Có lần tôi đã cuốc bộ 500 dặm để tham dự một buổi phụng vụ tại nhà thờ. Mặc dù tôi không hề là loại người khỏe khoắn có thể đương đầu với một hành trình dài và vất vả đến thế, nhưng thành tích thể lý của tôi không phải là khía cạnh đáng ngạc nhiên nhất của biến cố này. Cũng không phải là sự kiện tôi, một mục sư Mennonite, lại đi hành hương, một tập quán thường chỉ liên hệ tới các giáo hội khác. Cũng không phải là sự kiện con đường hành hương Thánh Giacôbê của Tây Ban Nha mỗi ngày một nổi tiếng hơn, với hàng chục ngàn người lữ khách lên đường hàng năm. Cũng không phải vì nhiều người, nếu không muốn nói là đại đa số những khách hành hương này chẳng tuyên xưng bất cứ niềm tin tôn giáo hay hệ phái nào. Không, không phải thế; khía cạnh đáng ngạc nhiên nhất của chuyến lữ hành này là cách thế những nhà hành hương thế tục này khiến tôi nghĩ về Thiên Chúa.

Vấn đề thần học thường hay được đề cập tới, nhưng một cách khá bất ngờ. Thoạt đầu, tôi tưởng sẽ có những cuộc thảo luận dài dòng với các khách hành hương khác về Thiên Chúa, nhưng thực ra, những cuộc thảo luận như thế rất ít. Ngày đầu tiên, tôi gặp Jean-Louis, một kỹ sư hồi hưu người Pháp, hơn tôi đến 2 chục tuổi. Ông đã cuốc bộ 500 dặm để tới chỗ tôi mới bắt đầu, và hai gót chân xưng tấy của ông cho thấy rõ điều ấy. Ông lịch sự dò hỏi nghề nghiệp của tôi. Khi nghe giải thích tôi dạy thần học, ông bèn chẳng thèm lịch sự chút nào quay phắt đầu đi và buông ra một tiếng thở dài đầy khinh mạn “Phù!”. Agnes, một người Đức, tình nguyện giúp tôi tìm một bệnh viện khi vết giộp to bằng ổ bánh mì nhỏ của tôi rướm máu buộc phải được cấp cứu và cấp cứu ngay. Khi đang ngồi truyện trò với nhau ở phòng đợi, cô ta rất đỗi ngạc nhiên khi biết nghề nghiệp của tôi: “ông muốn nói ông là một linh mục?” Đối với tôi, cả hai người này đều có vẻ không đạo hạnh bao nhiêu, nhưng Jean-Louis và Agnes đều là người Công Giáo La Mã. Trong số tín hữu thuộc mọi hệ phái tôi gặp, người Công Giáo là đông nhất. Tôi không gặp ai thuộc giáo hội Mennonite cả. Điều ấy không có gì đáng ngạc nhiên, vì con đường hành hương này, từng nổi tiếng từ thời Trung Cổ, vốn liên hệ mật thiết với các truyền thống thuộc Giáo Hội Công Giáo La Mã. Thế nhưng, nhiều khách hành hương cho tôi hay đức tin của họ chỉ có tên, chứ không có thực. Francois, một người Pháp với khả năng ngáy khò đáng nể, cho hay anh ta “chỉ Công Giáo chút ít thôi”. Rosa, một người bán sách người Tây Ban Nha, cho mình là người Công Giáo, nhưng không đi nhà thờ. Vio, cũng người Tây Ban Nha, phục vụ tại một cộng đồng có những người lớn mắc bệnh tâm thần, hay nói về lòng tôn sùng của mình đối với Chúa Giêsu, nhưng cô ít khi lui tới với các chức sắc hay các định chế trong đạo. Tuy nhiên, nhiều người là những người Công Giáo đạo hạnh, như Thầy Paul, một đan sĩ người Hoà Lan, Cindy, một y tá quê ở Ohio, và Hisako, một nhà giải phẫu người Nhật. Tôi rất muốn so sánh các ghi chú với tất cả những người thánh thiện này.

