kenosis), văn hoá của Kitô giáo bắt nguồn từ việc Chúa ra khỏi mồ (Plerosis). Đó là hai nền văn hoá mà trong bài này đề cập tới, tuy nhiên vì những giới hạn nhỏ hẹp của bản thân, phần trình bày chính cũng trở về với văn hoá Việt Nam.
I Văn hoá nhân loại (chôn người chết):
Những sách ghi chép cổ xưa của nhân loại, những chứng tích của những ngôi mộ cách đây 5000 năm mà các nhà khoa học đã tìm thấy tại Ai Cập mới đây là dấu hiệu nền văn hoá chung của nhân loại.
1. Văn hoá nhân loại có thể nói là từ khi con người bắt đầu chết. Người chết thì không làm được gì nữa, nhưng là những người đang sống đứng ra để lo cho những người chết. Xét ở một tương quan giữa người sống và người chết, tự nó đã là một nền văn hoá. Văn hoá ấy ở trình độ cao thấp khác nhau là tuỳ thuộc vào việc chôn người chết. Sự tuỳ thuộc ấy cũng định hình những nền văn hoá tâm linh khác nhau. Có thể nói có bao nhiêu tộc người thì có bấy nhiêu kiểu cách, nghi lễ, ma chay, những hình thức này cho thấy những quan niệm sống khác nhau.
Truyền thống tâm linh Đông Phương cho thấy việc giải thích tìm hiểu vấn đề con người phải chết hình thành những nền văn hoá, cổ đại cũng như hôm nay. Con ngừơi không thể chấp nhận một cái chết vô nghiã ập đến, một cuộc sống triền miên đau khổ và sự dữ lộng hành mang theo sự chết của nó. Vì con người không thể chấp nhận sự hỗn loạn và vô nghĩa nên đã đi tìm những thời gian có gía trị đặc biệt. Trong các tôn giáo truyền thống là những lễ hội đình đám, đó là những thời kỳ phục hồi sự sống bị hao mòn theo năm tháng. Không có một xã hội nào thiếu những lễ hội như vậy, những lễ hội theo định kỳ làm cho xã hội bớt đi những căng thẳng hoặc bớt đi những nhàm chán của đời sống. Đó là những hình thức tái sinh cần thiết để làm tươi trẻ những gì đã cũ kỹ, mang thêm sinh lực cho những ngày sống mới. Phần lớn các lễ hội của xã hội đều khởi đi từ một sự kiện hoặc tưởng nhớ vị anh hùng nào đã khuất trong quá khứ. Truy đến ngọn nguồn của những lễ hội, người ta khám phá ra, những lễ hội ấy mang dáng dấp việc đưa tiễn, tưởng nhớ người đã khuất. Sự sống cần được khôi phục bởi sự chết dần của nó luôn kè kè bên cạnh. Các cộng đồng tôn giáo thì thấy rằng cần có một động lực đẩy thêm sức mạnh, năng lực cho sự sống. Như ngọn lửa đang khô dầu, ngọn nến đang hết sáp, năng lực của cuộc sống dần dần tiêu hao, nên vẫn luôn mãi con người đi tìm một thời thiêng để phục hồi cho giá trị ấy.
Các nghi lễ hội hè theo Theodore M. Ludwig là định hướng cho cuộc sống, những trung tâm dệt nên ý nghĩa cuộc đời.
Đông Phương đề cao việc “Đổ rỗng”, đó là thời kỳ Kenosis, thời kỳ đổ rỗng tâm linh để hồi sinh, trút bỏ lối đường cũ để sống đời sống mới. Trong thực hành kenosis có nhiều hình thức, một trong những nghi thức phổ biến nhất là tẩy rửa, thanh lọc các uế tạp của đời sống cá nhân cũng như tập thể, thú tội và sám hối, tách ly với cuộc đời đang sống để tịnh tâm. Tại một số cách thức của những dân tộc Á Châu hay Châu Phi, để bước qua một tuổi thiếu niên, một người phải đi vào rừng sâu để lột xác. Tại Thái Lan, những thiếu niên bước vào tuổi thanh niên phải trải qua ba năm ở trong một ngôi chùa nào đó. Đó là thời kỳ Kenosis, thời kỳ đổ rỗng, dứt bỏ hiện tại, cuộc sống thường ngày, đang trong thời kỳ ấy người ta gọi là thời kỳ limen (liminal state), sau đó khi bước ra khỏi rừng sâu trở về với cuộc sống người thiếu niên đã được chứng nhận là trưởng thành, đó là thời kỳ Plerosis. Trong rừng sâu người thiếu niên phải giũ bỏ hết những gì đang có, để một mình đối diện với chính mình, một mình đối diện với thiên nhiên và một mình đối thoại với Đấng linh thiêng. Đó cũng là những thời kỳ sám hối và canh tân Mùa Vọng và Mùa chay của người Kitô giáo trước lễ hội Giáng Sinh và Phục Sinh.
Kenosis được đề cao rất nhiều trong cuộc sống. Từ khi sinh ra đứa bé đã được tắm để sinh ra trong trong một môi trừơng mới, cho đến khi hôn nhân lại một lần nữa chết đi cho cuộc sống độc thân để bước vào đời sống đôi lứa, và cho đến khi ra khỏi cuộc sống. Kinh nghiệm sau cùng nhất, cao điểm nhất của tình trạng kenosis của mỗi cá nhân là sự chết, ở cao điểm này, cái kinh nghiệm cá nhân của người này không thể truyền đạt cho người kia, mỗi người chỉ kinh nghiệm ở những lần “đổ rỗng” trong khi đang sống.
Thờ kính tổ tiên người xưa.
Tìm hiểu về văn hoá của một dân tộc, là tìm về những nghi lễ hội hè đình đám, vì ở đó là dấu hiệu của sự phục sinh, dấu hiệu của những thời kỳ “đổ rỗng” của từng dân tộc. Đó là những thời điểm kenosis để kinh nghiệm về tâm linh, hướng dẫn cho cuộc sống.
2. Những người dân tộc vùng Tây Nguyên Việt nam có lễ bỏ mả hằng năm, và là loại lễ mang nhiều sắc thái văn hoá nhất. Có rất nhiều thể hình nghệ thuật được chăm chút như nhà mồ, tượng mồ, múa, nhạc, con rối, mặt nạ, những dụng cụ giả để chia cho người chết; phải chuẩn bị nhiều thức ăn uống. Lễ bỏ mả của người Tây Nguyên vượt xa các lễ hội làng buôn nào khác, lễ ấy mang tính chất nối linh thiêng vào đời như người ta vẫn hằng tin tưởng. Người Giarai thì có câu “Bơlan ning nông thông atâu” (tháng nghỉ đi chơi lễ bỏ mả); người Bana thì có câu: “Khêi ning nơng pơm bơxát” (tháng nghỉ làm nhà mả). Việc chôn người chết, làm ma cho người quá cố, là một dấu chỉ chứng minh con người có tâm linh. Vì tin rằng con người chết không phải là hết nên người Giarai, Bana hay như những tộc người khác làm lễ đưa tiễn người chết sang một trạng thái sống khác. Khác với những tộc người khác, người Giarai và Bana không có đền, miếu hay lăng tẩm dùng việc thờ người chết, họ tin rằng sau lễ bỏ mả là những người chết đã sống một nơi tách biệt hẳn với người sống.
3. Sở dĩ, người ta học biết được nhiều loại văn hoá cổ xưa là nhờ vào những khai quật những lăng tẩm, mộ cổ. Nhà mồ theo cách nói của người Tây Nguyên là biểu tượng sự sống ở nơi khác của người đã khuất. Không có một loại hình kiến trúc nào của người Tây Nguyên lại thu hút nhiều loại hình thức nghệ thuật như nhà mồ. Nhà mồ thông thường thì không lớn như ngôi nhà rông, đôi khi lớn hơn cái chòi hoặc bé hơn thế, nhưng cấu trúc của nhà mồ lại là một công trình nhiều nghê thuật hơn hết bao gồm các tượng gỗ, các cột trang trí cao thấp khác nhau, những mẫu gỗ được ghi khắc, chạm trổ công phu, những bức hoạ trên nóc. Tất cả các kích cỡ cấu trúc nhà mồ đều lấy theo kich thước chuẩn mực con người. Tuy cấu trúc công phu nhưng sau lễ bỏ mả nhà mồ cũng chịu cảnh trơ vơ, phai tàn dần theo năm tháng.
“Nho giáo với nguyên tắc hàng đầu trong lối sống cổ nhân, theo lời dạy của Khổng Tử, là Lễ, có nghĩa là “khuôn phép” hay “nghi thức khả kính” Lễ nguyên là những việc nói về các nghi lễ và các hiến tế đối với các bậc tổ phụ, những việc cử hành đầy tôn kính, cẩn trọng đến từng chi tiết và chu toàn từ đầu đến cuối. Điều cốt yếu của khuôn phép là đạo hiếu con cháu đối với cha mẹ và tổ tiên. Khổng Tử còn nhấn mạnh rằng, thái độ cung kính có thể thấm nhuần toàn bộ các hành vi: ta có thể thực hành khuôn phép trong đời sống thường ngày, hành xử những nghi thức và nghi lễ xứng hợp và bằng cách đó ta chuyển hoá mình thành người có nhân”.
Thời gian dành cho việc lễ là thời gian Kenosis, tách biệt khỏi cuộc sống ồn ào, tìm về ý nghĩa thiêng liêng của cuộc sống. Trong đạo hiếu, Kenosis là những giờ phút mặc niệm đối với người quá cố, được biểu hiện bằng những hành vi xá lạy, nhận ra mình là những người mang ơn với cuộc sống tổ tiên dành lại. Ý nghĩa này dẫn dắt con người trong đời sống, giữ họ khỏi lạc hướng, giúp họ biết lựa chọn những gì tốt đẹp và có giá trị vượt thời gian.
4. Người Tây Nguyên không thờ kính ông bà tổ tiên, nhưng với văn hoá người Việt thì đạo hiếu là nền tảng căn bản. Người Việt tin rằng tổ tiên ông bà sau khi khuất vẫn sống chung trong một mái nhà cùng với con cháu đang sống. Niềm tin này giúp họ đừng làm gì sai quấy với tổ tiên.Từ đó, tang ma đối với người Việt là một điều hết sức hệ trọng trong vòng đời người. Không có hành vi thờ kính nào mà không có bài học luân lý hướng dẫn cuộc sống. Sở dĩ, hành vi thờ kính mang theo bài học luân lý là vì theo lẽ đất trời có nguồn có căn. Nguồn ấy là sự sống, căn ấy là lẽ sống.
Đạo hiếu trên đất Việt có từ bao giờ? Đó là một câu hỏi ngược dòng tìm về nguồn cội ý thức tâm linh của người Việt. Cũng như những tộc người khác trên thế giới, người Việt đã tin rằng “vạn vật hữu linh”, mà hình thức thờ phổ biến nhất, sơ khai nhất là thờ các nhiên thần: Thần cây, thần núi, thần sông… Người ta thần thoại hoá các nhiên thần ấy theo sinh hoạt của con người, có khi theo thần dữ có khi theo thần lành. Từ giai đoạn nhiên thần đến nhân thần cũng rất gần gũi. Theo lối suy tư cụ thể cuả người Việt nhân thần dễ gần gũi hơn nhiên thần dần dà các nhiên thần chỉ còn một số ít được thờ kính mà thay vào đó là các nhân thần. Khi việc thờ kính nhân thần phát triển thì cũng đồng thời con người lại hiểu hơn về sự liên lạc giữa người sống và người chết. Sự liên lạc ấy cho con người khám phá ra hơn về bản thân mình, những câu hỏi căn bản cũng tuần tự được đặt ra: con người từ đâu tới, đi đâu và sẽ về đâu? Những câu hỏi rất gần với nhân linh, nên người Việt tin rằng con người có hồn có vía. Khi một người chết thì xác trở về tro bụi nhưng hồn linh về lại cõi âm, vẫn sống và ở gần với những người thân. Người ở cõi âm vẫn cần có những công cụ làm việc như những người ở dương gian, quan niệm này được minh chứng qua việc người xưa chôn cất người chết cùng với những dụng cụ và những gì người qua cố thường dùng.
Như vậy, từ khi con người bắt đầu chết, cũng là khi con người ý thức sự chết của con người khác với các loài khác, chết không phải là hết, chết là một ngưởng cửa đi vào những cõi huyền bí khác mà con người cố gắng tìm hiểu.
5. Tin rằng chết không phải là hết cho nên nảy sinh những lễ và hội để tưởng nhớ người chết. Việc chuyển những nhu cầu của người sống cần dùng cho người chết làm nên những việc cúng tế. Lễ Vu Lan cũng bắt nguồn từ tâm thức đó. Như vậy, trong đời sống tâm linh cũng chuyển hoá, phát triển hơn về những hình thức lễ hội. Nguyễn Du có viết: “Thanh minh trong tiết tháng ba. Lễ là tảo mộ, hội là đạp thanh”.
Một hình thức tâm linh khác cũng được lưu chuyển cho con cháu đang sống đương thời là tinh thần chia sẻ, an ủi những người đã khuất, đồng thời cũng được những người chết cầu bầu cho mà người ta thường gọi là “âm phù”, nghĩa là người chết phù trợ cho người sống. Mối liên hệ giữa người sống và người chết hình thành nên một lối sống cộng đồng mà người ta gọi thường là đại gia đình, một đại gia đình như thế thường có một “tông đường”. Lần lượt kẻ trước người sau, đều vượt qua ngưỡng cửa của sự chết ấy, rối lại sống chung trong một mái nhà mà đất làm mẹ. Người Việt có lẽ là một dân tộc thấy sống và chết gần kề nhau nhất, cho nên mang một cách sống: “sống gửi, thác về”. sống thì gửi thân xác này cho dương thế, thác thì gửi xác này về cho đất mẹ. Người sống sánh với đất là dương, sánh người với trời là âm. Dương thế nếu so sánh với trời là âm, âm rồi lại trở về âm (đất mẹ). Từ cách sống ấy, người Việt sống không quan trọng lắm về hình thức mà sống chủ yếu dựa vào tình thương: “Bầu ơi, thương lấy bí cùng. Tuy rằng khác giống mà chung một giàn”. Mối liên hệ giữa người sống và người chết làm nên mối quan hệ mật thiết giữa những người sống với nhau. Đó là bài học luân lý của đời sống cộng đồng.
6. Người Việt không chỉ tưởng nhớ người chết một năm đôi ba lần, cũng không tưởng nhớ người khuất chỉ vài ba đời, nhưng trong các hình thức thờ kính tổ tiên của người Việt bàng bạc trong cuộc sống. Không ngày nào mà không nhớ đến tổ tiên, Không chỉ dừng lại đôi ba đời mà cả dòng dõi nếu có thể kể hết được cho đến tận nguồn. Lối sống của người Việt, vì thế, luôn lấy làm trọng việc “uống nước nhớ nguồn” mà dạy bảo con cháu. Truyền thống “Uống nước nhớ nguồn” lại là một Kenosis, tìm về nguồn cội của sự sống, dứt bỏ mình trong hiện tại để hướng mình về phía quá khứ, nơi người đã mang mình đến, nơi ngọn nguồn sự sống của tổ tiên. Tìm trong truyền thống “Uống nước nhớ nguồn” những ý nghĩa thực tại cho nhân sinh, giải đáp những oan trái cuộc sống thường ngày gặp phải, tìm ra câu trả lời cho ý nghĩa cuộc sống. Vì thế, truyền thống “uống nước nhớ nguồn” ấy cứ bàng bạc trong mỗi ngày sống, dường như đang sống ở bên cạnh, để tổ tiên dìu dắt con cháu bước đi theo những kinh nghiệm đã trải qua của tổ tiên.
Truyền thống “uống nước nhớ nguồn” hình thành những cộng đồng kinh tế. Hiệu quả của việc cấy cầy là nhờ tổ tiên phù trợ cho. Trong kinh tế của người Việt cũng lấy gia đình làm đơn vị căn bản canh tác, già cả lớn bé đều làm cùng với nhau trên một cánh đồng, từ việc làm chung, hưởng chung đó mà gia đình gắn bó với nhau hơn ai hết: “Chồng cầy vợ cấy, con trâu đi bừa” diễn tả sự hiệp nhất của một gia đình. Có những gia tộc lớn chiếm hết cả một làng thì người ta thấy có ruộng làng - ruộng xã - cũng có ruộng hương hoả dành cho việc thờ kính tổ tiên. Dù một gia đình nhỏ bé ít người cho đến một gia tộc lớn lao đi chăng nữa, gia đình nào cũng quan trọng việc thờ kính tổ tiên. Ruộng hương hoả là không bao giờ được bán hay đem đi gán nợ dù có chết vì đói. Nền kinh tế nông nghiệp thưở xưa, rất quan trọng những phần đất tổ để lại. Không có phân đất này, con cháu giống như người xa lạ, đến ăn nhờ ở đậu.
7. Người ta thường hiểu lầm đạo hiếu là mang từ Trung Hoa vào dân gian Việt. Điều ấy thật là không đúng. Thực ra, cuộc sống đã có những giá trị tâm linh như khi con người biết chôn cất người quá vãng, người Việt trong những ý nghĩa của những câu truyện cổ đã thuật lại nguồn gốc của mình là : “con rồng cháu tiên”, có một nguồn gốc từ trời, cho nên người Việt lúc nào cũng cầu khấn với Trời, hay tạ ơn với Trời. Hình thức lễ tế thì có ảnh hưởng từ Khổng giáo, Phật giáo, nhưng đó là một giai đoạn muộn thời hơn so với tâm thức siêu hình. Người Việt không dễ gì mà đón nhận tất cả những miền văn hoá lớn của Trung Hoa, với ý thức cội nguồn, người dân Việt đã rửa tội cho những hình thức lễ bái Trung Hoa, hay Phật Giáo cho chính mình. Cụ thể là Nhà Lê đưa ra những quy định rất chặt chẽ về luật hương hoả: “Ruộng hương hoả, dù con cháu nghèo khó, cũng không được đem bán trái pháp luật, có` người tố cáo phải ghép vào tội bất hiếu. Nếu người trong họ mua số ruộng đất ấy thì mất số tiền mua. Người ngoài mà mua thì phải cho chuộc, người mua không được cố giữ”. Ngoài ra triều đình cũng tặng thưởng cho những người con có hiếu, mà người ta gọi là “hiếu tử”, những người mà lúc “cha mẹ sống lấy lễ mà thờ, cha mẹ chết lấy lễ mà táng”. Ảnh hưởng của Trung Hoa hay Phật Giáo từ Ấn Độ vào Việt, đều được Việt hoá cách gần gũi. Ví dụ Phật là nam giới của Ấn Độ vào Việt thì chuyển thành nữ Phật Bà Quan Âm, ví dụ triều đình có ảnh hưởng Trung Hoa vì lý do này khác, nhưng ở dân vẫn “Luật vua thua lệ làng”. Ví dụ để chống lại việc dùng chữ Hán nguyên gốc của người Trung Hoa, người Việt chế tác cho mình bộ chữ Nôm mà dùng… Có thể nói chăng nhờ hiếu đạo mà người Việt không hề bị mất gốc, dù ngàn năm chịu sự đô hộ giặc Tàu?
