Chúa Nhật XVIII Thường Niên – Năm B (Exodus 16: 2-4, 12-15, 31; Psalm 78; Ephesians 4: 17, 20-24; John 5: 24-35)

Người ta thường lý tưởng hóa quá khứ và quên những tranh đấu đau buồn cùng những quá khứ mà họ đã trải qua. Những việc làm đã qua hoặc những điều kiện cuộc sống trở thành nguồn nuối tiếc quá khứ và khao khát, thèm muốn khi chúng ta đối diện trước những khó khăn và phấn đấu của hiện tại. Trong những năm sau những thay đổi quan trọng của năm 1989, nhiều dáng vẻ nuối tiếc nhìn lại giai đoạn cai trị của chủ nghĩa cộng sản. Những sự việc đều “tốt hơn” một cách phồn thịnh và đã có “luật pháp và trật tự.” Sự kinh hoàng và thiếu tự do đã đi vào quên lãng.

Ngày nay cũng có rất nhiều người ao ước, mong mỏi một hình ảnh huyền ảo và lãng mạn của giáo hội thời tiền Công Đồng Vatican II. Nhưng những ngày xưa thân ái không bao giờ còn là những ngày xưa thân ái.

Dân Do Thái xưa đã quên vết hằn roi da và những nhục nhã mất phẩm giá mà họ đã trải qua trong lúc họ phải làm nô lệ cho người Ai Cập. Phải đối diện trước những điều không hay, không biết và sự thiếu thốn của ăn, thức uống trước mắt, họ trách mắng Moses và muốn trở lại đất nước Ai Cập. Cuối cùng, họ nói, chúng ta đã no đủ. Mọi việc đều an toàn và có thể dự đoán. Chúng ta đã có chỗ. Chim cút và Manna được Thiên Chúa ban phát mang ý nghĩa như một dấu chỉ và bằng chứng mà Thiên Chúa không bỏ rơi họ và rằng Người sẽ chăm sóc họ. Rõ ràng họ cần những điều nhắc nhở kiên định đó giống như hầu hết mọi người.

Tuy nhiên câu chuyện đã bộc lộ, nó trở nên hiển nhiên một cách đáng buồn mà thậm chí những món quà liên tục tiếp nối của sự sống tự nó sẽ không để duy trì niềm tin của họ một cách vững vàng không dao động, Người ta đã vội vàng quên rằng Thiên Chúa là nguồn nuôi dưỡng sự sống và luôn luôn ở cùng chúng ta. Khi người ta gặp những đe dọa hãi hung và mất đi lòng can đảm của mình, niềm tin và sự ký thác tan biến. Sự nuôi nấng nhiệm mầu đã tác động sâu sắc vòa nhiều nguời trong đám đông nhưng tất cả trong những cách sai lầm. Thoạt tiên họ ai nấy đều muốn Chúa Giê-su là vua và bây giờ họ theo Người đến bên kia bờ biễn Galilee và hỏi người dồn dập. Toàn bộ chương này một sự phân chia của trận đấu khẩu giữa Chúa Giê-su và đám đông, và là một cơ hội để Thánh Gio-an tỏ rõ nhiều hơn về bản tính thiêng liêng của Chúa Giê-su. Chúa Giê-su thừa biết rằng họ bị mê hoặc bởi bản tính vật chất của sự kỳ diệu. Người bắt đầu đối chiếu của ăn tạm thời và mất đi với của ăn vĩnh cửu trong một nỗ lực để nâng cao sự hiểu biết của họ từ vật chất đến mức độ tinh thần. Thực phẩm vĩnh cửu từ quá trình đạo đức này là chất dinh dưỡng đời sống mà chính Người có thể ban phát.

Khi họ hỏi “những việc” gì họ phải làm để làm đẹp lòng Thiên Chúa. Người trả lời phi thường với quả quyết rằng chỉ có một “việc” duy nhất – “hãy tin vào Người chính Người đã ban phát” – chỉ tin – nhưng niềm tin tưởng trong Tin Mừng của Thánh Gio-an còn hơn đối với rất nhiều người mong đợi. Đó là sự từ bỏ toàn bộ để duy nhất đón nhận Thiên Chúa cùng sự tự nguyện trú ngụ mãi mãi trong Người và thừa nhận tâm hồn và tâm trí của Người như sở hữu của mình.

Nhưng trước khi đám đông sẵn lòng tin Người họ yêu cầu ủy nhiệm thư của Người – những dấu chỉ xác nhận để chứng minh rằng thực sự là người mà Người đã tự nhận. Rồi y như thể Người đã không thực hiện đầy đủ! Họ cũng kiêu hãnh rằng tổ tiên họ là những người lãnh nhận manna trong sa mạc. Chúa Giê-su phản xạ với cường đô như chum tia sáng đơn sắc, quả quyết rằng nguồn thực phẩm từ trời là Thiên Chúa – không phải Moses hoặc bất kỳ người nào khác. Và giờ đây Thiên Chúa phải chuẩn bị ban bánh đích thực cho thế gian – thức ăn thực sự và sự sống vĩnh cửu.

Như trong hầu hết tin mừng của Thánh Gio-an, người ta hiểu những lời này theo nghĩa tường minh và vật chất. Họ không khao khát đón nhận nguồn lương thực này vì họ hiểu nó như một nguồn bất tận của thực phẩm bình thường. Bằng cách sự dụng phép ẩn dụ “bánh của sự sống” để tự Người trong cùng một cách mà người đã cần “nước sự sống” trong chương 7. Chúa Giê-su tự Người thiết lập vì sự hoàn tất đối với niềm mong ước của nhân loại cho hết thảy, sự an bình nội tại và sự sống vĩnh hằng. Chúng ta thực hiện cả hai Chúa Giê-su và bản thân với một nguy cơ khủng khiếp khi chúng ta đối xử với Người chỉ như là phương tiện để lánh xa hỏa ngục và về cõi thiên đàng. Chúa Giê-su làm nhiều hơn “cứu vớt” – Người thay đổi cũng như chu cấp cuộc sống vĩnh cửu, tinh thần và cơ hội đến với Thiên Chúa ngay cả khi chúng ta còn đang sống.

(Nguồn: Regis College – The School of Theology)