Người tôn giáo, người tâm linh và người khác

Đường hành hương Camino
Trên con đường hành hương Thánh Giacôbê này, người ta có thói quen mang theo một “thông hành” đặc biệt. Thứ căn cước này chứng nhận bạn là một người hành hương, cho phép bạn tạm trú tại các nhà trọ và nếu chịu đóng dấu hàng ngày, còn giúp bạn đủ điều kiện để lãnh nhận một giấy chứng chỉ rất đáng thèm muốn từ Nhà Thờ Chính Tòa Santiago nằm ở cuối cuộc hành trình. Muốn có loại thông hành này, khách hành hương thường được yêu cầu cho biết động lực khiến họ tham dự cuộc hành hương đường trường này, hoặc là “tôn giáo”, “tâm linh” hay một động lực “khác”. Khách hành hương nào lên đường để cầu nguyện và thống hối tất nhiên thuộc loại “tôn giáo”. Tôi vững bụng cho mình thuộc loại này. “Tâm linh” có hơi mơ hồ hơn, tuy kém tính truyền thống nhưng chắc chắn hơn loại duy tục. Nhiều người thuộc loại “tâm linh” này cho tôi hay họ “tâm linh chứ không tôn giáo”. Còn những người thuộc loại “khác” phần lớn chỉ thích được cuốc bộ đường dài, mong có được một kỳ nghỉ rẻ tiền, hay lang thang cho hết thì giờ. Đó là một nhóm hỗn tạp với đủ mọi thứ động lực và cá tính, hệt như các nhân vật trong “Câu truyện Canterbury” của Chaucer.

Nhóm “tâm linh” và nhóm “khác” làm tôi thích thú và quan tâm hơn cả, một phần vì họ nêu lên những câu hỏi khá bất ngờ, nhưng nhất là vì qua họ, tôi nghe thấy tiếng Chúa. Họ là những người chắc chắn nhất chỉ cho tôi hướng về Thiên Chúa trong cuộc hành trình của mình.

Ngay những người hành hương tuyên bố là mình lên đường vì những lý do hoàn toàn phàm tục đôi khi cũng nói về con đường hành hương Thánh Giacôbê này như thể nó là một thực tại thần linh. Trùng hợp và đồng bộ thường phát sinh ra câu nói quen thuộc “thì, đường hành hương Thánh Giacôbê mà lị!”. Nhiều người còn gán cho nó nhiều phẩm tính nhân bản: “đường hành hương Thánh Giacôbê sẽ dạy bạn điều bạn muốn biết”. Khi có ai đó tự hỏi xem có nên đi lần nữa hay không, tuy có người bảo không, nhưng không thiếu người tới lui con đường này nhiều lần mà vẫn bảo: “Chưa đâu, đường hành hương Thánh Giacôbê chưa chán tôi đâu”.

Quả là khó hiểu khi cả những người tuyên bố không tin Thiên Chúa nhưng lại một cách huyền nhiệm gán sức mạnh thần thiêng cho con đường giản đơn đầy cát bụi. Chỉ có thể hiểu đó là những dấu hiệu sinh động của hoài mong tôn giáo còn đang âm ỉ dọc dài suốt nền văn hóa hiện đại.

Con đường hành hương Thánh Giacôbê hành động

Simon là người không thuộc tôn giáo và tín ngưỡng nào. Là một sinh viên kiến trúc Thụy Sĩ tuổi chừng đôi mươi, anh đang ở giữa hai lục cá nguyệt, nên nổi hứng quyết định cuốc bộ trên đường hành hương Thánh Giacôbê. Anh vẫn thích cuốc bộ đường dài và sống với chiếc balô duy nhất trên lưng. Ấy thế nhưng đi đến đâu, anh ta cũng được nhắc nhớ đến Thiên Chúa; càng tới gần Santiago, anh ta càng khởi dẫn các cuộc đàm thoại về đức tin. Anh rất đỗi ngạc nhiên khám phá ra cả một chiều kích tâm linh dọc con đường cát bụi. Những khai triển như thế không hiếm. Một khách hành hương vô danh trước tôi từng viết: “Tôi không lên đường với ý định làm một hành trình tâm linh hay tôn giáo, nhưng kết cục lại đã xẩy ra như thế, tình cờ chăng? Tôi không biết… Có thể là đường hành hương Thánh Giacôbê đã hành động”.