8. Tổ tiên đối với người Việt không chỉ dừng lại ở việc dòng dõi, nhưng phổ quát hơn nhiều. Tổ tiên có thể kể bao gồm những tổ nhà, tổ họ, tổ làng, tổ nghề, tổ nước… Vì thế, hình thức giỗ tổ có lẽ đến từ rất sớm, nằm sâu trong tâm thức của người Việt. Giỗ tổ, do đó là một hình thức tạ ơn, tạ ơn Trời, tạ ơn đất, tạ ơn nước, tạ ơn những người đã có công gầy dựng cho con cháu sự sống, cũng như hạnh phúc. Dân tộc Việt nhờ “Hiếu đạo” mà trở thành những con người biết tạ ơn nhiều nhất chăng? Do đó khảo sát những đạo giáo hình thành trên đất Việt, ta thấy khi có một đạo lý xuất phát tại Việt Nam, người sáng lập luôn đề cao vị trí tạ ơn thành một giáo lý: Ví dụ Phật Giáo Hoà Hảo lớn mạnh tại An Giang, lấy “tứ ân” làm cơ sở phát triển, Cao Đài giáo thờ kính hết thảy những người có công dựng nước và giữ nước… Người Việt xưa ý thức tâm linh ở trong trình độ rất cao, thành kính không chỉ dừng lại ở việc cầu xin, nhưng phần lớn lòng thành kính ấy mang tâm tình tri ân. Tri ân ngay cả khi túng cực, để mong ngay nào đó “sau cơn mưa trời lại sáng”, con cháu có dư dả hơn để thực hành lễ bái cho xứng đáng hơn với tổ tiên. Theo nhận xét này, hiện nay chúng ta thấy, người Việt lúc nào cũng sẵn lòng góp vào xây dựng những ngôi nhà thờ chung của cộng đồng, có ít họ góp ít, không ai là không góp, góp để phần nào tri ân, tạ ơn với sự sống. Người Việt ít khi cầu lợi mà chỉ mong sự may lành đến với họ nhờ ân đức của tổ tiên.
9. Hình thành một văn hoá từ việc chôn cất người chết, đôi khi các nhà nghiên cứu thường tự hỏi: “Thờ kính tổ tiên có phải chăng là một tôn giáo?”. Toan Ánh cho rằng: “thờ kính tổ tiên không phải là một tôn giáo, mà là lòng thành kính và biết ơn của con cháu với những người đã khuất”. Giáo sư Nguyễn đổng Chi thì phân vân “nó gần như một thứ tôn giáo” còn đối với Giáo sư Đặng Nghiêm Vạn thì khẳng định: “Đây là một tôn giáo chính thống của người Việt”. Ở dưới một góc cạnh nào nhìn nhận đi chăng nữa thì cũng hiểu rằng đó là đạo lý chung của tâm hồn Việt “Uống nước nhớ nguồn”.
10. Thờ kính tổ tiên còn mang tính chất tổ chức cộng đồng trong xã hội truyền thống. Một người sống trong xã hội xét theo chiều dọc và chiều ngang, nhìn nhận rằng “không ai là một ốc đảo”, người này đều có liên hệ với người kia, gần thì huyết thống xa thì làng nước. Huyết thống ở xa thì “bán họ hàng xa, mua láng giềng gần”. Mối liên hệ xa đi chăng nữa lại vẫn chung một tổ, bởi vậy xã hội ngày xưa, dựa vào yếu tố đó để xây dựng tổ chức Làng - Nước. Tổ chức làng - nước nhằm bảo vệ cộng đồng nhân sinh trước ngoại xâm và bảo đảm nghành nghề sinh sống.
Từ đường.
11. Văn hoá từ đường cũng theo đạo hiếu mà phát triển, từ đường có thể là một gian trong gia đình, để việc tế lễ tổ tiên hằng ngày được tiến hành, từ đường có thể là một ngôi nhà tách biệt của tổ tiên để lại, hoặc do mua, dành cho dòng họ tế lễ dịp đầu xuân về, con cháu quy tụ về đây chúc tết ông bà, và các cháu được mừng thêm tuổi mới do tổ tiên ban phúc. Từ đường là nơi họp mặt đại gia đình, mỗi khi giỗ tổ hoặc trình báo tổ tiên khi đám cưới hỏi những con cháu trong gia đình. Những chuyện vui buồn dường như đều có tổ tiên dự phần vào như khi đang còn sống. Đối với người Việt tuy âm dương cách trở nhưng cũng không hề xa cách. Bàn thờ gia tiên tại từ đường có bài vị của các cụ tổ được lám bằng gỗ táo ( với ý nghĩa cây táo sống nghìn năm) ghi rõ tên tuổi của các vị tổ. Bài vị này không được quyền thay đổi cho đến khi đời thứ năm khuất bóng, đời cao nhất sẽ được đem chôn bài vị và các cấp còn lại tăng lên một bậc. Người Thái ở cao nguyên Bắc Việt chỉ thờ một đời gần nhất, người Nùng thì thờ đến ba đời, sang đới thứ tư thì được dời ra cửa ngõ hoặc trước nhà như vị thần gác cửa bảo vệ sự an toàn cho con cháu.
12. Bàn thờ gia tiên được làm thành hai lớp, ngăn cách bởi tấm y môn che phủ . Lớp trong đặt long khám của thần chủ (hoặc ngai, hoặc ỷ tượng trưng cho ngôi vị của tổ tiên), một vật thờ gọi là tam sơn để đặt hộp trầu, chén rượu, ly nước, đĩa hoa quả. Lớp ngoài là hương án, trên đặt bình hương, đèn, ống hương, mâm bồng… Ngày thường tấm y môn vén lên, nhưng vào ngày lễ, sau khi khấn vái, y môn được thả xuống.
Trong tâm trí lúc nào tổ tiên dường như cũng đang sống dưới một mái nhà, ngay bên cạnh nên hầu như từ đường nào cũng có ngôi mộ tổ ở giữa khu vườn dưới những rặng cây cổ thụ hoặc vườn cây trái nếu đấy là nơi miệt vườn. Tổ tiên không xa cách nên từ đường lúc nào cũng ấm áp hương khói kính nhớ. Có nơi người xây mộ tổ theo tính cách bửu tháp, thường là nơi chùa chiền, nơi bửu tháp ấy là người lập nên chùa được mai táng. Thật là thiếu khi bửu tháp không có gốc cây cổ thụ, thường thì là gốc sứ trắng, một loại cây toả hương thơm hoa suốt bốn mùa, vững chãi đứng đó che bóng cho đàn con cháu. Khi nói về từ đường, những người con dường như nghe tiếng tổ tiên đang ở đó cầu chúc cho con cháu những năm tháng dài an khang hạnh phúc.
Khác với các nước Á Châu như Nhật bản đặt bàn thờ Thần đạo (Shinto) ở nơi trang trọng nhất trong nhà, còn bàn thờ gia tiên ở gian phụ. Ở Hàn quốc, người ta chỉ lập bàn thờ và dán bài vị khi có việc cúng giỗ. Ở Việt Nam, bàn thờ gia tiên ở ngay gian giữa, ngay khi khách vào nhà đã thấy sự trang trọng của bàn thờ gia tiên, nếu là một người ý thức về tính trang trọng của dân tộc, trước khi vào câu chuyện với người trong nhà, người khách cần thắp ba nén hương để thờ kính tổ tiên của gia đình mình đến. Tại một số gia đình nếu cha mẹ mất sớm cả, người anh lớn trong nhà dù việc lớn hay việc gì nhỏ, hoặc cả việc lấy roi đánh các em mình để dạy chúng thì cũng thắp vài nén hương xin phép được thay quyền cha mẹ quyết định. Lễ giáo của một gia đình lấy khuôn phép từ bàn thờ gia tiên ấy mà sống. Ngày xưa không có khoa dạy luân lý, dạy phép đạo làm con, nhưng ở gia đình con trẻ học được rất nhiều lễ giáo nơi bàn thờ gia tiên, trong gia đình.
13. Bàn thờ gia tiên không nhất thiết trưng bày theo một quy tắc nhất định, tuỳ theo gia cảnh của mỗi nhà, thường thì có bài vị thay cho những tấm ảnh như bây giờ hay từ khi nghành ảnh ra đời và phổ biến. Bài vị hay linh vị, đôi khi bị hiểu lầm là một bùa chú, không phải vậy, bài vị là tấm thẻ ghi danh tánh của người đã khuất và ngày sinh, ngày tịch để nhắc nhở ngày giỗ kỵ. Bài vị biểu hiện sự hiện diện của người đã khuất trong gia đình, sự hiện diện linh thiêng của tổ tiên. Bên cạnh bài vị có bát hương, đĩa đèn, bình hoa, chén rượu, hộp trầu, mâm quả… chất liệu của các dụng cụ trên bàn thờ thường bằng gỗ hay bằng sành, sứ. Những gia đình giàu có hơn thì dùng bằng đồng, bộ tam sự (gồm đỉnh đồng làm bình cắm hương và hai con hạc đồng), trong bộ thờ có hạc là khi có ảnh hưởng của Phật giáo vào trong hiếu đạo (người Phật giáo tin rằng con hạc này sẽ chở người đã khuất về nhanh cõi Niết Bàn), bô ngũ sự thì có thêm hai ống hương, bộ thất sự có thêm đôi đèn. Bàn thờ gia tiên của nghành trưởng thì trang trọng hơn nghành thứ, bàn thờ gia tiên của chị trưởng thì bài biện đẹp hơn của chị thứ.
Trách nhiệm thờ kính tổ tiên là bốn đời bao gồm: Cao, Tằng, Tổ, khảo (bao gồm cả các cụ bà), bên cạnh bàn thờ thường có có bức đại tự hay hoành phi, nội dung các bức này thường là:
“ Công đức bách niên duy,
Tử tôn vạn đại kiến”
14. Lễ thức tang ma được coi là quan trọng nhất là để đưa ông bà hoặc cha mẹ vừa mất về gặp mặt tổ tiên và gia nhập vào các trhứ bậc tổ tiên. Người vừa khuất được đặt bàn thờ riêng, cho đến khi giỗ đoạn tang. Sách “thọ mai gia lễ” ghi chép rất chi tiết những quy định về lễ tang, bao gồm các lễ như: lễ gia tân y, chúc khoáng, khiết xỉ, lễ phục hồn thiết hồn bạch, phạn hàm, tiểu liệm, đại liệm, nhập quan, thành phục, thiên cửu, yết tổ… sau lễ chôn cất có các lễ: Phản khốc, tế ngu, mở cửa mả, tốt khốc. quy định về tang phục và tang chế cũng được quy định rõ ràng, tuỳ theo người thọ tang liên quan với người quá cố. Sau càc lễ tang ma là các lễ giỗ cũng rất quan trọng ( 49 ngày, 100 ngày, 1 năm, 3 năm và hằng năm).
II. Thờ kính tổ tiên ngày nay.
15. Một vài số liệu:
Qua khảo sát hai đô thị lớn tại Hà Nội, Sài Gòn, và ba tỉnh vùng nông thôn Hà Tây, Hoà Bình và Cần Thơ, phiếu điều tra cho thấy một thực trạng thờ kính tổ tiên ngày nay:
100% gia đình có bàn thờ tổ tiên.
96, 75 % bàn thờ gia tiên được đặt nơi trang nghiêm nhất trong nhà.
95,85% những cặp vợ chồng nhớ ngày người thân mất để giỗ và cầu nguyện.
chăm nom mồ mả: Tại các vùng nông thôn là 100%, tại Hà Nội là 85%, Sài Gòn là 89%.
Hình thức cử hành ngày giỗ trong những năm chiến tranh thì giản đơn, nhưng nay đang hồi phục:
61% tại Sài Gòn, mời thầy tới gia đình cầu kinh tang lễ. 48 % tại Hà Nội, 4% tại Hà Tây, 3,13 tại Cần Thơ.
28,4% tại Sài Gòn gửi cốt tại Chùa, 28% tại Hà Nội, Hà tây 3%, Cần Thơ 1,56%.
Việc tu sửa những ngôi mộ tổ, quy tụ con cháu trong những ngày giỗ của tổ tiên để cầu nguyện: Hà Tây 91%, Hoà Bình 88,5%, Cần Thơ 86%, Hà Nời 27%, SàiGòn 18,4%. Tại các thành phố xem ra việc quy tụ trở nên khó hơn vì con cháu bận công việc làm.
Gia phả 13,5% tại Sàigòn, 15% tại Hà Nội, các gia đình có gia phả. Tiếp tục ghi chép gia phả thì khó khăn hơn 8% tại Hà Nội, 8,2% tại SàiGòn.
Tại làng Triều Khúc, Huyện Thanh Trì, ngoại thành Hà Nội: 84,4% người tin có linh hồn, 35,5% tin có ma, 95,5% gia đình quan tâm đến mồ mả, chọn giờ tốt xâu 88,8%, xem chân gà 60%, xem tướng số 22,2%, hầu đồng 2,2%.
8,9% gia đình có bàn thờ mẫu, 16% có cây hương thờ thổ thần, 31,1% có bàn thờ Phật, 40,2% có bàn thờ cố tổ, 92% gia đình có bàn thờ tổ tiên, 8% còn lại là những gia đình trẻ ngành thứ. Trên 60% gia đình có bàn thờ tổ tiên 4 đời, 33% gia đình thờ 5 đời.
47% gia đình thắp hương bàn thờ tổ tiên mỗi ngày. 53% gia đình thắp hương bàn thờ tổ tiên vào dịp tết, giỗ, sóc, vọng.
Việc thờ kính tổ tiên bắt nguồn từ việc uống nước nhớ nguồn 100% đồng ý.
Việc xây cất nhà thờ họ và tôn tạo mồ mả tổ tiên 96% cho là cần, 4% cho là không cần.
Các số liệu trên dựa vào khảo sát năm 1995, trong cuốn “thực trang văn hoá gia đình Việt Nam”, NXB Lao Động.
Vài số liệu tại Sài Gòn, đối với người Công giáo, Khảo sát năm 2002:
98% tại Sài Gòn, mời linh mục tới hoặc mang tới Nhà Thờ cầu nguyện cử hành lễ an táng cho người quá cố. Đặc biệt, theo lối sống cầu nguyện của người công giáo cử hành trang trọng các lễ an táng, cầu nguyện cho người quá cố, làm cho nhiều người lương dân thích được cử hành tang lễ theo người công giáo. Đó cũng là điểm son của người công giáo, ngay từ buổi đầu truyền giáo vào Việt Nam đến nay.
90,6% các gia đình Công giáo nhớ ngày giỗ và xin lễ cho tổ tiên.
88,5% gia đình công giáo chăm sóc mộ phần, một số còn lại do điều kiện con cháu lưu lạc nhiều phương xa và quên mất những mộ phần của tổ tiên.
Chọn giờ tốt xấu để cử hành lễ an táng hoặc hạ huyệt:
Gia đình công giáo toàn tòng: 1,3%.
Gia Đình Công Giáo, có thành viên lương dân: 23,4%.
Gia phả của các gia đình công giáo còn lại 57,3%, tiếp tục ghi chép 23,2%.
Nhận xét
16. Truyền thống uống nước của người dân Việt trải qua nhiều thời kỳ và thay đổi nhiều về mặt kinh tế vẫn không phôi pha trong lòng dân tộc. Đang khi có chiều hướng tốt khi phục hồi nền nếp gia phong Hiếu đạo trên một diện rộng, nhất là từ sau những ngày mọi sinh hoạt và kinh tế khó khăn đã qua. Đây là dấu hiệu tốt của nền văn hoá Việt đang khi mở cửa đón tiếp khách nước ngoài vào Việt nam du lịch. Ở nhiều nơi đang hồi phục các lễ hội truyền thống của làng. Gia trị truyền thống lâu nay bị bỏ quên đã có dịp tốt được phục hồi, những người xưa vẫn còn đó chưa qua đi hết là nguồn nhân lực đáng kể để gợi nhớ cho con cháu những truyền thống quá vãng. Có nhiều cách thức giới trẻ ngày nay vẫn đang tìm về những nguồn nhân chứng để nghe và hiểu hơn từng sắc thái của dân tộc. Có nhiều đề tài nghiên cứu cách tốt hơn để bảo tồn và phát triển truyền thống trong văn hoá đương thời. Có nhiều nỗ lực từ nhiều phía khác nhau, từ các gia đình cho đến những cộng đồng lớn như giáo xứ, giáo phận và sự quan tâm của Hàng Giám Mục Việt Nam là những đóng góp tốt đẹp trong nền văn hoá bản địa.
17. Đang khi có nhiều di tích không còn hiện hữu nữa và những người xưa cũng đang ít dần đi, sự hồi phục các giá trị văn hoá này là một cấp bách trước nhiều vấn đề mới mở ra đối với thế giới. Việt nam đón nhận nhiều nền văn hoá khác nhau, nếu không duy trì và phát triển văn hoá cách sâu rộng hơn thì có thể rằng con cháu mai sau là người mất gốc.
18. Các vùng nông thôn ngày nay, các tổ chức xã hội kiểu xưa theo văn hoá làng xã cũng không còn nữa, những phương tiện sản xuất ngày càng cần ít nhân công hơn, số lao động vùng nông thôn thừa ra hàng năm, nếu tính cả nước trên 1 triệu, với những số gia tăng hằng năm 90% là vào các thành phố lớn để tìm việc làm và 90% là độ tuổi thanh niên, như vậy một vấn đề khó khăn cũng mở ra đối với những người ưu tư về văn hoá. Các vùng nông thôn cũng có nhiều vấn đề khác đang phá vỡ mô hình văn hoá làng xã như: mua bán vợ cho người nước ngoài, mại dâm, rượu, ma tuý… Mô hình kinh tế nông thôn công nghiệp làm thặng dư lao động và rơi vào tình trạng nhàn rỗi, từ đó nhiều vấn đề về văn hoá không còn giá trị.
19. Văn hoá có thể chịu ảnh hưởng của kinh tế về hai mặt: Mặt thứ nhất là văn hoá sẽ chịu sự biến đổi và biến mât nếu những giá trị truyền thống chỉ là để giới thiệu, phát triển cho ngành du lịch mà không có ý nghĩa trong cuộc sống. Mặt thứ hai giá trị kinh tế là một trợ giúp cho việc bảo tồn và phát triển nền văn hoá. Một thực trạng trong vấn đề hiện nay, khôi phục các giá trị văn hoá cổ xưa, thường về hướng thứ nhất thì dễ thực hiện hơn bởi vì dễ tập và đào luyện cho những đội đoàn trở thành chuyên nghiệp, nhưng văn hoá như vậy thôi là nền văn hoá đem ra biểu diễn chứ không là nền văn hoá chắt lọc từ cuộc sống. Hướng thứ hai khó giải quyết hơn, bởi vì cần nhiều nỗ lực từ mỗi cá nhân, mỗi cộng đồng sống những giá trị văn hoá truyền thống một cách sâu đậm, mà vẫn không lạc hậu với văn hoá chung nhân loại. Trước những áp lực về kinh tế, những giá trị truyền thống xem ra dễ chỉ còn hình thức mà thiếu nội dung, văn hoá còn là cái phông sân khấu cho những loại nhạc Shock mà giới trẻ ngày nay ưa thích.
