Chúa Nhật XXIII Thường Niên – Năm B (Isaiah 35: 4-7; Psalm 146; James 2: 1-5; Mark 7: 31-37)

Đối với những ai đã bị trừ tiệt và xua đuổi khỏi ngôi nhà thân thương của họ, thế giới đối với họ dường như đã kết thúc. Trong thế kỷ qua, nhiều người đã bị chiếm đoạt nơi cư ngụ hơn bất cứ lúc nào hết trong lịch sử. Thế kỷ đó cũng đã diễn ra nhiều cuộc chiến, những vụ diệt chủng và những ngược đãi hành hạ trên một qui mô chưa từng có. Chúng ta có thể có những lời an ủi gì cho những nạn nhân này? Chúng ta có thể làm gì để lắng dịu những đau thương trong tâm tư họ?

Vào thế kỷ thứ sáu trước Chúa gíang sinh, dân Israel đã trải qua sự tàn phá quốc gia của họ và bị lưu đày ở Babylon. Sau khi gánh chịu những đau đớn tinh thần và thể xác của sự thất bại và bị trục xuất, giờ đây họ cư trú nơi vùng đất hoàn toàn xa là một khoảng cách thăm thẳm nơi đất mẹ Israel và Đền thờ Thiên Chúa. Những nỗi đau khủng khiếp của họ là sự sợ hãi mà đã gặm nhấm triền miên trong tâm hồn và linh hồn họ - sợ hãi cho cuộc sống của họ, sự sợ hãi trong tương lai mù mịt, và sợ hãi vì tôn giáo bị kìm hãm và lối sống. Thông điệp này đã đưa đến các tiên tri và một nhóm môn đệ của Người là, rằng họ có một sự vụ thiêng liêng: củng cố và cổ vũ sự yếu đuối và sợ hãi. Họ phải phục hồi niềm tin dân chúng mà Thiên Chúa đã không quên và bỏ rơi họ.. Trong thực tế, thiên chúa đang trên đường của Người để cứu vớt họ.

Những ần dụ thường được dùng để miêu tả sự trải nghiệm của họ: họ mù, điếc, câm, tàn tật, nói ngọng. Nhưng sự hiện diện của Thiên chúa sẽ đem họ trở lại với cuộc đời. Họ sẽ biết hy vọng và hân hoan và có thể hình dung một tương lai cho chính họ và dân tộc họ. Mục đích chính về sự chữa lành bệnh của Thiên Chúa là khả năng sáng tạo dành riêng thuộc cộng đồng Israel. Bạo lực, sự phân hủy kinh tế, công lý và mất đi những sự kiện quan trọng. Tất cả tăng thêm đến những mức độ nguy hại của sự sợ hãi và thất vọng trong thời đại chúng ta. Người ta cần được nghe một cách thật rõ ràng rằng không còn phải phiêu bạt và cô đơn trong vũ trụ. Thiên chúa ở cùng chúng ta – không giúp đỡ tiền bạc, nhưng dẫn dắt chúng ta, chỉ lối cho chúng ta. Chắc chắn chúng ta có một tương lai, nhưng tương lai của Thiên Chúa hơn tương lai của con người mà chúng ta tưởng tượng.

Thể hiện cách cư xử thiên vị đối với người giáu có và quyền thế đã có một lịch sử lâu đời trong giáo hội và vẫn đáng buồn với thành phần tối tăm, dốt nát tập thễ của chúng ta. Chúa Giê-su đã dạy rằng tất cả đều có giá trị bình đẳng trong ánh mắt của Thiên Chúa và còn để lại trong Tân Ước tiếp tục được giảng dạy bởi sự quả quyết rằng Thiên Chúa công bằng và không phải là một “người tôn trọng cá nhân.” Không ai thuộc về giá trị cao hơn hoặc thấp hơn trong cộng đồng. Nhưng trong một số nền văn hóa và giáo hội những tín đồ đôi khi đã bị phân chia hoạc đối xử phân biệt trái ngược với căn bản chủng tộc, đẳng cấp và vị trí xã hội. Trong nhiều nhà thờ nó được biết rằng những chiếc ghế nào đó dành cho những ai quan trọng và chỗ đứng cao hơn. Và những người giàu có quyền thế luôn có thể kéo dài thêm một vài chuỗi tràng hạt và cố gắng thêm sự thuyết phục. Không biết trong một giáo xứ, giáo đoàn hoặc bất kỳ một cộng đồng tôn giáo nào khác có hay không. Nhưng tác giả James nghiêm khắc: khi chúng ta tỏ ra bất công và thiên vị, chúng ta thể hiện sự thiếu thốn sâu sắc về niềm tin nơi chúa Ki-tô. Thiên Chúa đã đề cao tất cả mọi người - nhất là người nghèo và bị đặt bên lề xã hội – tới một mức độ bằng nhau. Khi chúng ta khẳng định những kiểu thiên vị, đặc quyền hoặc biệt đãi cổ hủ là chúng ta là chúng ta hành động ngược lại việc làm của Thiên Chúa.

Tất cả những ai đó đau khổ vì câm và điếc, tại sao là người này và một cặp bẩm sinh khác nhau lại được chữa lành bởi bàn tay của Chúa Giê-su? Và điều gì đã chữa lành bệnh này nên khác với nhiều người được chũa trị bởi những bàn tay của nhóm chữa bệnh chuyên nghiệp đi quanh co Địa Trung Hải cổ đại chăng? Khi Chúa Giê-su thực hiện phép lạ chẳng hạn như chữa lành bệnh và xua đuổi ma quỉ điều đó sâu xa hơn nhiều một hành động thương cảm hướng về sự đau khổ cá nhân. Đó là một tuyên ngôn và là tiếng vang phát biểu rằng Vương quốc hoặc Vương quyền của Thiên Chúa đã đến. Sự hiện diện của Thiên Chúa đưa mang lại kết quả trong đời sống, sự nguyên vẹn, lành lặn hơn là sự cùng khổ hay hủy diệt.

Người trong câu chuyện của Tin Mừng đã được giải thoát từ những điều kiện mà đã trói buộc và giới hạn anh ta. Trong một phương thức tương tự, thiên chúa đã nói đến tự do và chữa lành chúng ta – không phải trong ý nghỉa vật chất tường minh, mà luôn luôn một cách chắc chắn trong những sâu thẳm của trái tim và linh hồn. Tạo sự hiện diện của Thiên Chúa cho tha nhân là một sứ vụ thiêng liêng và điều đó không cho phép lẫn lộn với cái tôi và sự ích kỷ. Khi chúng ta đòi hỏi rao giảng lời Chúa và thực hiện công việc của Chúa, chúng ta nên luôn nhìn xung quanh và tự vấn lương tâm nếu mọi người đạt tự do, hạnh phúc và tràn đầy hy vọng hơn trước.

(Nguồn: Regis College – The School of Theology)