Con đường này quả nhanh chóng nổi tiếng đến ngạc nhiên. Năm 1986, con số khách hành hương chính thức chỉ là 2,491 người; 10 năm sau, con số ấy nhẩy vọt lên tới 23,218 người. Năm tôi tham gia (2005), có tất cả 94,942 người. Nhưng năm 2004, là Năm Thánh Santiago, có đến 179,944 người sánh bước trên con đường này.

Đường hành hương Thánh Giacôbê quả là một tập chú của hoài mong tôn giáo và tâm linh. Nó lôi cuốn đủ loại khách hành hương muốn đi tìm “một điều gì hơn thế” dù họ là những người tuyên xưng những quan điểm tín lý chẳng hợp quy ước chút nào. Rachel, một cựu nữ tu, cho tôi hay bà không thuộc bất cứ hệ phái Kitô Giáo nào nữa. Bà đã bác bỏ thần tính duy nhất của Chúa Giêsu vì “tất cả chúng ta đều là Thiên Chúa”. Nhiều người đồng hành với tôi bảo tôi rằng họ “đứng ngoài giáo hội”, có khi còn “chống lại giáo hội” nữa. Ấy thế nhưng, họ vẫn có mặt ở đây, tham dự cuộc hành hương vốn dựa trên truyền thống Kitô Giáo và được các giáo hội hỗ trợ và cổ vũ này.

Nhiều người ngày nay tin rằng một số nơi chốn có được những năng lực phi thường, như cộng đồng Tân Đại quanh Sedona, Arizona. Tại các Quần Đảo Anh, Glastonbury và Iona lôi cuốn nhiều đám đông vì nó có liên hệ với quá khứ Celtic xa xưa. Trong thuật ngữ của niềm tin Tân Đại, những nơi chốn đó khá “mỏng” vì đường phân cách giữa các thực tại trần thế và tâm linh khá nhỏ nhoi. Người ta gặp gỡ Thiên Chúa trên đất.

Thực tại trọng tâm

Triết gia Albert Borgmann có đề cập tới các “thực tại trọng tâm” (focal realities), tức một sự vật, một nơi chốn hay một tập tục được ba đặc tính sau đây lên khuôn. Thực tại này có được “một hiện diện đường bệ” đòi người ta phải cố gắng, có kỷ luật, kỹ năng. Thứ hai, nó làm ta nối kết rộng rãi với người khác và cả với lịch sử, với thiên nhiên và với Thiên Chúa. Và thứ ba, nó phát sinh một sức mạnh “quy tâm” hay “điều hướng” giúp ta nhận ra các ưu tiên quan trọng nhất của ta.

Đường hành hương Thánh Giacôbê quả là một thực tại trọng tâm theo cả ba nghĩa trên. Thứ nhất, người ta chỉ có thể dấn thân vào nó bằng cách cuốc bộ cả hàng trăm dặm, bắp thịt mỏi rời và chuyển dịch theo một nhịp độ không quen thuộc. Thứ hai, nó nối kết khách hành hương với những người hành hương khác trong quá khứ cũng như trong hiện tại, với Tây Ban Nha và Đạo Công Giáo của nước này; với những người ân cần tiếp đãi dọc đường; và dĩ nhiên, với địa dư của núi đồi, cây rừng. Sau cùng, đường hành hương Thánh Giacôbê là nơi mọi ưu tiên của ta thường được tái sắp xếp.