20. Có một sự lẫn lộn thật sự về từ ngữ hoặc cố tình lạm dụng khi dùng từ văn hoá để gán ghép vào trong những lối sống hoặc để kết án những ấn phẩm ngoài luồng kiểm soát, trong đó có cả những sách tốt dạy về đạo lý làm người cho ra người cũng bị xuyên tạc, người ta dùng từ ngữ: văn hoá đồi truỵ, văn hoá khiêu dâm, văn hoá hưởng thụ… Văn hoá không là tích tụ của những điều xấu mà đúng hơn chịu ảnh hưởng của lối sống văn minh hưởng thụ, kỹ thuật khiêu dâm, văn minh đồi truỵ. Sự lạm dụng từ ngữ làm biến dịch nhiều cách sống, cách suy nghĩ của người Việt hôm nay, ví dụ các thương trường lạm dụng từ ngữ : “khách hàng là thượng đế”, để chiêu dụ khách hàng và cuối cùng để móc túi của thượng đế. Từ “tươi mát” không dám dùng nữa để chỉ ngay cả khi dùng sự “tươi mát” cho tâm hồn, bởi các báo chí đã dùng để chỉ những điều xấu và xem ra cách hiểu phổ biến là như thế. Có những từ ngữ nghe ra thật kêu nhưng lại hoàn toàn bị trống rỗng nội dung theo những khuôn sáo mòn: một không, ba không, ba có, bốn diệt, năm làm… Thật là một hỗn loạn, thiếu trách nhiệm trong khi sử dụng ngôn từ.
21. Có quá nhiều sự suy thoái làm mất niềm tin nơi quần chúng, có quá nhiều bóng tối lẩn khuất trong ánh sáng, để những lựa chọn cá nhân luôn rơi vào bế tắc hoặc sai lầm hoặc chấp nhận sai lầm. Một gia đình, người vợ không còn đủ niềm tin vào sự chung thuỷ của người chồng nữa, vì những cám dỗ dục vọng của những bóng tối bên ngoài quá nhiều, quá dễ để sa chân vào những bóng tối. Nền văn minh du lịch chịu sự suy thoái của những loại “sex tours”, lối sống văn hoá bị bào mòn bởi những “mãi dâm”. Ý thức quần chúng chịu nhiều ảnh hưởng của những lối sống chạy theo đam mê dục vọng. Tài chánh chi phối và làm tiêu tan nhiều giá trị văn hoá từ trong phôi thai của gia đình, con cái kiện cha mẹ để hưởng phần hồi môn, cha mẹ bỏ rơi con cái vì những đam mê của cá nhân… Những cộng đoàn cũng đang rơi vào tình trạng bị tài chánh chi phối, những cuộc quyên góp xem ra quá nhiều, những hình thức mỵ dân xem ra cũng quá nhiễu.
Như vậy cần có một cứu cánh, cần có một giá trị của nền văn hoá vừa bảo đảm cho sự phát triển nền văn hoá trần thế của từng dân tộc mà vừa phát triển cách bền vững cho tương lai dài, ở đây tôi xin gọi mạo muội ấy là nền “văn hoá ra khỏi mồ” bắt đầu từ Đức Giêsu lịch sử, một con ngừơi - Chúa - đã chết và đã sống lại - ra khỏi mồ.
II Nền văn hoá “Ra khỏi mồ”.
22. Một nền văn hoá mới được bắt đầu từ một việc phi thường và xa lạ với tất cả kinh nghiệm của mọi người. Một con người sống trong trần thế, một con người lịch sử, thuộc dân tộc Do Thái, một con người thuộc gia đình Nazareth, con của Maria và cha nuôi Giuse. Cuộc sinh hạ khác thường và vượt qua sự chết khác thường, con người ấy là Thiên Chúa - người. Một Thiên Chúa làm người cho nên vừa thụ hưởng nền văn hoá trần thế vừa khai sinh một nền văn hoá mới trong trần thế.
Có thể hỏi con người lịch sử ấy đã hấp thụ nền văn hoá nào của con người? đã gieo mầm một nền văn hoá mới ra sao?
Có lẽ cần bắt đầu từ sự kiện mà các Tông đồ rao giảng đầu tiên về con người Giêsu - Chúa, người họ đã theo chân, và họ làm chứng về Người đã sống, đã chết, và cuối cùng là đã sống lại - ra khỏi mồ. Các Tông đồ đã lấy mạng sống của mình để bảo đảm cho lời loan báo ấy, và không những thế, những người đón nhận lời loan báo ấy với kinh nghiệm gặp gỡ của mình, quy tụ lập thành từng cộng đoàn với sự dẫn dắt của các Tông Đồ, cũng dám minh chứng như vậy bằng giá máu của mình. Không thể không tự hỏi, con người - Chúa ấy là ai?
Con người - Chúa ấy có nguồn gốc:
23. Đức Giêsu thành Nazareth, là một người Do Thái, nói tiếng Do Thái, thời đức Giêsu người ta nói tiếng Aramê, sống theo những tập tục của người Do Thái, từ việc cầu nguyện cho đến những tập quán chung hằng ngày. Sinh ra trong một vùng đất Tiểu Á nhỏ bé, chịu chung một số phận với dân tộc của mình, một quê hương nhiều lần bị phân tán do các Đế quốc thống trị, một dân tộc nhiều phen chịu cảnh lưu đày, chịu nhiều áp bức, bất công của những người cai trị. Một Đức Giêsu cũng từng nhiều lần cùng khao khát với dân tộc của mình về viễn cảnh của ngày giải thoát, chờ đợi một Đấng Messia, tìm cho thấy một con người đến giải thoát qua các phong trào đạo đức của dân tộc. Một con người sống gắn bó với văn hoá dân tộc của mình, cùng chia sẻ những ưu tư lo âu, từng tham dự những ngày lễ hội như tiệc cưới tại Cana, cùng chia sẻ nỗi mất mát với những người lân cận, những tang chế của người anh em, như lần khóc thương Lazarô đã chết. Một con người rất người bước đi trong đời thường để rao truyền một đạo lý mới, một văn hoá mới, mà chỉ khi ra khỏi mồ mới bắt đầu thực sự thành hình.
24. Nền văn hoá “Ra khỏi mồ” được bắt đầu với sứ điệp:
“Đức Giê-su đến Na-da-rét, là nơi Người sinh trưởng. Người vào hội đường như Người vẫn quen làm trong ngày sa-bát, và đứng lên đọc Sách Thánh. Họ trao cho Người cuốn sách ngôn sứ I-sai-a. Người mở ra, gặp đoạn chép rằng:
Thần Khí Chúa ngự trên tôi, vì Chúa đã xức dầu tấn phong tôi,
để tôi loan báo Tin Mừng cho kẻ nghèo hèn.
Người đã sai tôi đi công bố cho kẻ bị giam cầm biết họ được tha,
cho người mù biết họ được sáng mắt,
trả lại tự do cho người bị áp bức,
công bố một năm hồng ân của Chúa.
Đức Giê-su cuộn sách lại, trả cho người giúp việc hội đường, rồi ngồi xuống. Ai nấy trong hội đường đều chăm chú nhìn Người.21 Người bắt đầu nói với họ: "Hôm nay đã ứng nghiệm lời Kinh Thánh quý vị vừa nghe."22 Mọi người đều tán thành và thán phục những lời hay ý đẹp thốt ra từ miệng Người.”
Sứ điệp ấy được công bố sau khi Đức Giêsu chịu phép rửa của Gioan - vào hoang mạc bốn mươi đêm ngày - về Galilêa - tại Nazareth quê hương của Người.
Chọn quê hương để công bố sứ điệp khởi đầu, đó là cách thức hình thành một nền văn hoá mới, dựa trên nền tảng truyền thống của cha ông, phong tục và tập quán của một quê hương nhất định. Không có một nền văn hoá nào mà không có miền đất cụ thể, những con người cụ thể, bởi vì văn hoá do con người sống trong một môi trường nhất định tạo nên.
Nền văn hoá “ra khỏi mồ” được minh định cụ thể:
25. Loan báo Tin Mừng cho kẻ nghèo hèn:
Kẻ nghèo ấy là ai? sự nghèo khó nhất của con người là sự chết. Đó là cái vốn chung cho mọi người. nếu con người bắt đầu nền văn hoá từ việc chôn kẻ chết thì Đức Giêsu mở ra một văn hoá mới “ra khỏi mồ”. Ra khỏi mồ là chỗi dậy từ cõi chết, trả lại cho ngôi mộ trống, giải thoát khỏi sự chết, đạt tới sự sống dồi dào viên mãn. Ngôi mộ vẫn còn đó nhưng người trong mộ đã bước ra và đang sống, không còn bị gì giam hãm nữa. Vào thời của Đức Giêsu, những người bảo vệ truyền thống luôn có khuynh hướng chống lại cái mới, ngưới ta vẫn thích giữ ngôi mộ để chôn người chết và bằng lòng như vậy. Nếu Đức Giêsu, Người không là Đấng Messia, như toàn dân mong đợi thì Người là một tay gạt gẫm, một người xúi bậy làm loạn, người ta nghi ngờ về sứ điệp của Người, cho nên đi tới sự đoạn tuyệt cuối cùng là cho Người đi vào văn hoá sự chết như con người vẫn làm cho nhau phải chết, dưới nhiều hình thức, dưới nhiều bất công, dưới nhiều thứ công lý cần được bảo vệ. Nhân danh con người để chà đạp mạng sống con người, nhân danh nền văn hoá để tiêu diệt văn hoá. Người nào tự xưng mình là Con Thiên Chúa thì phải chết, bởi vì đó là tội phạm đến Thiên Chúa. Thế mà, Đức Giêsu trong một đêm trước công nghị Hội Đường Do Thái, Người lại tự xưng mình là Con Thiên Chúa, điều này đủ điều kiện để lên án cho Người phải chết. Theo luật hiện hành, chung thẩm này cần được sự xác nhân và thi hành án của vị khâm sai La Mã. Vị Khâm Sai gửi Đức Giêsu sang cho Hêrôđê xét xử và Hêrôđê trả lại vụ xử này cho Philatô. “Ngày hôm ấy, vua Hê-rô-đê và tổng trấn Phi-la-tô bắt đầu thân thiện với nhau, chứ trước kia hai bên vẫn hiềm thù”. Tội ác theo kinh nghiệm của dân gian không đứng một mình, nó luôn là một sự cấu kết, một liên minh rất mạnh, để chống lại con người vô tội. Thời đại của chúng ta, vẫn có như vậy, vì những quyền đặc lợi của một số người, họ chấp nhận hy sinh những con người vô tội hay đẩy người vô tội vào chỗ có tội để giết. Kẻ nghèo ấy là những con người không võ trang, không có quyền bảo vệ cho chính mình, không có quyền để thay đổi hay vươn lên một lối sống, không có quyền ăn nói đòi phẩm giá cho mình, không có quyền dù chỉ là muốn được sống. Sự kiện hôm ấy Đức Giêsu bị điệu lên Philatô (Pontius Pilatus, 26 - 36), đang nắm giữ quyền hành. Ông là người bị nhân dân thù ghét, vì đã tấn công vào cộng đoàn thờ tự Giêrusalem. Ghét là thế, nhưng khi cần để loại trừ một con người vô tội, họ vẫn nhờ đến thế lực ấy để giết chết một con người. Cái thảm trạng của nên văn hoá của việc chôn người chết là ở đó, đã từng có trong lịch sử những sự chém giết lẫn nhau để giành sự sống, đã từng có trong lịch sử nhân danh nền văn hoá của mình, tự cho là một nền văn hoá cao để giết chết những nền văn hoá mà họ cho là nhược tiểu. Đã từng có trong những con người thời nay, sống trong văn hoá hiếu đạo mà giết chết chính đứa con mình khi còn là thai nhi. Cần phải có một nền văn hoá mới một nền văn hoá ra khỏi mồ để cho mọi người được có quyền sống và sống cách dồi dào. Nền văn hoá rất mới vượt mọi kinh nghiệm nhưng thật gần gũi bởi vì văn hoá ấy bắt đầu từ cuộc sống hiện tại với những đường hướng cụ thể.
26. Loan báo cho kẻ giam cầm họ được tha:
Điều gì giam cầm con người cách dai dẳng và nặng nề nhất? Đó là tội lỗi và những hậu quả của nó. Tội lỗi đã làm biến dạng những nền văn hoá, dùng văn minh sự chết để giam hãm những nền văn hoá. Thời Chúa Giêsu, có rất nhiều sự giam cầm, sự giam cầm của một chế độ hà khắc là Đế quốc Roma, sự giam cầm của những con người chịu sống dưới ách của lề luật mà các kinh sư, Luật sĩ mang cho. Quyền của dân tộc thì vào tay thống trị của Đế quốc, Quyền của người dân thì ở trong tay những kỳ lão, kinh sư và luật sỹ. Con người sống với nhau thì bị giam hãm bởi những xung khắc. Những xung khắc vì nguồn gốc của dân tộc, người Samari và người Do Thái; những xung khắc vì không cùng quan điểm với nhau, nhóm sađôc và nhóm kinh sư; những xung khắc vì ghen tỵ, hận thù, báo oán, … Có quá nhiều vòng vây của nhà tù giam hãm. Có quá nhiều đam mê để rồi tự giam hãm và thiêu đốt chính mình. Con người xô nhau, giam hảm nhau, Jean Paul Sartre thì nói : “tha nhân là hoả ngục”. Con người tự giam hãm mình và giết chết mình. Con người giam hãm nhau trong những tham vọng của mình rồi lại chính mình tự giam hãm mình trong những tham vọng.
Sự giam hãm có thể là một cơ chế chặt chẽ, có kế hoạch và chương trình hành động cụ thể của nó. Ví dụ như những cơ chế kinh tế, tài chánh và xã hội, mặc dầu do ý muốn của con người điều khiển nhưng thường hoạt động một cách gần như máy móc, làm nổi rõ tình trạng giàu có của một số người và tình trạng nghèo khổ của những người khác. Các cơ chế bị các nước mở mang thao túng và đẩy những nước kém mở mang vào chỗ ngày càng đói hơn. Sự giam hãm con người trong khía cạnh này bị bóp chẹt bởi nền tài chính thống trị.
Sự cởi trói của những cơ chế chính trị cũng là một sự cần thiết cho những người dân được tự do.
Sự sống là liên đới, nên trong tội lỗi, tội của người này cũng liên đới tới người khác. Tội lỗi thường là câu kết, thường là liên đới. Tội của một người làm lớn càng ảnh hưởng lớn.
Kinh nghiệm rất cổ xưa của Phật giáo tại Ấn Độ, đó là vòng luân hồi, luân hồi là vòng vây giam hãm con người do những hành động của con người mà phải chịu hậu quả. Upanisshads giảng giải, dục vọng khống chế tái sinh. Các hành động xuất phát từ dục vọng tạo ra các hậu quả xấu trong tương lai. Ấn Độ chủ trương ổn định trong giai cấp, giới tính của mình, chấp nhận giai cấp và các giai đoạn cuộc đời của mình. Đó là ngưỡng cửa để định hình những lựa chọn của cá nhân. Như vậy là chấp nhận ngôi nhà tù của giai cấp của cá nhân để hành động.
Thời Đức Giêsu, tại Do Thái, người ta quan niệm theo triết thuyết của Platon: “thân xác là tù giam của tâm hồn”. Con người là linh thiêng nhưng bị giam hãm trong bị thịt tù đày của thân xác.
Con đường giải thoát theo những ý niệm đó là tiêu diệt dục vọng, diệt thân.
Thật là cần thiết để Đức Giêsu công bố một sứ điệp “người bị giam cầm họ sẽ được tha”. Sứ điệp này mời gọi mọi người hãy cởi trói cho nhau, hãy tự cởi trói cho mình khỏi những điều xấu, những điều gian ác. Hãy trao tim nhưng đừng nắm giữ tim nhau, liên đới với nhau trong tình thương và ân sủng nhưng đừng liên đới với nhau để làm nên tội.
Sứ địêp của Đức Giêsu vẫn theo truyền thống là diệt dục, diệt thân nhưng hoàn toàn khác lạ. Khác lạ, bởi vì người ta không hiểu nổi một Con Thiên Chúa lại tình nguyện chui vào cái bị thịt giam hãm của thân xác này, chấp nhận những thực tại của nhân thế này, để rửa tội cho nó. Chấp nhận con đường Kenosis để tái sinh một nhân loại mới, làm cho nó hồi sinh theo lối đường mới, xây dựng một nền văn hoá mới bước vào giai đoạn Plerosis. Đó là con đường giải thoát thực sự, đó là cách thức ra khỏi mồ thật sự của văn hoá, để con người sống với nhau và mọi người đều có quyền sống như nhau. Đức Giêsu công bố sứ điệp giải thoát chính yếu ấy cho con người và gọi đó là con đường của Tin Mừng, con đường của nền văn hoá ra khỏi mồ, giải thoát khỏi sự chết.
27. Cho người mù được sáng mắt.
Có quá nhiều bóng tối, ngay cả khi sáng mắt cũng bị mù tối. Nhưng chủ yếu đó là những cám dỗ mà Đức Giêsu đã phải vượt qua trong thời kỳ Kenosis và trong trạng thái Limen (liminal state) khi vào trong hoang địa. Đó là:
Cám dỗ về bánh ăn: Một cám dỗ rất tự nhiên, con người sống cần có bánh ăn. Cám dỗ trở thành mù tối khi có người muốn chiếm hữu thật nhiều của ăn để người khác phải chết đói. Một nhân loại tiến bộ văn minh không ngừng, nhưng lại cũng là một xã hội có nhiều văn minh đưa người khác vào chỗ chết đói nhất. Bị cướp mất của ăn, con người bị đẩy vào những chỗ bán thân tồi tệ nhất để được sống. Bị cướp mất của ăn nên nhiều người chẳng còn đủ sức nữa để theo đuổi những giá trị luân lý, đạo thường. Người chiếm hữu của ăn thật nhiều thì mù mắt trước những người anh em khốn khổ, họ đi đến chỗ tước đoạt sự sống của người khác, cho dù đó là sự sống của thai nhi. Một đứa con ra đời không còn là một ân huệ nữa mà trở thành một gánh nặng phải chia sẻ để nuôi nấng. Ra khỏi mồ ở điểm này là cho con người được sáng mắt, nhìn thấy người chung quanh và nhận ra đó là ngưới anh em cũng cần được ăn, được sống. Có một thứ bánh khác quan trọng hơn, đó là bánh chân lý, bánh làm cho sống dồi dào và viên mãn. Bánh được cho không, Bánh của Lời Hằng Sống, Bánh Của Tin Mừng Phục Sinh, Hãy cầm lấy mà ăn, để được sống nền văn hoá mới “ra khỏi mồ”.