Một thời trù phú, những chốn trọng tâm như các nhà thờ chính tòa hay những khoảng rừng hoang mênh mông mau chóng bị lối sống quanh quẩn bên kỹ thuật và máy móc thay thế. Nhà văn John Howard Kunstler nói tới thứ “địa dư không nơi chốn” (geography of nowhere) còn Georges Benko thì nói tới những nơi “không nơi”(non-places) để mô tả những địa điểm bị “thống trị” bởi những dẫy phố buôn bán lẻ, các trung tâm mua sắm vĩ đại, các đại thương xá và các siêu xa lộ. Các nơi chốn trọng tâm càng trở nên hiếm, thì sức lôi cuốn của chúng càng thúc bách hơn. Theo Borgmann, khi cuộc hiện sinh tỏ ra nông cạn, thì các nơi chốn trọng tâm có thể “quy tâm và soi sáng cho cuộc sống ta”. Chúng thúc đẩy, dạy dỗ, gây hứng và làm ta an tâm. “Thực tại trọng tâm hội tụ và soi sáng thế giới của ta”, ông viết như thế. Cuộc đời nào có thực tại trọng tâm làm trung tâm sẽ tương phản với nhiều khía cạnh trong cuộc sống ta hôm nay, những khía cạnh “dẫn tới một thứ đời sống không nối kết, không nhập thân, không định hướng”

Ta biết ta đang thiếu một cái gì. Nhà thần học Eugene Peterson cho biết: “sự diệu kỳ đã lẻn ra khỏi” cuộc sống ta. Ta cảm nhận có cái gì vội vã trong nền văn hóa của mình; và ta than phiền là mình đang quá bận bịu, không đủ thì giờ làm những việc mình vốn ưa thích…

Không phải là tình cờ khi, vì ta làm việc quá sức như thế, mà nền văn hóa của ta ngày một chú ý tới tâm linh hơn. Chứng cớ thì có nhiều. Lúc tôi còn học trong chủng viện hồi đầu thập niên 1980, tôi từng muốn viết về “cầu nguyện và kiến tạo hòa bình”, nhưng chỉ có hai giảng khóa về cầu nguyện. Nay, tôi đang dạy tại trường đó, nơi người ta có thể lấy văn bằng cử nhân về tâm linh. Hẳn bạn từng để ý tới nhiều kệ sách về linh đạo trong cả các tiệm sách đời. Nhiều chương trình truyền hình cũng như phim ảnh đang bàn tới thiên đàng, hỏa ngục, thiên thần, ác qủy, chữa lành và Thiên Chúa. Nền văn hóa nhằm khuây khỏa, cùng với việc vắng bóng các nơi chốn trọng tâm, đã kích thích quan tâm của người ta. Lòng hoài mong “một điều gì hơn thế”, hay cảm thức phải có một phương cách tốt hơn đang thúc đẩy các cá nhân lên đường tìm kiếm tâm linh.

Những trái tim bồn chồn bất an

Quan tâm tới tâm linh phản ảnh các hoài mong quen thuộc: muốn được ở trong nhà mình, được trọn vẹn, được hòa nhập, được quy về một mối. Kitô hữu coi hoài mong ấy là việc họ cần tới Thiên Chúa. Như Thánh Augustinô đã viết trong lời cầu nguyện thời danh của ngài: “Lạy Chúa, Chúa đã dựng nên chúng con cho Chúa, và trái tim chúng con sẽ mãi mãi bồn chồn bất an cho tới khi nó được nghỉ ngơi trong Chúa”. Có nhiều cách khác để hiểu và giải thích lòng hoài mong bẩm sinh đối với Thiên Chúa. Ấy thế nhưng, các giải thích tâm lý hay sinh học ngay cả văn hóa nữa cũng không hoàn toàn thuyết phục được ta, cho dù chúng đưa lại thật nhiều cái nhìn thông sáng quan trọng. Như Thánh Augustinô đã gợi ý, các thèm khát sâu xa nhất của ta hướng về Đấng đã dựng nên ta.