Cám dỗ về địa vị:
Từ khi con người biết tổ chức thành một cộng đồng có tổ chức là cũng từ khi con người biết tranh giành những địa vị của ngôi thứ.
Ấn Độ thì quy định giai cấp, an dân bằng cách khuyên các thứ bậc của giai cấp nỗ lực lãnh nhận trong giai cấp của mình, đừng đấu tránh, trời sinh ra thế phải chịu thế. Bộ luật Manu liệt kê rất chi tiết tất cả mọi bổn phận dành cho bốn giai cấp truyền thống. Bổn phận sống theo giai cấp (Varna) thông thường cũng bao gồm luôn bổn phận sống tuân theo các quy định và bổn phận được ấn định trong đẳng cấp (Jati). sống đạo đức có nghĩa là luôn luôn chấp hành các quy định liên quan đến giai cấp của mình, tránh không làm ô uế, danh tánh của những giai cấp khác trong xử thế hằng ngày.
Các thứ bậc phân biệt để mà Lễ cho phải lẽ, Khổng Tử dùng Lễ để dạy tôn ti trật tự, tức là phép tắc để tổ chức luân lý ở trong gia đình - xã hội và quốc gia. Địa vị của các bậc là có, nhưng để tranh giành ngôi thứ được cung kính là trở thành bậy. Bởi đó, trong đạo quân tử có phân biệt hai hạng người, một là quân tử hai là bậc tiểu nhân. Bậc quân tử nếu sống lấy phẩm đức mà trau giồi thì có ở bậc hèn trong xã hội vẫn là người quân tử. Bậc tiểu nhân nghĩa là những người đeo đuổi những điều xấu, dù có ở địa vị cao cũng là tiểu nhân. Cho nên việc học đạo của Khổng Tử là làm cho con người trở thành nhân hơn. Sự kiện vẫn là sự lệch lạc của những con người trọng địa vị hơn bất cứ điều nào. Bằng mọi cách để đạt được địa vị ấy, mờ tối trong tâm trí để mưu lược dành lấy địa vị, bất kể nhân phẩm, bất kể người anh em. Người tiểu nhân ở địa vị thấp muốn chiếm địa vị cao thì xiểm nịnh, cúi đầu vâng dạ, lấy lòng người trên. Người trên tiểu nhân thì ưa thích những lời ca ngợi, nịnh hót. loạn chiến quốc xảy ra từ ấy.
Đức Giêsu nói trong hoàn cảnh này: “Các ông tôn vinh lẫn nhau và không tìm kiếm vinh quang phát xuất từ Thiên Chúa duy nhất, thì làm sao các ông có thể tin được?”.
Địa vị có thể làm mù mắt nhiều hình thức, đó là tham vọng, để xô nhau, đẩy nhau, chà đạp nhau, đi tìm vinh quang hư nát.
Đức Giêsu đã lên tiếng nhắc nhở cho ma quỷ biết thân phận của mình trong trường hợp cám dỗ này: “Sau đó, quỷ đem Đức Giê-su lên cao, và trong giây lát, chỉ cho Người thấy tất cả các nước thiên hạ.6 Rồi nó nói với Người: "Tôi sẽ cho ông toàn quyền cai trị cùng với vinh hoa lợi lộc của các nước này, vì quyền hành ấy đã được trao cho tôi, và tôi muốn cho ai tuỳ ý.7 Vậy nếu ông bái lạy tôi, thì tất cả sẽ thuộc về ông."8 Đức Giê-su đáp lại: "Đã có lời chép rằng: Ngươi phải bái lạy Đức Chúa là Thiên Chúa của ngươi, và phải thờ phượng một mình Người mà thôi.".
Trả lại phẩm giá của mỗi con người cần được tôn trọng, là cách thức con người dùng đứng ở địa vị của mình mà cư xử với nhau cho hợp lẽ đạo trời.
Cám dỗ về quyền bính:
Địa vị đi chung với quyền hành, một thứ quyền hành theo sự xúi dục của quỷ ma là muốn làm gì thì làm: "Hắn cứu được thiên hạ, mà chẳng cứu nổi mình. Hắn là Vua Ít-ra-en! Hắn cứ xuống khỏi thập giá ngay bây giờ đi, chúng ta tin hắn liền!43 Hắn cậy vào Thiên Chúa, thì bây giờ Người cứu hắn đi, nếu quả thật Người thương hắn!”
Quyền bính theo cách suy nghĩ của con người là dùng nó để tự cứu mình còn ai chết mặc ai. Quyền bính phải phục vụ quyền lợi cá nhân trước những công ích. Sự thao túng quyền bính là mồ chôn của nhân loại, người ta dùng cả những bạo lực để trấn áp, đẩy con người vào chỗ tiêu vong.
Đức Giêsu dạy những người thực thi quyền bính là thi hành phục vụ trong yêu thương, yêu thương đến thí cả mạng sống vì người mình phục vụ. Văn hoá ra khỏi mồ chôn của nhân loại là giới răn yêu thương đó.
Sự mù tối của tâm hồn là điều đáng sợ hơn cả, sự tối tăm về linh hồn bất diệt để chỉ sống đời này mà mất ý thức về tương lai tối hậu.
28. Công bố năm hồng ân của Chúa.
Thời điểm và là khao khát của mọi đích điểm của các tôn giáo Đông phương là ngày giải thoát, ngày vượt qua lênh đênh để về một bến hạnh phúc. Vòng luân hồi thì quá dài có thể làm ngao ngán cho tương lai định mệnh, sống ăn ngay ở lành mãi thì luôn bị thiệt thòi từ nhiều phía trong hiện tại. Con người cần có một bảo đảm chắc chắn cho những nỗ lực vượt qua, bảo đảm sự chắc chắn của sự thiện mà họ cả đời đeo đuổi. Thiếu những đảm bảo này, nhân loại vẫn mãi không ngừng lênh đênh và buông thả theo dòng nước cuốn trôi.
Sứ điệp năm hồng ân của Thiên Chúa vì thế trở nên rất cần thiết cho một nhân loại lênh đênh. Sứ điệp của mọi niềm hy vọng chắc chắn sẽ đạt được ở thời chung cuộc. Chính Đức kitô đã sống lại, ra khỏi mồ để bảo đảm cho niềm hy vọng nhân loại sẽ phục sinh sau cái chết tại cuộc đời này, nếu chỉ hy vọng nơi Đức Giêsu tại trần thế này thôi, niềm tin của người Kitô hữu sẽ chết theo sự chết tự nhiên, niềm tin trở nên vô ích. Tuy nhiên, Đức Giêsu đã sống lại, Tin Mừng giải thoát được công bố, đó là thời điểm hồng ân. Thời điểm đích cuộc cho mọi niềm hy vọng nhân loại.
Có qúa nhiều cạm bẫy để chỉ dừng lại cuộc sống nơi tại thế này, những cạm bẫy của tục hoá, “nằm trọn trong một nhãn quan độc lập về con người và về thế giới, nhãn quan làm mờ nhạt chiều kích mầu nhiệm, có khi quên bẵng hay phủ nhận. Chủ nghĩa nội tại là một sự thu hẹp nhân sinh quan trọn vẹn”. Thu hẹp những giá trị nhân sinh quan trong thế giới này dẫn đến việc lo âu sự chết sẽ đến với từng người, lo âu về phía tương lai cái chết đời đời. Những bất hạnh vẫn không ngừng ray rứt con người trong những mỏng dòn yếu đuối của thân xác. Niềm hy vọng mờ nhạt, bến bờ vẫn lênh đênh, người lữ hành mất niềm tin hy vọng.
Đó là những cạm bẫy mà mọi người thời nay phần nào chịu ảnh hưởng của chủ nghĩa tục hoá. Năm công bố hồng ân của Thiên Chúa, là năm công bố sứ điệp giải thoát thật sự, chính Đức Giêsu, chúng tôi đã sống với Người, đã chịu chết, và đã sống lại. Đó là Kerigma đầu tiên các môn đệ theo Chúa đã sống và chết để xác quyết niềm tin sắt đá đó. “Đức tin bảo đảm cho những điều hy vọng, là bằng chứng cho những điều chúng ta không thấy”.
Niềm tin vào Đức Giêsu Phục sinh mà Thánh Phaolô trình bày với cộng đoàn Corintho là: “Trước hết, tôi đã truyền lại cho anh em điều mà chính tôi lãnh nhận, đó là: Đức Kitô đã chết vì tội lỗi chúng ta, đúng như lời Kinh Thánh, rồi Người được mai táng, và ngày thứ ba chỗi dậy, đúng như lới Kinh Thánh”
Đức kitô không những chỉ sống lại là bảo chứng cho sự sống lại của mọi người trong tương lai tối hậu, Người còn là sự sống lại và là sự sống. Người chính là niềm hy vọng cho mọi niềm hy vọng.
Ra khỏi mồ của Đức Giêsu mở lối cho những thực tại của các nền văn hoá, không chỉ dừng lại ở trong thế giới này, nhưng còn vươn tới trong một tương lai dài của mai hậu, những nỗ lực kiến tạo trong chân thiện mỹ sẽ còn mãi và là những viên gạch dựng xây vào trong sự Bền Vững mai sau, viên đá góc tường đã được đặt là Đức Kitô. Người đã chiến thắng sự dữ cuối cùng của nó là sự chết. Không có một thay đổi nào được nữa. Điều ấy đã trở nên chắc chắn, Vì Người đã ra khỏi mồ.
29. Làm sao để chân lý sự sống này thành hiện thực. Những con số thống kê cho thấy, người Kitô giáo chỉ chiếm con số 8%, những người sống sát thực với niềm tin lại càng nhỏ hơn. Đức kitô cần nhiều chứng từ hơn nơi những người Kitô hữu, Đức kitô cần nhiều hơn nơi những con người Kitô hữu ấy sống những giá trị văn hoá tại quê hương mình và làm chứng cho Đức Kitô trong môi trường văn hoá ấy. Chắc chắn là cần nhiều nỗ lực, sự đóng góp từ nhiều phía, những người chuyên môn, những người nhiệt thành hiểu biết, những Kitô hữu biết tôn trọng các giá trị văn hoá sẵn có. Văn hoá ấy giống như nghĩa cử của Ông GiôXếp: “Sau đó, ông Giô-xếp, người A-ri-ma-thê, xin ông Phi-la-tô cho phép hạ thi hài Đức Giê-su xuống. Ông Giô-xếp này là một môn đệ theo Đức Giê-su, nhưng cách kín đáo, vì sợ người Do-thái. Ông Phi-la-tô chấp thuận. Vậy, ông Giô-xếp đến hạ thi hài Người xuống.39 Ông Ni-cô-đê-mô cũng đến. Ông này trước kia đã tới gặp Đức Giê-su ban đêm. Ông mang theo chừng một trăm cân mộc dược trộn với trầm hương.40 Các ông lãnh thi hài Đức Giê-su, lấy băng vải tẩm thuốc thơm mà quấn, theo tục lệ chôn cất của người Do-thái.41 Nơi Đức Giê-su bị đóng đinh có một thửa vườn, và trong vườn, có một ngôi mộ còn mới, chưa chôn cất ai.42 Vì hôm ấy là ngày áp lễ của người Do-thái, mà ngôi mộ lại gần bên, nên các ông mai táng Đức Giê-su ở đó.”
Đức Giêsu cần có một địa chỉ rõ ràng đón tiếp Người cách quảng đại, để việc Người sống lại ra khỏi mồ, làm tươi sáng lại nguồn văn hoá các dân tộc. Phục Sinh khởi đi từ những gì có, để làm mới lại tất cả, trong Đức Giêsu Kitô.
30. Trong những nỗ lực riêng tại Giáo Xứ Tân Hoà, Mùa Chay này Giáo xứ cũng cố gắng triển khai phần nào sắc thái văn hoá dân tộc, để Đức Giêsu làm mới lại những gì cần Phục Sinh.
Lược Đồ Mùa Chay - Phục Sinh 2003.
Chủ Đề : “Đức Giê-su phải trỗi dậy từ cõi chết” (Ga 20, 9)
Thứ Tư Lễ Tro: Khởi điểm của văn hoá: Chôn người chết - Bụi tro linh thiêng.
Mt 6, 1-6, 16 - 18.
Chúa Nhật Thứ I Mùa Chay: Kenosis: Canh tân và sám hối - Nước Trời gần bên.
Mc 1, 12 - 15
Thứ Hai: Truyền thống chôn xác người chết - Mt 25, 31 - 46.
Thứ Ba: Văn hoá từ truyền thống - Mc 6, 7 - 15.
Thứ Tư: Truyền thống bỏ tro của người Do Thái - bỏ đất lên đầu trong ngày an táng. Lc 11, 29 - 32
Thứ Năm: Ý Nghĩa truyền thống bỏ tro - Ngậm vành cắn cỏ. - Mt 7, 7 - 12.
Thứ Sáu: Tro bụi ăn năn - Mt 5, 20 - 26.
Thứ Bảy: Loài tro bụi Chúa thương - Xác đất vật hèn Chúa đoái nhìn. Mt 5, 43 -48.
Chúa Nhật II Mùa Chay: Hiển Dung - Kenosis - Truyền thống Kenosis văn hoá Việt.
Thứ Hai: Vài nét Truyền thống Kenosis văn hoá Thái- Lc 6,36-38
Thứ Ba: Vài nét Truyền thống Kenosis Ấn Độ - Mt 23,1-12
Thứ Tư: Lễ thánh Giuse:Thinh lặng là một trạng thái Kenosis văn hóa Đông phương -Lc 2,41-51a
Thứ Năm: Kenosis trong văn hóa thờ kính tổ tiên - Lc 16,19-31
Thứ Sáu: Kenosis trong văn hóa lễ hội - Mt 21,33-43
Thứ Bảy: Kenosis trong các nghi thức tôn giáo - Lc 15,1-3.11-32
Chúa Nhật III mùa chay:Truyền thống văn hóa và đức tin - Ga 4,5-42
Thứ Hai: Văn hóa biểu lộ đức tin - Lc 4,24-30
Thứ Ba: Lễ truyền tin: Đức tin biểu lộ văn hóa - Lc 1,26-38
Thứ Tư: Từ đạo ông bà đến kinh nghiệm siêu nhiên - Mt 5,17-19
Thứ Năm: Từ đạo ông bà đến việc tổ chức xã hội - Lc 11,14-23
Thứ Sáu: Xã hội truyền thống-huyết thống - Mc 12,28b-34
Thứ Bảy: Xã hội truyền thống-làng xóm - Lc 18,9-14
Chúa Nhật IV mùa chay:Thiên Chúa luôn tha thứ - Văn hoá hiếu hoà của người việt - Ga 9,1-41
Thứ Hai: Hài hòa với thiên nhiên-Ga9,1-41
Thứ Ba: Hài hòa với tha nhân-Ga 5,17-30
Thứ Tư: lòng hiếu khách của dân việt-Ga 5,17-30
Thứ Năm:tình làng nghĩa xóm-Ga 5,31-47
Thứ Sáu: Vào sổ làng-Ga 7,55-30
Thứ Bảy: Tang chế theo người việt-Ga7,40-53
Chúa Nhật V mùa chay:gia đình người việt-Ga11,1-45
Thứ Hai:Tam Đại đồng đường - Ga 11,1-45
Thứ Ba: Bàn thờ gia tiên - Ga 8,21-30
Thứ Tư: Ngày Kỵ - giỗ - Ga 8,31-42
Thứ Năm: Gia phả-Ga 8,51-59
Thứ Sáu:Từ đường - Ga 10,31-42
Thứ Bảy: Đất hương hỏa - Ga 11,45-56.
Chúa Nhật Lễ Lá: Tử Nạn - Phục Sinh - Văn hoá chôn người chết - Văn hoá ra khỏi mồ. Mc 15, 1 - 39.
Thứ Hai: Văn hoá chôn người chết - Ga 12, 1-11.
Thứ Ba: Văn hoá ra khỏi mồ - Ga 13, 21 -33. 36-38.
Thứ Tư: Sứ điệp ngày cứu thoát - Giải thoát theo các tôn giáo truyền thống -Mt 26, 14 - 25.
Thứ Năm tuần thánh: Bí Tích Thánh Thể - Bữa ăn trong gia đình - Lc 4, 16 - 21.
Thứ Sáu Tuần Thánh: Cuộc thương khó - Những đau khổ và hy vọng của người công chính. Ga 18, 1 - 19, 42.
Thứ Bảy Tuần Thánh: Ngày thinh lặng - Kinh nghiệm Kenosis của từng cá nhân.
Chúa Nhật Phục Sinh: Tin Mừng Cứu Độ. Ra khỏi mồ - Địa chỉ của văn hoá.
Chúa Nhật II Phục Sinh: Cánh chung nhìn với khía cạnh văn hoá
Chúa Nhật III Phục Sinh: Ra Khỏi mồ - Đừng sợ - vững bước cùng với Đức Kitô.
Chúa Nhật IV Phục Sinh: Mục tử nhân lành - Quyền bính để thực hành yêu thương.
Chúa Nhật V Phục Sinh: Liên đới trong ân sủng - Văn hoá là kết quả của sự liên đới.
Chúa Nhật VI Phục Sinh: Thầy chọn anh em - Chính Nơi đây chúng ta được kêu gọi.
Chúa Nhật Thăng Thiên: Lên Trời - Cuộc trở về - niềm vui hạnh ngộ.
Văn hoá ra khỏi mồ cuối cùng là một nền văn hoá khai sáng từ nơi Đức Giêsu, Người đã sống lại, bước ra khỏi mồ. Đừng thương khóc ngôi mộ trống nữa, hãy vui mừng và hy vọng nơi Người, Người đang sống và đã sống lại từ cõi chết. Niềm tin ấy mở hướng đích điểm cho cánh chung của mọi nền văn hoá.
Tin Mừng của sự sống làm sao để rao giảng cách hữu hiệu nhất cho những người đương thời, đó là những băn khoăn trong khi hành trình về phía trước.
Tân Hoà, Thánh Mẫu Điện.
Mùa Chay 2003.
Những câu hỏi như vậy là trung tâm điểm của tôn giáo, vì đó là những nhu cầu hiểu biết về thực tại nhân sinh của mình, thực tại của xã hội đang sống, thực tại tối hậu của vòng đời người, lối đường nào dẫn dắt số phận của con người đi từ sống đến chết? hướng mở nào của con người khi kinh nghiệm về những cái chết tự nhiên của những con người? Hy vọng nào cho đằng sau sự chết? Kinh nghiệm nào của những con đường tội lỗi?
Bắt nguồn từ khi con người phải chết, con người đi tìm hiểu ý nghĩa thực sự của cuộc sống là gì, nên vào những thời điểm sơ khai con người bắt đầu giải thích bằng những huyền thoại vũ trụ, giải thích sự tồn vong của vũ trụ, tìm câu trả lời cho những vấn đề nhân sinh. Từ những nguồn câu trả lời đó của mỗi dân tộc hình thành nên một lối sống, định hình cho những nền văn hoá khác nhau, để đi theo hướng phải lựa chọn giữa sự thiện và sự ác, theo sự tự do của mình được ánh sáng văn hoá soi sáng.
Nếu sự dữ cuối cùng là sự chết, và Tội lỗi là mồ chôn nhân loại, ra khỏi mồ nghĩa là giải thoát ra khỏi vòng vây của tội lỗi. Nếu sự chết là chiến thắng cao điểm của tội lỗi thì việc ra khỏi mồ là việc đánh bại thần chết và tiêu diệt tội lỗi. Chúa đã ra khỏi mồ, đó là một sự kiện lớn lao nhất từ khi con người phải chết, đánh dấu một nền văn hoá mới, một nền văn hoá sự sống. Văn hoá của con người bắt nguồn từ việc chôn xác kẻ chết (kenosis), văn hoá của Kitô giáo bắt nguồn từ việc Chúa ra khỏi mồ (Plerosis). Đó là hai nền văn hoá mà trong bài này đề cập tới, tuy nhiên vì những giới hạn nhỏ hẹp của bản thân, phần trình bày chính cũng trở về với văn hoá Việt Nam.
I Văn hoá nhân loại (chôn người chết):
Những sách ghi chép cổ xưa của nhân loại, những chứng tích của những ngôi mộ cách đây 5000 năm mà các nhà khoa học đã tìm thấy tại Ai Cập mới đây là dấu hiệu nền văn hoá chung của nhân loại.
1. Văn hoá nhân loại có thể nói là từ khi con người bắt đầu chết. Người chết thì không làm được gì nữa, nhưng là những người đang sống đứng ra để lo cho những người chết. Xét ở một tương quan giữa người sống và người chết, tự nó đã là một nền văn hoá. Văn hoá ấy ở trình độ cao thấp khác nhau là tuỳ thuộc vào việc chôn người chết. Sự tuỳ thuộc ấy cũng định hình những nền văn hoá tâm linh khác nhau. Có thể nói có bao nhiêu tộc người thì có bấy nhiêu kiểu cách, nghi lễ, ma chay, những hình thức này cho thấy những quan niệm sống khác nhau.
Truyền thống tâm linh Đông Phương cho thấy việc giải thích tìm hiểu vấn đề con người phải chết hình thành những nền văn hoá, cổ đại cũng như hôm nay. Con ngừơi không thể chấp nhận một cái chết vô nghiã ập đến, một cuộc sống triền miên đau khổ và sự dữ lộng hành mang theo sự chết của nó. Vì con người không thể chấp nhận sự hỗn loạn và vô nghĩa nên đã đi tìm những thời gian có gía trị đặc biệt. Trong các tôn giáo truyền thống là những lễ hội đình đám, đó là những thời kỳ phục hồi sự sống bị hao mòn theo năm tháng. Không có một xã hội nào thiếu những lễ hội như vậy, những lễ hội theo định kỳ làm cho xã hội bớt đi những căng thẳng hoặc bớt đi những nhàm chán của đời sống. Đó là những hình thức tái sinh cần thiết để làm tươi trẻ những gì đã cũ kỹ, mang thêm sinh lực cho những ngày sống mới. Phần lớn các lễ hội của xã hội đều khởi đi từ một sự kiện hoặc tưởng nhớ vị anh hùng nào đã khuất trong quá khứ. Truy đến ngọn nguồn của những lễ hội, người ta khám phá ra, những lễ hội ấy mang dáng dấp việc đưa tiễn, tưởng nhớ người đã khuất. Sự sống cần được khôi phục bởi sự chết dần của nó luôn kè kè bên cạnh. Các cộng đồng tôn giáo thì thấy rằng cần có một động lực đẩy thêm sức mạnh, năng lực cho sự sống. Như ngọn lửa đang khô dầu, ngọn nến đang hết sáp, năng lực của cuộc sống dần dần tiêu hao, nên vẫn luôn mãi con người đi tìm một thời thiêng để phục hồi cho giá trị ấy.
Các nghi lễ hội hè theo Theodore M. Ludwig là định hướng cho cuộc sống, những trung tâm dệt nên ý nghĩa cuộc đời.
Đông Phương đề cao việc “Đổ rỗng”, đó là thời kỳ Kenosis, thời kỳ đổ rỗng tâm linh để hồi sinh, trút bỏ lối đường cũ để sống đời sống mới. Trong thực hành kenosis có nhiều hình thức, một trong những nghi thức phổ biến nhất là tẩy rửa, thanh lọc các uế tạp của đời sống cá nhân cũng như tập thể, thú tội và sám hối, tách ly với cuộc đời đang sống để tịnh tâm. Tại một số cách thức của những dân tộc Á Châu hay Châu Phi, để bước qua một tuổi thiếu niên, một người phải đi vào rừng sâu để lột xác. Tại Thái Lan, những thiếu niên bước vào tuổi thanh niên phải trải qua ba năm ở trong một ngôi chùa nào đó. Đó là thời kỳ Kenosis, thời kỳ đổ rỗng, dứt bỏ hiện tại, cuộc sống thường ngày, đang trong thời kỳ ấy người ta gọi là thời kỳ limen (liminal state), sau đó khi bước ra khỏi rừng sâu trở về với cuộc sống người thiếu niên đã được chứng nhận là trưởng thành, đó là thời kỳ Plerosis. Trong rừng sâu người thiếu niên phải giũ bỏ hết những gì đang có, để một mình đối diện với chính mình, một mình đối diện với thiên nhiên và một mình đối thoại với Đấng linh thiêng. Đó cũng là những thời kỳ sám hối và canh tân Mùa Vọng và Mùa chay của người Kitô giáo trước lễ hội Giáng Sinh và Phục Sinh.
Kenosis được đề cao rất nhiều trong cuộc sống. Từ khi sinh ra đứa bé đã được tắm để sinh ra trong trong một môi trừơng mới, cho đến khi hôn nhân lại một lần nữa chết đi cho cuộc sống độc thân để bước vào đời sống đôi lứa, và cho đến khi ra khỏi cuộc sống. Kinh nghiệm sau cùng nhất, cao điểm nhất của tình trạng kenosis của mỗi cá nhân là sự chết, ở cao điểm này, cái kinh nghiệm cá nhân của người này không thể truyền đạt cho người kia, mỗi người chỉ kinh nghiệm ở những lần “đổ rỗng” trong khi đang sống.
Thờ kính tổ tiên người xưa.
Tìm hiểu về văn hoá của một dân tộc, là tìm về những nghi lễ hội hè đình đám, vì ở đó là dấu hiệu của sự phục sinh, dấu hiệu của những thời kỳ “đổ rỗng” của từng dân tộc. Đó là những thời điểm kenosis để kinh nghiệm về tâm linh, hướng dẫn cho cuộc sống.
2. Những người dân tộc vùng Tây Nguyên Việt nam có lễ bỏ mả hằng năm, và là loại lễ mang nhiều sắc thái văn hoá nhất. Có rất nhiều thể hình nghệ thuật được chăm chút như nhà mồ, tượng mồ, múa, nhạc, con rối, mặt nạ, những dụng cụ giả để chia cho người chết; phải chuẩn bị nhiều thức ăn uống. Lễ bỏ mả của người Tây Nguyên vượt xa các lễ hội làng buôn nào khác, lễ ấy mang tính chất nối linh thiêng vào đời như người ta vẫn hằng tin tưởng. Người Giarai thì có câu “Bơlan ning nông thông atâu” (tháng nghỉ đi chơi lễ bỏ mả); người Bana thì có câu: “Khêi ning nơng pơm bơxát” (tháng nghỉ làm nhà mả). Việc chôn người chết, làm ma cho người quá cố, là một dấu chỉ chứng minh con người có tâm linh. Vì tin rằng con người chết không phải là hết nên người Giarai, Bana hay như những tộc người khác làm lễ đưa tiễn người chết sang một trạng thái sống khác. Khác với những tộc người khác, người Giarai và Bana không có đền, miếu hay lăng tẩm dùng việc thờ người chết, họ tin rằng sau lễ bỏ mả là những người chết đã sống một nơi tách biệt hẳn với người sống.
3. Sở dĩ, người ta học biết được nhiều loại văn hoá cổ xưa là nhờ vào những khai quật những lăng tẩm, mộ cổ. Nhà mồ theo cách nói của người Tây Nguyên là biểu tượng sự sống ở nơi khác của người đã khuất. Không có một loại hình kiến trúc nào của người Tây Nguyên lại thu hút nhiều loại hình thức nghệ thuật như nhà mồ. Nhà mồ thông thường thì không lớn như ngôi nhà rông, đôi khi lớn hơn cái chòi hoặc bé hơn thế, nhưng cấu trúc của nhà mồ lại là một công trình nhiều nghê thuật hơn hết bao gồm các tượng gỗ, các cột trang trí cao thấp khác nhau, những mẫu gỗ được ghi khắc, chạm trổ công phu, những bức hoạ trên nóc. Tất cả các kích cỡ cấu trúc nhà mồ đều lấy theo kich thước chuẩn mực con người. Tuy cấu trúc công phu nhưng sau lễ bỏ mả nhà mồ cũng chịu cảnh trơ vơ, phai tàn dần theo năm tháng.
“Nho giáo với nguyên tắc hàng đầu trong lối sống cổ nhân, theo lời dạy của Khổng Tử, là Lễ, có nghĩa là “khuôn phép” hay “nghi thức khả kính” Lễ nguyên là những việc nói về các nghi lễ và các hiến tế đối với các bậc tổ phụ, những việc cử hành đầy tôn kính, cẩn trọng đến từng chi tiết và chu toàn từ đầu đến cuối. Điều cốt yếu của khuôn phép là đạo hiếu con cháu đối với cha mẹ và tổ tiên. Khổng Tử còn nhấn mạnh rằng, thái độ cung kính có thể thấm nhuần toàn bộ các hành vi: ta có thể thực hành khuôn phép trong đời sống thường ngày, hành xử những nghi thức và nghi lễ xứng hợp và bằng cách đó ta chuyển hoá mình thành người có nhân”.
Thời gian dành cho việc lễ là thời gian Kenosis, tách biệt khỏi cuộc sống ồn ào, tìm về ý nghĩa thiêng liêng của cuộc sống. Trong đạo hiếu, Kenosis là những giờ phút mặc niệm đối với người quá cố, được biểu hiện bằng những hành vi xá lạy, nhận ra mình là những người mang ơn với cuộc sống tổ tiên dành lại. Ý nghĩa này dẫn dắt con người trong đời sống, giữ họ khỏi lạc hướng, giúp họ biết lựa chọn những gì tốt đẹp và có giá trị vượt thời gian.
4. Người Tây Nguyên không thờ kính ông bà tổ tiên, nhưng với văn hoá người Việt thì đạo hiếu là nền tảng căn bản. Người Việt tin rằng tổ tiên ông bà sau khi khuất vẫn sống chung trong một mái nhà cùng với con cháu đang sống. Niềm tin này giúp họ đừng làm gì sai quấy với tổ tiên.Từ đó, tang ma đối với người Việt là một điều hết sức hệ trọng trong vòng đời người. Không có hành vi thờ kính nào mà không có bài học luân lý hướng dẫn cuộc sống. Sở dĩ, hành vi thờ kính mang theo bài học luân lý là vì theo lẽ đất trời có nguồn có căn. Nguồn ấy là sự sống, căn ấy là lẽ sống.
Đạo hiếu trên đất Việt có từ bao giờ? Đó là một câu hỏi ngược dòng tìm về nguồn cội ý thức tâm linh của người Việt. Cũng như những tộc người khác trên thế giới, người Việt đã tin rằng “vạn vật hữu linh”, mà hình thức thờ phổ biến nhất, sơ khai nhất là thờ các nhiên thần: Thần cây, thần núi, thần sông… Người ta thần thoại hoá các nhiên thần ấy theo sinh hoạt của con người, có khi theo thần dữ có khi theo thần lành. Từ giai đoạn nhiên thần đến nhân thần cũng rất gần gũi. Theo lối suy tư cụ thể cuả người Việt nhân thần dễ gần gũi hơn nhiên thần dần dà các nhiên thần chỉ còn một số ít được thờ kính mà thay vào đó là các nhân thần. Khi việc thờ kính nhân thần phát triển thì cũng đồng thời con người lại hiểu hơn về sự liên lạc giữa người sống và người chết. Sự liên lạc ấy cho con người khám phá ra hơn về bản thân mình, những câu hỏi căn bản cũng tuần tự được đặt ra: con người từ đâu tới, đi đâu và sẽ về đâu? Những câu hỏi rất gần với nhân linh, nên người Việt tin rằng con người có hồn có vía. Khi một người chết thì xác trở về tro bụi nhưng hồn linh về lại cõi âm, vẫn sống và ở gần với những người thân. Người ở cõi âm vẫn cần có những công cụ làm việc như những người ở dương gian, quan niệm này được minh chứng qua việc người xưa chôn cất người chết cùng với những dụng cụ và những gì người qua cố thường dùng.
Như vậy, từ khi con người bắt đầu chết, cũng là khi con người ý thức sự chết của con người khác với các loài khác, chết không phải là hết, chết là một ngưởng cửa đi vào những cõi huyền bí khác mà con người cố gắng tìm hiểu.
5. Tin rằng chết không phải là hết cho nên nảy sinh những lễ và hội để tưởng nhớ người chết. Việc chuyển những nhu cầu của người sống cần dùng cho người chết làm nên những việc cúng tế. Lễ Vu Lan cũng bắt nguồn từ tâm thức đó. Như vậy, trong đời sống tâm linh cũng chuyển hoá, phát triển hơn về những hình thức lễ hội. Nguyễn Du có viết: “Thanh minh trong tiết tháng ba. Lễ là tảo mộ, hội là đạp thanh”.
Một hình thức tâm linh khác cũng được lưu chuyển cho con cháu đang sống đương thời là tinh thần chia sẻ, an ủi những người đã khuất, đồng thời cũng được những người chết cầu bầu cho mà người ta thường gọi là “âm phù”, nghĩa là người chết phù trợ cho người sống. Mối liên hệ giữa người sống và người chết hình thành nên một lối sống cộng đồng mà người ta gọi thường là đại gia đình, một đại gia đình như thế thường có một “tông đường”. Lần lượt kẻ trước người sau, đều vượt qua ngưỡng cửa của sự chết ấy, rối lại sống chung trong một mái nhà mà đất làm mẹ. Người Việt có lẽ là một dân tộc thấy sống và chết gần kề nhau nhất, cho nên mang một cách sống: “sống gửi, thác về”. sống thì gửi thân xác này cho dương thế, thác thì gửi xác này về cho đất mẹ. Người sống sánh với đất là dương, sánh người với trời là âm. Dương thế nếu so sánh với trời là âm, âm rồi lại trở về âm (đất mẹ). Từ cách sống ấy, người Việt sống không quan trọng lắm về hình thức mà sống chủ yếu dựa vào tình thương: “Bầu ơi, thương lấy bí cùng. Tuy rằng khác giống mà chung một giàn”. Mối liên hệ giữa người sống và người chết làm nên mối quan hệ mật thiết giữa những người sống với nhau. Đó là bài học luân lý của đời sống cộng đồng.
6. Người Việt không chỉ tưởng nhớ người chết một năm đôi ba lần, cũng không tưởng nhớ người khuất chỉ vài ba đời, nhưng trong các hình thức thờ kính tổ tiên của người Việt bàng bạc trong cuộc sống. Không ngày nào mà không nhớ đến tổ tiên, Không chỉ dừng lại đôi ba đời mà cả dòng dõi nếu có thể kể hết được cho đến tận nguồn. Lối sống của người Việt, vì thế, luôn lấy làm trọng việc “uống nước nhớ nguồn” mà dạy bảo con cháu. Truyền thống “Uống nước nhớ nguồn” lại là một Kenosis, tìm về nguồn cội của sự sống, dứt bỏ mình trong hiện tại để hướng mình về phía quá khứ, nơi người đã mang mình đến, nơi ngọn nguồn sự sống của tổ tiên. Tìm trong truyền thống “Uống nước nhớ nguồn” những ý nghĩa thực tại cho nhân sinh, giải đáp những oan trái cuộc sống thường ngày gặp phải, tìm ra câu trả lời cho ý nghĩa cuộc sống. Vì thế, truyền thống “uống nước nhớ nguồn” ấy cứ bàng bạc trong mỗi ngày sống, dường như đang sống ở bên cạnh, để tổ tiên dìu dắt con cháu bước đi theo những kinh nghiệm đã trải qua của tổ tiên.
Truyền thống “uống nước nhớ nguồn” hình thành những cộng đồng kinh tế. Hiệu quả của việc cấy cầy là nhờ tổ tiên phù trợ cho. Trong kinh tế của người Việt cũng lấy gia đình làm đơn vị căn bản canh tác, già cả lớn bé đều làm cùng với nhau trên một cánh đồng, từ việc làm chung, hưởng chung đó mà gia đình gắn bó với nhau hơn ai hết: “Chồng cầy vợ cấy, con trâu đi bừa” diễn tả sự hiệp nhất của một gia đình. Có những gia tộc lớn chiếm hết cả một làng thì người ta thấy có ruộng làng - ruộng xã - cũng có ruộng hương hoả dành cho việc thờ kính tổ tiên. Dù một gia đình nhỏ bé ít người cho đến một gia tộc lớn lao đi chăng nữa, gia đình nào cũng quan trọng việc thờ kính tổ tiên. Ruộng hương hoả là không bao giờ được bán hay đem đi gán nợ dù có chết vì đói. Nền kinh tế nông nghiệp thưở xưa, rất quan trọng những phần đất tổ để lại. Không có phân đất này, con cháu giống như người xa lạ, đến ăn nhờ ở đậu.
7. Người ta thường hiểu lầm đạo hiếu là mang từ Trung Hoa vào dân gian Việt. Điều ấy thật là không đúng. Thực ra, cuộc sống đã có những giá trị tâm linh như khi con người biết chôn cất người quá vãng, người Việt trong những ý nghĩa của những câu truyện cổ đã thuật lại nguồn gốc của mình là : “con rồng cháu tiên”, có một nguồn gốc từ trời, cho nên người Việt lúc nào cũng cầu khấn với Trời, hay tạ ơn với Trời. Hình thức lễ tế thì có ảnh hưởng từ Khổng giáo, Phật giáo, nhưng đó là một giai đoạn muộn thời hơn so với tâm thức siêu hình. Người Việt không dễ gì mà đón nhận tất cả những miền văn hoá lớn của Trung Hoa, với ý thức cội nguồn, người dân Việt đã rửa tội cho những hình thức lễ bái Trung Hoa, hay Phật Giáo cho chính mình. Cụ thể là Nhà Lê đưa ra những quy định rất chặt chẽ về luật hương hoả: “Ruộng hương hoả, dù con cháu nghèo khó, cũng không được đem bán trái pháp luật, có` người tố cáo phải ghép vào tội bất hiếu. Nếu người trong họ mua số ruộng đất ấy thì mất số tiền mua. Người ngoài mà mua thì phải cho chuộc, người mua không được cố giữ”. Ngoài ra triều đình cũng tặng thưởng cho những người con có hiếu, mà người ta gọi là “hiếu tử”, những người mà lúc “cha mẹ sống lấy lễ mà thờ, cha mẹ chết lấy lễ mà táng”. Ảnh hưởng của Trung Hoa hay Phật Giáo từ Ấn Độ vào Việt, đều được Việt hoá cách gần gũi. Ví dụ Phật là nam giới của Ấn Độ vào Việt thì chuyển thành nữ Phật Bà Quan Âm, ví dụ triều đình có ảnh hưởng Trung Hoa vì lý do này khác, nhưng ở dân vẫn “Luật vua thua lệ làng”. Ví dụ để chống lại việc dùng chữ Hán nguyên gốc của người Trung Hoa, người Việt chế tác cho mình bộ chữ Nôm mà dùng… Có thể nói chăng nhờ hiếu đạo mà người Việt không hề bị mất gốc, dù ngàn năm chịu sự đô hộ giặc Tàu?