Đường hành hương Thánh Giacôbê không phải chỉ là nơi người ta cảm thấy Thiên Chúa lôi kéo họ. Nó còn là địa điểm của ơn trở lại, của ơn biến đổi. Chúa Giêsu từng phán: “cứ xem họ sinh hoa quả nào, thì biết họ là ai” (Mt 7:16); nếu thực tại thần linh có thật, thì ta có quyền chờ mong thực tại ấy sẽ sản sinh ra các thực tại cụ thể, ngay ở đây và ngay lúc này.

Các bạn cùng hành hương với tôi và tôi thường hay thảo luận với nhau xem điều gì đang thiếu hay đang không có trong đời sống mình. Chúng tôi đặt ra những câu hỏi về lối sống, về công việc và các mối liên hệ và cương quyết sẽ sống khác khi trở về nhà. Chúng tôi bàn luận tới việc nhận ra ơn gọi. Một cuộc cuốc bộ dài 500 dặm với thật nhiều khoảnh khắc cô tịch dĩ nhiên phải phát sinh ra những giây phút tìm hồn như thế.

Marcus, người Hòa Lan, tỏ ra buồn vì anh vốn nghĩ công việc của anh phục vụ người khác, mà thực ra phần lớn thì giờ của anh dành cho việc giải quyết các hủ tục hành chánh. Susanne, người Áo, dự tính sẽ tìm một việc làm mới giúp chị sống gần gia đình và bạn bè hơn. Hendrika, người Bỉ, thấy việc làm của cô hiện nay chẳng đóng góp được gì cho phúc lợi quảng đại quần chúng. Đường hành hương Thánh Giacôbê quả đã trở thành bối cảnh để người ta cân nhắc các ưu tiên. Không lạ gì khi được tin các bạn cùng hành hương đã thực hiện nhiều thay đổi đáng nể sau thời kỳ hành hương.

Raul, một công nhân nhà máy người Tây Ban Nha, đã lấy một tháng nghỉ để cuốc bộ trên đường hành hương Thánh Giacôbê. Có một điều gì đó trong cuộc hành hương này đã làm anh chú ý. Anh bèn bỏ việc, mua một ngôi nhà cũ bằng đá ngay trên đường hành hương Thánh Giacôbê và bắt đầu tái trang bị nó thành nhà tiếp đãi khách hành hương. Veronika, một người Đức, một ngày kia, khi đang đi ngang qua một thung lũng hẻo lánh trên đường hành hương Thánh Giacôbê, bỗng nghe thấy một tiếng sáo phát ra từ một nhà trọ gần đó. Thế là cô tới đặt túi lưng của mình xuống đó và không bao giờ rời nơi ấy nữa. Hiện nay, cô đang chăm sóc cho các khách hành hương qua đó. Lúc Jon trở lại Mỹ, anh về hưu sớm để dành thì giờ cho nghệ thuật. Mỗi người trên đây đều điển hình cho lòng can đảm và sự sáng suốt rất có thể do đường hành hương Thánh Giacôbê soi dẫn. Lòng can đảm của họ gợi hứng cho tôi xem sét cẩn thận chính cuộc sống mình.

Tôi được nuôi dưỡng trong cộng đồng giáo hội, được thụ phong sau thời gian tu học tại chủng viện, phục vụ nhiều năm trong tư cách mục sư và nay giảng dạy tại một chủng viện. Lúc lên đường tham dự cuộc hành hương có tính truyền thống này, tôi không thể nào ngờ Thiên Chúa lại nói một cách phi quy ước đến thế. Tôi đã khám phá ra một Thiên Chúa hành động quá bên kia gạch vữa của các định chế, trong những con người ít đi nhà thờ hơn tôi nhiều. Dọc đường hành hương Thánh Giacôbê, tôi đã gặp được bằng chứng đầy thuyết phục về Thiên Chúa mà tôi chưa thấy đã từ rất lâu. Điều ấy chắc chắn đáng để tôi bị một vài vết giộp ở chân.

Phóng dịch bài của Arthur Paul Boers, The America, số ngày 2 tháng Ba năm 2009