8. Tổ tiên đối với người Việt không chỉ dừng lại ở việc dòng dõi, nhưng phổ quát hơn nhiều. Tổ tiên có thể kể bao gồm những tổ nhà, tổ họ, tổ làng, tổ nghề, tổ nước… Vì thế, hình thức giỗ tổ có lẽ đến từ rất sớm, nằm sâu trong tâm thức của người Việt. Giỗ tổ, do đó là một hình thức tạ ơn, tạ ơn Trời, tạ ơn đất, tạ ơn nước, tạ ơn những người đã có công gầy dựng cho con cháu sự sống, cũng như hạnh phúc. Dân tộc Việt nhờ “Hiếu đạo” mà trở thành những con người biết tạ ơn nhiều nhất chăng? Do đó khảo sát những đạo giáo hình thành trên đất Việt, ta thấy khi có một đạo lý xuất phát tại Việt Nam, người sáng lập luôn đề cao vị trí tạ ơn thành một giáo lý: Ví dụ Phật Giáo Hoà Hảo lớn mạnh tại An Giang, lấy “tứ ân” làm cơ sở phát triển, Cao Đài giáo thờ kính hết thảy những người có công dựng nước và giữ nước… Người Việt xưa ý thức tâm linh ở trong trình độ rất cao, thành kính không chỉ dừng lại ở việc cầu xin, nhưng phần lớn lòng thành kính ấy mang tâm tình tri ân. Tri ân ngay cả khi túng cực, để mong ngay nào đó “sau cơn mưa trời lại sáng”, con cháu có dư dả hơn để thực hành lễ bái cho xứng đáng hơn với tổ tiên. Theo nhận xét này, hiện nay chúng ta thấy, người Việt lúc nào cũng sẵn lòng góp vào xây dựng những ngôi nhà thờ chung của cộng đồng, có ít họ góp ít, không ai là không góp, góp để phần nào tri ân, tạ ơn với sự sống. Người Việt ít khi cầu lợi mà chỉ mong sự may lành đến với họ nhờ ân đức của tổ tiên.
9. Hình thành một văn hoá từ việc chôn cất người chết, đôi khi các nhà nghiên cứu thường tự hỏi: “Thờ kính tổ tiên có phải chăng là một tôn giáo?”. Toan Ánh cho rằng: “thờ kính tổ tiên không phải là một tôn giáo, mà là lòng thành kính và biết ơn của con cháu với những người đã khuất”. Giáo sư Nguyễn đổng Chi thì phân vân “nó gần như một thứ tôn giáo” còn đối với Giáo sư Đặng Nghiêm Vạn thì khẳng định: “Đây là một tôn giáo chính thống của người Việt”. Ở dưới một góc cạnh nào nhìn nhận đi chăng nữa thì cũng hiểu rằng đó là đạo lý chung của tâm hồn Việt “Uống nước nhớ nguồn”.
10. Thờ kính tổ tiên còn mang tính chất tổ chức cộng đồng trong xã hội truyền thống. Một người sống trong xã hội xét theo chiều dọc và chiều ngang, nhìn nhận rằng “không ai là một ốc đảo”, người này đều có liên hệ với người kia, gần thì huyết thống xa thì làng nước. Huyết thống ở xa thì “bán họ hàng xa, mua láng giềng gần”. Mối liên hệ xa đi chăng nữa lại vẫn chung một tổ, bởi vậy xã hội ngày xưa, dựa vào yếu tố đó để xây dựng tổ chức Làng - Nước. Tổ chức làng - nước nhằm bảo vệ cộng đồng nhân sinh trước ngoại xâm và bảo đảm nghành nghề sinh sống.
Từ đường.
11. Văn hoá từ đường cũng theo đạo hiếu mà phát triển, từ đường có thể là một gian trong gia đình, để việc tế lễ tổ tiên hằng ngày được tiến hành, từ đường có thể là một ngôi nhà tách biệt của tổ tiên để lại, hoặc do mua, dành cho dòng họ tế lễ dịp đầu xuân về, con cháu quy tụ về đây chúc tết ông bà, và các cháu được mừng thêm tuổi mới do tổ tiên ban phúc. Từ đường là nơi họp mặt đại gia đình, mỗi khi giỗ tổ hoặc trình báo tổ tiên khi đám cưới hỏi những con cháu trong gia đình. Những chuyện vui buồn dường như đều có tổ tiên dự phần vào như khi đang còn sống. Đối với người Việt tuy âm dương cách trở nhưng cũng không hề xa cách. Bàn thờ gia tiên tại từ đường có bài vị của các cụ tổ được lám bằng gỗ táo ( với ý nghĩa cây táo sống nghìn năm) ghi rõ tên tuổi của các vị tổ. Bài vị này không được quyền thay đổi cho đến khi đời thứ năm khuất bóng, đời cao nhất sẽ được đem chôn bài vị và các cấp còn lại tăng lên một bậc. Người Thái ở cao nguyên Bắc Việt chỉ thờ một đời gần nhất, người Nùng thì thờ đến ba đời, sang đới thứ tư thì được dời ra cửa ngõ hoặc trước nhà như vị thần gác cửa bảo vệ sự an toàn cho con cháu.
12. Bàn thờ gia tiên được làm thành hai lớp, ngăn cách bởi tấm y môn che phủ . Lớp trong đặt long khám của thần chủ (hoặc ngai, hoặc ỷ tượng trưng cho ngôi vị của tổ tiên), một vật thờ gọi là tam sơn để đặt hộp trầu, chén rượu, ly nước, đĩa hoa quả. Lớp ngoài là hương án, trên đặt bình hương, đèn, ống hương, mâm bồng… Ngày thường tấm y môn vén lên, nhưng vào ngày lễ, sau khi khấn vái, y môn được thả xuống.
Trong tâm trí lúc nào tổ tiên dường như cũng đang sống dưới một mái nhà, ngay bên cạnh nên hầu như từ đường nào cũng có ngôi mộ tổ ở giữa khu vườn dưới những rặng cây cổ thụ hoặc vườn cây trái nếu đấy là nơi miệt vườn. Tổ tiên không xa cách nên từ đường lúc nào cũng ấm áp hương khói kính nhớ. Có nơi người xây mộ tổ theo tính cách bửu tháp, thường là nơi chùa chiền, nơi bửu tháp ấy là người lập nên chùa được mai táng. Thật là thiếu khi bửu tháp không có gốc cây cổ thụ, thường thì là gốc sứ trắng, một loại cây toả hương thơm hoa suốt bốn mùa, vững chãi đứng đó che bóng cho đàn con cháu. Khi nói về từ đường, những người con dường như nghe tiếng tổ tiên đang ở đó cầu chúc cho con cháu những năm tháng dài an khang hạnh phúc.
Khác với các nước Á Châu như Nhật bản đặt bàn thờ Thần đạo (Shinto) ở nơi trang trọng nhất trong nhà, còn bàn thờ gia tiên ở gian phụ. Ở Hàn quốc, người ta chỉ lập bàn thờ và dán bài vị khi có việc cúng giỗ. Ở Việt Nam, bàn thờ gia tiên ở ngay gian giữa, ngay khi khách vào nhà đã thấy sự trang trọng của bàn thờ gia tiên, nếu là một người ý thức về tính trang trọng của dân tộc, trước khi vào câu chuyện với người trong nhà, người khách cần thắp ba nén hương để thờ kính tổ tiên của gia đình mình đến. Tại một số gia đình nếu cha mẹ mất sớm cả, người anh lớn trong nhà dù việc lớn hay việc gì nhỏ, hoặc cả việc lấy roi đánh các em mình để dạy chúng thì cũng thắp vài nén hương xin phép được thay quyền cha mẹ quyết định. Lễ giáo của một gia đình lấy khuôn phép từ bàn thờ gia tiên ấy mà sống. Ngày xưa không có khoa dạy luân lý, dạy phép đạo làm con, nhưng ở gia đình con trẻ học được rất nhiều lễ giáo nơi bàn thờ gia tiên, trong gia đình.
13. Bàn thờ gia tiên không nhất thiết trưng bày theo một quy tắc nhất định, tuỳ theo gia cảnh của mỗi nhà, thường thì có bài vị thay cho những tấm ảnh như bây giờ hay từ khi nghành ảnh ra đời và phổ biến. Bài vị hay linh vị, đôi khi bị hiểu lầm là một bùa chú, không phải vậy, bài vị là tấm thẻ ghi danh tánh của người đã khuất và ngày sinh, ngày tịch để nhắc nhở ngày giỗ kỵ. Bài vị biểu hiện sự hiện diện của người đã khuất trong gia đình, sự hiện diện linh thiêng của tổ tiên. Bên cạnh bài vị có bát hương, đĩa đèn, bình hoa, chén rượu, hộp trầu, mâm quả… chất liệu của các dụng cụ trên bàn thờ thường bằng gỗ hay bằng sành, sứ. Những gia đình giàu có hơn thì dùng bằng đồng, bộ tam sự (gồm đỉnh đồng làm bình cắm hương và hai con hạc đồng), trong bộ thờ có hạc là khi có ảnh hưởng của Phật giáo vào trong hiếu đạo (người Phật giáo tin rằng con hạc này sẽ chở người đã khuất về nhanh cõi Niết Bàn), bô ngũ sự thì có thêm hai ống hương, bộ thất sự có thêm đôi đèn. Bàn thờ gia tiên của nghành trưởng thì trang trọng hơn nghành thứ, bàn thờ gia tiên của chị trưởng thì bài biện đẹp hơn của chị thứ.
Trách nhiệm thờ kính tổ tiên là bốn đời bao gồm: Cao, Tằng, Tổ, khảo (bao gồm cả các cụ bà), bên cạnh bàn thờ thường có có bức đại tự hay hoành phi, nội dung các bức này thường là:
“ Công đức bách niên duy,
Tử tôn vạn đại kiến”
14. Lễ thức tang ma được coi là quan trọng nhất là để đưa ông bà hoặc cha mẹ vừa mất về gặp mặt tổ tiên và gia nhập vào các trhứ bậc tổ tiên. Người vừa khuất được đặt bàn thờ riêng, cho đến khi giỗ đoạn tang. Sách “thọ mai gia lễ” ghi chép rất chi tiết những quy định về lễ tang, bao gồm các lễ như: lễ gia tân y, chúc khoáng, khiết xỉ, lễ phục hồn thiết hồn bạch, phạn hàm, tiểu liệm, đại liệm, nhập quan, thành phục, thiên cửu, yết tổ… sau lễ chôn cất có các lễ: Phản khốc, tế ngu, mở cửa mả, tốt khốc. quy định về tang phục và tang chế cũng được quy định rõ ràng, tuỳ theo người thọ tang liên quan với người quá cố. Sau càc lễ tang ma là các lễ giỗ cũng rất quan trọng ( 49 ngày, 100 ngày, 1 năm, 3 năm và hằng năm).
II. Thờ kính tổ tiên ngày nay.
15. Một vài số liệu:
Qua khảo sát hai đô thị lớn tại Hà Nội, Sài Gòn, và ba tỉnh vùng nông thôn Hà Tây, Hoà Bình và Cần Thơ, phiếu điều tra cho thấy một thực trạng thờ kính tổ tiên ngày nay:
100% gia đình có bàn thờ tổ tiên.
96, 75 % bàn thờ gia tiên được đặt nơi trang nghiêm nhất trong nhà.
95,85% những cặp vợ chồng nhớ ngày người thân mất để giỗ và cầu nguyện.
chăm nom mồ mả: Tại các vùng nông thôn là 100%, tại Hà Nội là 85%, Sài Gòn là 89%.
Hình thức cử hành ngày giỗ trong những năm chiến tranh thì giản đơn, nhưng nay đang hồi phục:
61% tại Sài Gòn, mời thầy tới gia đình cầu kinh tang lễ. 48 % tại Hà Nội, 4% tại Hà Tây, 3,13 tại Cần Thơ.
28,4% tại Sài Gòn gửi cốt tại Chùa, 28% tại Hà Nội, Hà tây 3%, Cần Thơ 1,56%.
Việc tu sửa những ngôi mộ tổ, quy tụ con cháu trong những ngày giỗ của tổ tiên để cầu nguyện: Hà Tây 91%, Hoà Bình 88,5%, Cần Thơ 86%, Hà Nời 27%, SàiGòn 18,4%. Tại các thành phố xem ra việc quy tụ trở nên khó hơn vì con cháu bận công việc làm.
Gia phả 13,5% tại Sàigòn, 15% tại Hà Nội, các gia đình có gia phả. Tiếp tục ghi chép gia phả thì khó khăn hơn 8% tại Hà Nội, 8,2% tại SàiGòn.
Tại làng Triều Khúc, Huyện Thanh Trì, ngoại thành Hà Nội: 84,4% người tin có linh hồn, 35,5% tin có ma, 95,5% gia đình quan tâm đến mồ mả, chọn giờ tốt xâu 88,8%, xem chân gà 60%, xem tướng số 22,2%, hầu đồng 2,2%.
8,9% gia đình có bàn thờ mẫu, 16% có cây hương thờ thổ thần, 31,1% có bàn thờ Phật, 40,2% có bàn thờ cố tổ, 92% gia đình có bàn thờ tổ tiên, 8% còn lại là những gia đình trẻ ngành thứ. Trên 60% gia đình có bàn thờ tổ tiên 4 đời, 33% gia đình thờ 5 đời.
47% gia đình thắp hương bàn thờ tổ tiên mỗi ngày. 53% gia đình thắp hương bàn thờ tổ tiên vào dịp tết, giỗ, sóc, vọng.
Việc thờ kính tổ tiên bắt nguồn từ việc uống nước nhớ nguồn 100% đồng ý.
Việc xây cất nhà thờ họ và tôn tạo mồ mả tổ tiên 96% cho là cần, 4% cho là không cần.
Các số liệu trên dựa vào khảo sát năm 1995, trong cuốn “thực trang văn hoá gia đình Việt Nam”, NXB Lao Động.
Vài số liệu tại Sài Gòn, đối với người Công giáo, Khảo sát năm 2002:
98% tại Sài Gòn, mời linh mục tới hoặc mang tới Nhà Thờ cầu nguyện cử hành lễ an táng cho người quá cố. Đặc biệt, theo lối sống cầu nguyện của người công giáo cử hành trang trọng các lễ an táng, cầu nguyện cho người quá cố, làm cho nhiều người lương dân thích được cử hành tang lễ theo người công giáo. Đó cũng là điểm son của người công giáo, ngay từ buổi đầu truyền giáo vào Việt Nam đến nay.
90,6% các gia đình Công giáo nhớ ngày giỗ và xin lễ cho tổ tiên.
88,5% gia đình công giáo chăm sóc mộ phần, một số còn lại do điều kiện con cháu lưu lạc nhiều phương xa và quên mất những mộ phần của tổ tiên.
Chọn giờ tốt xấu để cử hành lễ an táng hoặc hạ huyệt:
Gia đình công giáo toàn tòng: 1,3%.
Gia Đình Công Giáo, có thành viên lương dân: 23,4%.
Gia phả của các gia đình công giáo còn lại 57,3%, tiếp tục ghi chép 23,2%.
Nhận xét
16. Truyền thống uống nước của người dân Việt trải qua nhiều thời kỳ và thay đổi nhiều về mặt kinh tế vẫn không phôi pha trong lòng dân tộc. Đang khi có chiều hướng tốt khi phục hồi nền nếp gia phong Hiếu đạo trên một diện rộng, nhất là từ sau những ngày mọi sinh hoạt và kinh tế khó khăn đã qua. Đây là dấu hiệu tốt của nền văn hoá Việt đang khi mở cửa đón tiếp khách nước ngoài vào Việt nam du lịch. Ở nhiều nơi đang hồi phục các lễ hội truyền thống của làng. Gia trị truyền thống lâu nay bị bỏ quên đã có dịp tốt được phục hồi, những người xưa vẫn còn đó chưa qua đi hết là nguồn nhân lực đáng kể để gợi nhớ cho con cháu những truyền thống quá vãng. Có nhiều cách thức giới trẻ ngày nay vẫn đang tìm về những nguồn nhân chứng để nghe và hiểu hơn từng sắc thái của dân tộc. Có nhiều đề tài nghiên cứu cách tốt hơn để bảo tồn và phát triển truyền thống trong văn hoá đương thời. Có nhiều nỗ lực từ nhiều phía khác nhau, từ các gia đình cho đến những cộng đồng lớn như giáo xứ, giáo phận và sự quan tâm của Hàng Giám Mục Việt Nam là những đóng góp tốt đẹp trong nền văn hoá bản địa.
17. Đang khi có nhiều di tích không còn hiện hữu nữa và những người xưa cũng đang ít dần đi, sự hồi phục các giá trị văn hoá này là một cấp bách trước nhiều vấn đề mới mở ra đối với thế giới. Việt nam đón nhận nhiều nền văn hoá khác nhau, nếu không duy trì và phát triển văn hoá cách sâu rộng hơn thì có thể rằng con cháu mai sau là người mất gốc.
18. Các vùng nông thôn ngày nay, các tổ chức xã hội kiểu xưa theo văn hoá làng xã cũng không còn nữa, những phương tiện sản xuất ngày càng cần ít nhân công hơn, số lao động vùng nông thôn thừa ra hàng năm, nếu tính cả nước trên 1 triệu, với những số gia tăng hằng năm 90% là vào các thành phố lớn để tìm việc làm và 90% là độ tuổi thanh niên, như vậy một vấn đề khó khăn cũng mở ra đối với những người ưu tư về văn hoá. Các vùng nông thôn cũng có nhiều vấn đề khác đang phá vỡ mô hình văn hoá làng xã như: mua bán vợ cho người nước ngoài, mại dâm, rượu, ma tuý… Mô hình kinh tế nông thôn công nghiệp làm thặng dư lao động và rơi vào tình trạng nhàn rỗi, từ đó nhiều vấn đề về văn hoá không còn giá trị.
19. Văn hoá có thể chịu ảnh hưởng của kinh tế về hai mặt: Mặt thứ nhất là văn hoá sẽ chịu sự biến đổi và biến mât nếu những giá trị truyền thống chỉ là để giới thiệu, phát triển cho ngành du lịch mà không có ý nghĩa trong cuộc sống. Mặt thứ hai giá trị kinh tế là một trợ giúp cho việc bảo tồn và phát triển nền văn hoá. Một thực trạng trong vấn đề hiện nay, khôi phục các giá trị văn hoá cổ xưa, thường về hướng thứ nhất thì dễ thực hiện hơn bởi vì dễ tập và đào luyện cho những đội đoàn trở thành chuyên nghiệp, nhưng văn hoá như vậy thôi là nền văn hoá đem ra biểu diễn chứ không là nền văn hoá chắt lọc từ cuộc sống. Hướng thứ hai khó giải quyết hơn, bởi vì cần nhiều nỗ lực từ mỗi cá nhân, mỗi cộng đồng sống những giá trị văn hoá truyền thống một cách sâu đậm, mà vẫn không lạc hậu với văn hoá chung nhân loại. Trước những áp lực về kinh tế, những giá trị truyền thống xem ra dễ chỉ còn hình thức mà thiếu nội dung, văn hoá còn là cái phông sân khấu cho những loại nhạc Shock mà giới trẻ ngày nay ưa thích.
20. Có một sự lẫn lộn thật sự về từ ngữ hoặc cố tình lạm dụng khi dùng từ văn hoá để gán ghép vào trong những lối sống hoặc để kết án những ấn phẩm ngoài luồng kiểm soát, trong đó có cả những sách tốt dạy về đạo lý làm người cho ra người cũng bị xuyên tạc, người ta dùng từ ngữ: văn hoá đồi truỵ, văn hoá khiêu dâm, văn hoá hưởng thụ… Văn hoá không là tích tụ của những điều xấu mà đúng hơn chịu ảnh hưởng của lối sống văn minh hưởng thụ, kỹ thuật khiêu dâm, văn minh đồi truỵ. Sự lạm dụng từ ngữ làm biến dịch nhiều cách sống, cách suy nghĩ của người Việt hôm nay, ví dụ các thương trường lạm dụng từ ngữ : “khách hàng là thượng đế”, để chiêu dụ khách hàng và cuối cùng để móc túi của thượng đế. Từ “tươi mát” không dám dùng nữa để chỉ ngay cả khi dùng sự “tươi mát” cho tâm hồn, bởi các báo chí đã dùng để chỉ những điều xấu và xem ra cách hiểu phổ biến là như thế. Có những từ ngữ nghe ra thật kêu nhưng lại hoàn toàn bị trống rỗng nội dung theo những khuôn sáo mòn: một không, ba không, ba có, bốn diệt, năm làm… Thật là một hỗn loạn, thiếu trách nhiệm trong khi sử dụng ngôn từ.
21. Có quá nhiều sự suy thoái làm mất niềm tin nơi quần chúng, có quá nhiều bóng tối lẩn khuất trong ánh sáng, để những lựa chọn cá nhân luôn rơi vào bế tắc hoặc sai lầm hoặc chấp nhận sai lầm. Một gia đình, người vợ không còn đủ niềm tin vào sự chung thuỷ của người chồng nữa, vì những cám dỗ dục vọng của những bóng tối bên ngoài quá nhiều, quá dễ để sa chân vào những bóng tối. Nền văn minh du lịch chịu sự suy thoái của những loại “sex tours”, lối sống văn hoá bị bào mòn bởi những “mãi dâm”. Ý thức quần chúng chịu nhiều ảnh hưởng của những lối sống chạy theo đam mê dục vọng. Tài chánh chi phối và làm tiêu tan nhiều giá trị văn hoá từ trong phôi thai của gia đình, con cái kiện cha mẹ để hưởng phần hồi môn, cha mẹ bỏ rơi con cái vì những đam mê của cá nhân… Những cộng đoàn cũng đang rơi vào tình trạng bị tài chánh chi phối, những cuộc quyên góp xem ra quá nhiều, những hình thức mỵ dân xem ra cũng quá nhiễu.
Như vậy cần có một cứu cánh, cần có một giá trị của nền văn hoá vừa bảo đảm cho sự phát triển nền văn hoá trần thế của từng dân tộc mà vừa phát triển cách bền vững cho tương lai dài, ở đây tôi xin gọi mạo muội ấy là nền “văn hoá ra khỏi mồ” bắt đầu từ Đức Giêsu lịch sử, một con ngừơi - Chúa - đã chết và đã sống lại - ra khỏi mồ.
II Nền văn hoá “Ra khỏi mồ”.
22. Một nền văn hoá mới được bắt đầu từ một việc phi thường và xa lạ với tất cả kinh nghiệm của mọi người. Một con người sống trong trần thế, một con người lịch sử, thuộc dân tộc Do Thái, một con người thuộc gia đình Nazareth, con của Maria và cha nuôi Giuse. Cuộc sinh hạ khác thường và vượt qua sự chết khác thường, con người ấy là Thiên Chúa - người. Một Thiên Chúa làm người cho nên vừa thụ hưởng nền văn hoá trần thế vừa khai sinh một nền văn hoá mới trong trần thế.
Có thể hỏi con người lịch sử ấy đã hấp thụ nền văn hoá nào của con người? đã gieo mầm một nền văn hoá mới ra sao?
Có lẽ cần bắt đầu từ sự kiện mà các Tông đồ rao giảng đầu tiên về con người Giêsu - Chúa, người họ đã theo chân, và họ làm chứng về Người đã sống, đã chết, và cuối cùng là đã sống lại - ra khỏi mồ. Các Tông đồ đã lấy mạng sống của mình để bảo đảm cho lời loan báo ấy, và không những thế, những người đón nhận lời loan báo ấy với kinh nghiệm gặp gỡ của mình, quy tụ lập thành từng cộng đoàn với sự dẫn dắt của các Tông Đồ, cũng dám minh chứng như vậy bằng giá máu của mình. Không thể không tự hỏi, con người - Chúa ấy là ai?
Con người - Chúa ấy có nguồn gốc:
23. Đức Giêsu thành Nazareth, là một người Do Thái, nói tiếng Do Thái, thời đức Giêsu người ta nói tiếng Aramê, sống theo những tập tục của người Do Thái, từ việc cầu nguyện cho đến những tập quán chung hằng ngày. Sinh ra trong một vùng đất Tiểu Á nhỏ bé, chịu chung một số phận với dân tộc của mình, một quê hương nhiều lần bị phân tán do các Đế quốc thống trị, một dân tộc nhiều phen chịu cảnh lưu đày, chịu nhiều áp bức, bất công của những người cai trị. Một Đức Giêsu cũng từng nhiều lần cùng khao khát với dân tộc của mình về viễn cảnh của ngày giải thoát, chờ đợi một Đấng Messia, tìm cho thấy một con người đến giải thoát qua các phong trào đạo đức của dân tộc. Một con người sống gắn bó với văn hoá dân tộc của mình, cùng chia sẻ những ưu tư lo âu, từng tham dự những ngày lễ hội như tiệc cưới tại Cana, cùng chia sẻ nỗi mất mát với những người lân cận, những tang chế của người anh em, như lần khóc thương Lazarô đã chết. Một con người rất người bước đi trong đời thường để rao truyền một đạo lý mới, một văn hoá mới, mà chỉ khi ra khỏi mồ mới bắt đầu thực sự thành hình.
24. Nền văn hoá “Ra khỏi mồ” được bắt đầu với sứ điệp:
“Đức Giê-su đến Na-da-rét, là nơi Người sinh trưởng. Người vào hội đường như Người vẫn quen làm trong ngày sa-bát, và đứng lên đọc Sách Thánh. Họ trao cho Người cuốn sách ngôn sứ I-sai-a. Người mở ra, gặp đoạn chép rằng:
Thần Khí Chúa ngự trên tôi, vì Chúa đã xức dầu tấn phong tôi,
để tôi loan báo Tin Mừng cho kẻ nghèo hèn.
Người đã sai tôi đi công bố cho kẻ bị giam cầm biết họ được tha,
cho người mù biết họ được sáng mắt,
trả lại tự do cho người bị áp bức,
công bố một năm hồng ân của Chúa.
Đức Giê-su cuộn sách lại, trả cho người giúp việc hội đường, rồi ngồi xuống. Ai nấy trong hội đường đều chăm chú nhìn Người.21 Người bắt đầu nói với họ: "Hôm nay đã ứng nghiệm lời Kinh Thánh quý vị vừa nghe."22 Mọi người đều tán thành và thán phục những lời hay ý đẹp thốt ra từ miệng Người.”
Sứ điệp ấy được công bố sau khi Đức Giêsu chịu phép rửa của Gioan - vào hoang mạc bốn mươi đêm ngày - về Galilêa - tại Nazareth quê hương của Người.
Chọn quê hương để công bố sứ điệp khởi đầu, đó là cách thức hình thành một nền văn hoá mới, dựa trên nền tảng truyền thống của cha ông, phong tục và tập quán của một quê hương nhất định. Không có một nền văn hoá nào mà không có miền đất cụ thể, những con người cụ thể, bởi vì văn hoá do con người sống trong một môi trường nhất định tạo nên.
Nền văn hoá “ra khỏi mồ” được minh định cụ thể:
25. Loan báo Tin Mừng cho kẻ nghèo hèn:
Kẻ nghèo ấy là ai? sự nghèo khó nhất của con người là sự chết. Đó là cái vốn chung cho mọi người. nếu con người bắt đầu nền văn hoá từ việc chôn kẻ chết thì Đức Giêsu mở ra một văn hoá mới “ra khỏi mồ”. Ra khỏi mồ là chỗi dậy từ cõi chết, trả lại cho ngôi mộ trống, giải thoát khỏi sự chết, đạt tới sự sống dồi dào viên mãn. Ngôi mộ vẫn còn đó nhưng người trong mộ đã bước ra và đang sống, không còn bị gì giam hãm nữa. Vào thời của Đức Giêsu, những người bảo vệ truyền thống luôn có khuynh hướng chống lại cái mới, ngưới ta vẫn thích giữ ngôi mộ để chôn người chết và bằng lòng như vậy. Nếu Đức Giêsu, Người không là Đấng Messia, như toàn dân mong đợi thì Người là một tay gạt gẫm, một người xúi bậy làm loạn, người ta nghi ngờ về sứ điệp của Người, cho nên đi tới sự đoạn tuyệt cuối cùng là cho Người đi vào văn hoá sự chết như con người vẫn làm cho nhau phải chết, dưới nhiều hình thức, dưới nhiều bất công, dưới nhiều thứ công lý cần được bảo vệ. Nhân danh con người để chà đạp mạng sống con người, nhân danh nền văn hoá để tiêu diệt văn hoá. Người nào tự xưng mình là Con Thiên Chúa thì phải chết, bởi vì đó là tội phạm đến Thiên Chúa. Thế mà, Đức Giêsu trong một đêm trước công nghị Hội Đường Do Thái, Người lại tự xưng mình là Con Thiên Chúa, điều này đủ điều kiện để lên án cho Người phải chết. Theo luật hiện hành, chung thẩm này cần được sự xác nhân và thi hành án của vị khâm sai La Mã. Vị Khâm Sai gửi Đức Giêsu sang cho Hêrôđê xét xử và Hêrôđê trả lại vụ xử này cho Philatô. “Ngày hôm ấy, vua Hê-rô-đê và tổng trấn Phi-la-tô bắt đầu thân thiện với nhau, chứ trước kia hai bên vẫn hiềm thù”. Tội ác theo kinh nghiệm của dân gian không đứng một mình, nó luôn là một sự cấu kết, một liên minh rất mạnh, để chống lại con người vô tội. Thời đại của chúng ta, vẫn có như vậy, vì những quyền đặc lợi của một số người, họ chấp nhận hy sinh những con người vô tội hay đẩy người vô tội vào chỗ có tội để giết. Kẻ nghèo ấy là những con người không võ trang, không có quyền bảo vệ cho chính mình, không có quyền để thay đổi hay vươn lên một lối sống, không có quyền ăn nói đòi phẩm giá cho mình, không có quyền dù chỉ là muốn được sống. Sự kiện hôm ấy Đức Giêsu bị điệu lên Philatô (Pontius Pilatus, 26 - 36), đang nắm giữ quyền hành. Ông là người bị nhân dân thù ghét, vì đã tấn công vào cộng đoàn thờ tự Giêrusalem. Ghét là thế, nhưng khi cần để loại trừ một con người vô tội, họ vẫn nhờ đến thế lực ấy để giết chết một con người. Cái thảm trạng của nên văn hoá của việc chôn người chết là ở đó, đã từng có trong lịch sử những sự chém giết lẫn nhau để giành sự sống, đã từng có trong lịch sử nhân danh nền văn hoá của mình, tự cho là một nền văn hoá cao để giết chết những nền văn hoá mà họ cho là nhược tiểu. Đã từng có trong những con người thời nay, sống trong văn hoá hiếu đạo mà giết chết chính đứa con mình khi còn là thai nhi. Cần phải có một nền văn hoá mới một nền văn hoá ra khỏi mồ để cho mọi người được có quyền sống và sống cách dồi dào. Nền văn hoá rất mới vượt mọi kinh nghiệm nhưng thật gần gũi bởi vì văn hoá ấy bắt đầu từ cuộc sống hiện tại với những đường hướng cụ thể.
26. Loan báo cho kẻ giam cầm họ được tha:
Điều gì giam cầm con người cách dai dẳng và nặng nề nhất? Đó là tội lỗi và những hậu quả của nó. Tội lỗi đã làm biến dạng những nền văn hoá, dùng văn minh sự chết để giam hãm những nền văn hoá. Thời Chúa Giêsu, có rất nhiều sự giam cầm, sự giam cầm của một chế độ hà khắc là Đế quốc Roma, sự giam cầm của những con người chịu sống dưới ách của lề luật mà các kinh sư, Luật sĩ mang cho. Quyền của dân tộc thì vào tay thống trị của Đế quốc, Quyền của người dân thì ở trong tay những kỳ lão, kinh sư và luật sỹ. Con người sống với nhau thì bị giam hãm bởi những xung khắc. Những xung khắc vì nguồn gốc của dân tộc, người Samari và người Do Thái; những xung khắc vì không cùng quan điểm với nhau, nhóm sađôc và nhóm kinh sư; những xung khắc vì ghen tỵ, hận thù, báo oán, … Có quá nhiều vòng vây của nhà tù giam hãm. Có quá nhiều đam mê để rồi tự giam hãm và thiêu đốt chính mình. Con người xô nhau, giam hảm nhau, Jean Paul Sartre thì nói : “tha nhân là hoả ngục”. Con người tự giam hãm mình và giết chết mình. Con người giam hãm nhau trong những tham vọng của mình rồi lại chính mình tự giam hãm mình trong những tham vọng.
Sự giam hãm có thể là một cơ chế chặt chẽ, có kế hoạch và chương trình hành động cụ thể của nó. Ví dụ như những cơ chế kinh tế, tài chánh và xã hội, mặc dầu do ý muốn của con người điều khiển nhưng thường hoạt động một cách gần như máy móc, làm nổi rõ tình trạng giàu có của một số người và tình trạng nghèo khổ của những người khác. Các cơ chế bị các nước mở mang thao túng và đẩy những nước kém mở mang vào chỗ ngày càng đói hơn. Sự giam hãm con người trong khía cạnh này bị bóp chẹt bởi nền tài chính thống trị.
Sự cởi trói của những cơ chế chính trị cũng là một sự cần thiết cho những người dân được tự do.
Sự sống là liên đới, nên trong tội lỗi, tội của người này cũng liên đới tới người khác. Tội lỗi thường là câu kết, thường là liên đới. Tội của một người làm lớn càng ảnh hưởng lớn.
Kinh nghiệm rất cổ xưa của Phật giáo tại Ấn Độ, đó là vòng luân hồi, luân hồi là vòng vây giam hãm con người do những hành động của con người mà phải chịu hậu quả. Upanisshads giảng giải, dục vọng khống chế tái sinh. Các hành động xuất phát từ dục vọng tạo ra các hậu quả xấu trong tương lai. Ấn Độ chủ trương ổn định trong giai cấp, giới tính của mình, chấp nhận giai cấp và các giai đoạn cuộc đời của mình. Đó là ngưỡng cửa để định hình những lựa chọn của cá nhân. Như vậy là chấp nhận ngôi nhà tù của giai cấp của cá nhân để hành động.
Thời Đức Giêsu, tại Do Thái, người ta quan niệm theo triết thuyết của Platon: “thân xác là tù giam của tâm hồn”. Con người là linh thiêng nhưng bị giam hãm trong bị thịt tù đày của thân xác.
Con đường giải thoát theo những ý niệm đó là tiêu diệt dục vọng, diệt thân.
Thật là cần thiết để Đức Giêsu công bố một sứ điệp “người bị giam cầm họ sẽ được tha”. Sứ điệp này mời gọi mọi người hãy cởi trói cho nhau, hãy tự cởi trói cho mình khỏi những điều xấu, những điều gian ác. Hãy trao tim nhưng đừng nắm giữ tim nhau, liên đới với nhau trong tình thương và ân sủng nhưng đừng liên đới với nhau để làm nên tội.
Sứ địêp của Đức Giêsu vẫn theo truyền thống là diệt dục, diệt thân nhưng hoàn toàn khác lạ. Khác lạ, bởi vì người ta không hiểu nổi một Con Thiên Chúa lại tình nguyện chui vào cái bị thịt giam hãm của thân xác này, chấp nhận những thực tại của nhân thế này, để rửa tội cho nó. Chấp nhận con đường Kenosis để tái sinh một nhân loại mới, làm cho nó hồi sinh theo lối đường mới, xây dựng một nền văn hoá mới bước vào giai đoạn Plerosis. Đó là con đường giải thoát thực sự, đó là cách thức ra khỏi mồ thật sự của văn hoá, để con người sống với nhau và mọi người đều có quyền sống như nhau. Đức Giêsu công bố sứ điệp giải thoát chính yếu ấy cho con người và gọi đó là con đường của Tin Mừng, con đường của nền văn hoá ra khỏi mồ, giải thoát khỏi sự chết.
27. Cho người mù được sáng mắt.
Có quá nhiều bóng tối, ngay cả khi sáng mắt cũng bị mù tối. Nhưng chủ yếu đó là những cám dỗ mà Đức Giêsu đã phải vượt qua trong thời kỳ Kenosis và trong trạng thái Limen (liminal state) khi vào trong hoang địa. Đó là:
Cám dỗ về bánh ăn: Một cám dỗ rất tự nhiên, con người sống cần có bánh ăn. Cám dỗ trở thành mù tối khi có người muốn chiếm hữu thật nhiều của ăn để người khác phải chết đói. Một nhân loại tiến bộ văn minh không ngừng, nhưng lại cũng là một xã hội có nhiều văn minh đưa người khác vào chỗ chết đói nhất. Bị cướp mất của ăn, con người bị đẩy vào những chỗ bán thân tồi tệ nhất để được sống. Bị cướp mất của ăn nên nhiều người chẳng còn đủ sức nữa để theo đuổi những giá trị luân lý, đạo thường. Người chiếm hữu của ăn thật nhiều thì mù mắt trước những người anh em khốn khổ, họ đi đến chỗ tước đoạt sự sống của người khác, cho dù đó là sự sống của thai nhi. Một đứa con ra đời không còn là một ân huệ nữa mà trở thành một gánh nặng phải chia sẻ để nuôi nấng. Ra khỏi mồ ở điểm này là cho con người được sáng mắt, nhìn thấy người chung quanh và nhận ra đó là ngưới anh em cũng cần được ăn, được sống. Có một thứ bánh khác quan trọng hơn, đó là bánh chân lý, bánh làm cho sống dồi dào và viên mãn. Bánh được cho không, Bánh của Lời Hằng Sống, Bánh Của Tin Mừng Phục Sinh, Hãy cầm lấy mà ăn, để được sống nền văn hoá mới “ra khỏi mồ”.
Cám dỗ về địa vị:
Từ khi con người biết tổ chức thành một cộng đồng có tổ chức là cũng từ khi con người biết tranh giành những địa vị của ngôi thứ.
Ấn Độ thì quy định giai cấp, an dân bằng cách khuyên các thứ bậc của giai cấp nỗ lực lãnh nhận trong giai cấp của mình, đừng đấu tránh, trời sinh ra thế phải chịu thế. Bộ luật Manu liệt kê rất chi tiết tất cả mọi bổn phận dành cho bốn giai cấp truyền thống. Bổn phận sống theo giai cấp (Varna) thông thường cũng bao gồm luôn bổn phận sống tuân theo các quy định và bổn phận được ấn định trong đẳng cấp (Jati). sống đạo đức có nghĩa là luôn luôn chấp hành các quy định liên quan đến giai cấp của mình, tránh không làm ô uế, danh tánh của những giai cấp khác trong xử thế hằng ngày.
Các thứ bậc phân biệt để mà Lễ cho phải lẽ, Khổng Tử dùng Lễ để dạy tôn ti trật tự, tức là phép tắc để tổ chức luân lý ở trong gia đình - xã hội và quốc gia. Địa vị của các bậc là có, nhưng để tranh giành ngôi thứ được cung kính là trở thành bậy. Bởi đó, trong đạo quân tử có phân biệt hai hạng người, một là quân tử hai là bậc tiểu nhân. Bậc quân tử nếu sống lấy phẩm đức mà trau giồi thì có ở bậc hèn trong xã hội vẫn là người quân tử. Bậc tiểu nhân nghĩa là những người đeo đuổi những điều xấu, dù có ở địa vị cao cũng là tiểu nhân. Cho nên việc học đạo của Khổng Tử là làm cho con người trở thành nhân hơn. Sự kiện vẫn là sự lệch lạc của những con người trọng địa vị hơn bất cứ điều nào. Bằng mọi cách để đạt được địa vị ấy, mờ tối trong tâm trí để mưu lược dành lấy địa vị, bất kể nhân phẩm, bất kể người anh em. Người tiểu nhân ở địa vị thấp muốn chiếm địa vị cao thì xiểm nịnh, cúi đầu vâng dạ, lấy lòng người trên. Người trên tiểu nhân thì ưa thích những lời ca ngợi, nịnh hót. loạn chiến quốc xảy ra từ ấy.
Đức Giêsu nói trong hoàn cảnh này: “Các ông tôn vinh lẫn nhau và không tìm kiếm vinh quang phát xuất từ Thiên Chúa duy nhất, thì làm sao các ông có thể tin được?”.
Địa vị có thể làm mù mắt nhiều hình thức, đó là tham vọng, để xô nhau, đẩy nhau, chà đạp nhau, đi tìm vinh quang hư nát.
Đức Giêsu đã lên tiếng nhắc nhở cho ma quỷ biết thân phận của mình trong trường hợp cám dỗ này: “Sau đó, quỷ đem Đức Giê-su lên cao, và trong giây lát, chỉ cho Người thấy tất cả các nước thiên hạ.6 Rồi nó nói với Người: "Tôi sẽ cho ông toàn quyền cai trị cùng với vinh hoa lợi lộc của các nước này, vì quyền hành ấy đã được trao cho tôi, và tôi muốn cho ai tuỳ ý.7 Vậy nếu ông bái lạy tôi, thì tất cả sẽ thuộc về ông."8 Đức Giê-su đáp lại: "Đã có lời chép rằng: Ngươi phải bái lạy Đức Chúa là Thiên Chúa của ngươi, và phải thờ phượng một mình Người mà thôi.".
Trả lại phẩm giá của mỗi con người cần được tôn trọng, là cách thức con người dùng đứng ở địa vị của mình mà cư xử với nhau cho hợp lẽ đạo trời.
Cám dỗ về quyền bính:
Địa vị đi chung với quyền hành, một thứ quyền hành theo sự xúi dục của quỷ ma là muốn làm gì thì làm: "Hắn cứu được thiên hạ, mà chẳng cứu nổi mình. Hắn là Vua Ít-ra-en! Hắn cứ xuống khỏi thập giá ngay bây giờ đi, chúng ta tin hắn liền!43 Hắn cậy vào Thiên Chúa, thì bây giờ Người cứu hắn đi, nếu quả thật Người thương hắn!”
Quyền bính theo cách suy nghĩ của con người là dùng nó để tự cứu mình còn ai chết mặc ai. Quyền bính phải phục vụ quyền lợi cá nhân trước những công ích. Sự thao túng quyền bính là mồ chôn của nhân loại, người ta dùng cả những bạo lực để trấn áp, đẩy con người vào chỗ tiêu vong.
Đức Giêsu dạy những người thực thi quyền bính là thi hành phục vụ trong yêu thương, yêu thương đến thí cả mạng sống vì người mình phục vụ. Văn hoá ra khỏi mồ chôn của nhân loại là giới răn yêu thương đó.
Sự mù tối của tâm hồn là điều đáng sợ hơn cả, sự tối tăm về linh hồn bất diệt để chỉ sống đời này mà mất ý thức về tương lai tối hậu.
28. Công bố năm hồng ân của Chúa.
Thời điểm và là khao khát của mọi đích điểm của các tôn giáo Đông phương là ngày giải thoát, ngày vượt qua lênh đênh để về một bến hạnh phúc. Vòng luân hồi thì quá dài có thể làm ngao ngán cho tương lai định mệnh, sống ăn ngay ở lành mãi thì luôn bị thiệt thòi từ nhiều phía trong hiện tại. Con người cần có một bảo đảm chắc chắn cho những nỗ lực vượt qua, bảo đảm sự chắc chắn của sự thiện mà họ cả đời đeo đuổi. Thiếu những đảm bảo này, nhân loại vẫn mãi không ngừng lênh đênh và buông thả theo dòng nước cuốn trôi.
Sứ điệp năm hồng ân của Thiên Chúa vì thế trở nên rất cần thiết cho một nhân loại lênh đênh. Sứ điệp của mọi niềm hy vọng chắc chắn sẽ đạt được ở thời chung cuộc. Chính Đức kitô đã sống lại, ra khỏi mồ để bảo đảm cho niềm hy vọng nhân loại sẽ phục sinh sau cái chết tại cuộc đời này, nếu chỉ hy vọng nơi Đức Giêsu tại trần thế này thôi, niềm tin của người Kitô hữu sẽ chết theo sự chết tự nhiên, niềm tin trở nên vô ích. Tuy nhiên, Đức Giêsu đã sống lại, Tin Mừng giải thoát được công bố, đó là thời điểm hồng ân. Thời điểm đích cuộc cho mọi niềm hy vọng nhân loại.
Có qúa nhiều cạm bẫy để chỉ dừng lại cuộc sống nơi tại thế này, những cạm bẫy của tục hoá, “nằm trọn trong một nhãn quan độc lập về con người và về thế giới, nhãn quan làm mờ nhạt chiều kích mầu nhiệm, có khi quên bẵng hay phủ nhận. Chủ nghĩa nội tại là một sự thu hẹp nhân sinh quan trọn vẹn”. Thu hẹp những giá trị nhân sinh quan trong thế giới này dẫn đến việc lo âu sự chết sẽ đến với từng người, lo âu về phía tương lai cái chết đời đời. Những bất hạnh vẫn không ngừng ray rứt con người trong những mỏng dòn yếu đuối của thân xác. Niềm hy vọng mờ nhạt, bến bờ vẫn lênh đênh, người lữ hành mất niềm tin hy vọng.
Đó là những cạm bẫy mà mọi người thời nay phần nào chịu ảnh hưởng của chủ nghĩa tục hoá. Năm công bố hồng ân của Thiên Chúa, là năm công bố sứ điệp giải thoát thật sự, chính Đức Giêsu, chúng tôi đã sống với Người, đã chịu chết, và đã sống lại. Đó là Kerigma đầu tiên các môn đệ theo Chúa đã sống và chết để xác quyết niềm tin sắt đá đó. “Đức tin bảo đảm cho những điều hy vọng, là bằng chứng cho những điều chúng ta không thấy”.
Niềm tin vào Đức Giêsu Phục sinh mà Thánh Phaolô trình bày với cộng đoàn Corintho là: “Trước hết, tôi đã truyền lại cho anh em điều mà chính tôi lãnh nhận, đó là: Đức Kitô đã chết vì tội lỗi chúng ta, đúng như lời Kinh Thánh, rồi Người được mai táng, và ngày thứ ba chỗi dậy, đúng như lới Kinh Thánh”
Đức kitô không những chỉ sống lại là bảo chứng cho sự sống lại của mọi người trong tương lai tối hậu, Người còn là sự sống lại và là sự sống. Người chính là niềm hy vọng cho mọi niềm hy vọng.
Ra khỏi mồ của Đức Giêsu mở lối cho những thực tại của các nền văn hoá, không chỉ dừng lại ở trong thế giới này, nhưng còn vươn tới trong một tương lai dài của mai hậu, những nỗ lực kiến tạo trong chân thiện mỹ sẽ còn mãi và là những viên gạch dựng xây vào trong sự Bền Vững mai sau, viên đá góc tường đã được đặt là Đức Kitô. Người đã chiến thắng sự dữ cuối cùng của nó là sự chết. Không có một thay đổi nào được nữa. Điều ấy đã trở nên chắc chắn, Vì Người đã ra khỏi mồ.
29. Làm sao để chân lý sự sống này thành hiện thực. Những con số thống kê cho thấy, người Kitô giáo chỉ chiếm con số 8%, những người sống sát thực với niềm tin lại càng nhỏ hơn. Đức kitô cần nhiều chứng từ hơn nơi những người Kitô hữu, Đức kitô cần nhiều hơn nơi những con người Kitô hữu ấy sống những giá trị văn hoá tại quê hương mình và làm chứng cho Đức Kitô trong môi trường văn hoá ấy. Chắc chắn là cần nhiều nỗ lực, sự đóng góp từ nhiều phía, những người chuyên môn, những người nhiệt thành hiểu biết, những Kitô hữu biết tôn trọng các giá trị văn hoá sẵn có. Văn hoá ấy giống như nghĩa cử của Ông GiôXếp: “Sau đó, ông Giô-xếp, người A-ri-ma-thê, xin ông Phi-la-tô cho phép hạ thi hài Đức Giê-su xuống. Ông Giô-xếp này là một môn đệ theo Đức Giê-su, nhưng cách kín đáo, vì sợ người Do-thái. Ông Phi-la-tô chấp thuận. Vậy, ông Giô-xếp đến hạ thi hài Người xuống.39 Ông Ni-cô-đê-mô cũng đến. Ông này trước kia đã tới gặp Đức Giê-su ban đêm. Ông mang theo chừng một trăm cân mộc dược trộn với trầm hương.40 Các ông lãnh thi hài Đức Giê-su, lấy băng vải tẩm thuốc thơm mà quấn, theo tục lệ chôn cất của người Do-thái.41 Nơi Đức Giê-su bị đóng đinh có một thửa vườn, và trong vườn, có một ngôi mộ còn mới, chưa chôn cất ai.42 Vì hôm ấy là ngày áp lễ của người Do-thái, mà ngôi mộ lại gần bên, nên các ông mai táng Đức Giê-su ở đó.”
Đức Giêsu cần có một địa chỉ rõ ràng đón tiếp Người cách quảng đại, để việc Người sống lại ra khỏi mồ, làm tươi sáng lại nguồn văn hoá các dân tộc. Phục Sinh khởi đi từ những gì có, để làm mới lại tất cả, trong Đức Giêsu Kitô.
30. Trong những nỗ lực riêng tại Giáo Xứ Tân Hoà, Mùa Chay này Giáo xứ cũng cố gắng triển khai phần nào sắc thái văn hoá dân tộc, để Đức Giêsu làm mới lại những gì cần Phục Sinh.
Lược Đồ Mùa Chay - Phục Sinh 2003.
Chủ Đề : “Đức Giê-su phải trỗi dậy từ cõi chết” (Ga 20, 9)
Thứ Tư Lễ Tro: Khởi điểm của văn hoá: Chôn người chết - Bụi tro linh thiêng.
Mt 6, 1-6, 16 - 18.
Chúa Nhật Thứ I Mùa Chay: Kenosis: Canh tân và sám hối - Nước Trời gần bên.
Mc 1, 12 - 15
Thứ Hai: Truyền thống chôn xác người chết - Mt 25, 31 - 46.
Thứ Ba: Văn hoá từ truyền thống - Mc 6, 7 - 15.
Thứ Tư: Truyền thống bỏ tro của người Do Thái - bỏ đất lên đầu trong ngày an táng. Lc 11, 29 - 32
Thứ Năm: Ý Nghĩa truyền thống bỏ tro - Ngậm vành cắn cỏ. - Mt 7, 7 - 12.
Thứ Sáu: Tro bụi ăn năn - Mt 5, 20 - 26.
Thứ Bảy: Loài tro bụi Chúa thương - Xác đất vật hèn Chúa đoái nhìn. Mt 5, 43 -48.
Chúa Nhật II Mùa Chay: Hiển Dung - Kenosis - Truyền thống Kenosis văn hoá Việt.
Thứ Hai: Vài nét Truyền thống Kenosis văn hoá Thái- Lc 6,36-38
Thứ Ba: Vài nét Truyền thống Kenosis Ấn Độ - Mt 23,1-12
Thứ Tư: Lễ thánh Giuse:Thinh lặng là một trạng thái Kenosis văn hóa Đông phương -Lc 2,41-51a
Thứ Năm: Kenosis trong văn hóa thờ kính tổ tiên - Lc 16,19-31
Thứ Sáu: Kenosis trong văn hóa lễ hội - Mt 21,33-43
Thứ Bảy: Kenosis trong các nghi thức tôn giáo - Lc 15,1-3.11-32
Chúa Nhật III mùa chay:Truyền thống văn hóa và đức tin - Ga 4,5-42
Thứ Hai: Văn hóa biểu lộ đức tin - Lc 4,24-30
Thứ Ba: Lễ truyền tin: Đức tin biểu lộ văn hóa - Lc 1,26-38
Thứ Tư: Từ đạo ông bà đến kinh nghiệm siêu nhiên - Mt 5,17-19
Thứ Năm: Từ đạo ông bà đến việc tổ chức xã hội - Lc 11,14-23
Thứ Sáu: Xã hội truyền thống-huyết thống - Mc 12,28b-34
Thứ Bảy: Xã hội truyền thống-làng xóm - Lc 18,9-14
Chúa Nhật IV mùa chay:Thiên Chúa luôn tha thứ - Văn hoá hiếu hoà của người việt - Ga 9,1-41
Thứ Hai: Hài hòa với thiên nhiên-Ga9,1-41
Thứ Ba: Hài hòa với tha nhân-Ga 5,17-30
Thứ Tư: lòng hiếu khách của dân việt-Ga 5,17-30
Thứ Năm:tình làng nghĩa xóm-Ga 5,31-47
Thứ Sáu: Vào sổ làng-Ga 7,55-30
Thứ Bảy: Tang chế theo người việt-Ga7,40-53
Chúa Nhật V mùa chay:gia đình người việt-Ga11,1-45
Thứ Hai:Tam Đại đồng đường - Ga 11,1-45
Thứ Ba: Bàn thờ gia tiên - Ga 8,21-30
Thứ Tư: Ngày Kỵ - giỗ - Ga 8,31-42
Thứ Năm: Gia phả-Ga 8,51-59
Thứ Sáu:Từ đường - Ga 10,31-42
Thứ Bảy: Đất hương hỏa - Ga 11,45-56.
Chúa Nhật Lễ Lá: Tử Nạn - Phục Sinh - Văn hoá chôn người chết - Văn hoá ra khỏi mồ. Mc 15, 1 - 39.
Thứ Hai: Văn hoá chôn người chết - Ga 12, 1-11.
Thứ Ba: Văn hoá ra khỏi mồ - Ga 13, 21 -33. 36-38.
Thứ Tư: Sứ điệp ngày cứu thoát - Giải thoát theo các tôn giáo truyền thống -Mt 26, 14 - 25.
Thứ Năm tuần thánh: Bí Tích Thánh Thể - Bữa ăn trong gia đình - Lc 4, 16 - 21.
Thứ Sáu Tuần Thánh: Cuộc thương khó - Những đau khổ và hy vọng của người công chính. Ga 18, 1 - 19, 42.
Thứ Bảy Tuần Thánh: Ngày thinh lặng - Kinh nghiệm Kenosis của từng cá nhân.
Chúa Nhật Phục Sinh: Tin Mừng Cứu Độ. Ra khỏi mồ - Địa chỉ của văn hoá.
Chúa Nhật II Phục Sinh: Cánh chung nhìn với khía cạnh văn hoá
Chúa Nhật III Phục Sinh: Ra Khỏi mồ - Đừng sợ - vững bước cùng với Đức Kitô.
Chúa Nhật IV Phục Sinh: Mục tử nhân lành - Quyền bính để thực hành yêu thương.
Chúa Nhật V Phục Sinh: Liên đới trong ân sủng - Văn hoá là kết quả của sự liên đới.
Chúa Nhật VI Phục Sinh: Thầy chọn anh em - Chính Nơi đây chúng ta được kêu gọi.
Chúa Nhật Thăng Thiên: Lên Trời - Cuộc trở về - niềm vui hạnh ngộ.
Văn hoá ra khỏi mồ cuối cùng là một nền văn hoá khai sáng từ nơi Đức Giêsu, Người đã sống lại, bước ra khỏi mồ. Đừng thương khóc ngôi mộ trống nữa, hãy vui mừng và hy vọng nơi Người, Người đang sống và đã sống lại từ cõi chết. Niềm tin ấy mở hướng đích điểm cho cánh chung của mọi nền văn hoá.
Tin Mừng của sự sống làm sao để rao giảng cách hữu hiệu nhất cho những người đương thời, đó là những băn khoăn trong khi hành trình về phía trước.
Tân Hoà, Thánh Mẫu Điện.
Mùa Chay 2003.