CHÚA NHẬT XVI THƯỜNG NIÊN
Gr 23: 1-6: Đối diện với các vị mục tử vô trách nhiệm của dân Ít-ra-en dẫn đưa dân đến cảnh nước mất nhà tan, ngôn sứ Giê-rê-mi-a loan báo rằng Thiên Chúa sẽ đích thân nắm giữ vận mệnh của đàn chiên Ngài và sẽ sai phái cho họ một vị mục tử đích thật, thuộc dòng dõi Đa-vít, Đấng ấy sẽ chăn dắt dân trong công minh chính trực.
Ep 2: 13-18: Trong thư gởi cho các tín hữu Ê-phê-sô, thánh Phao-lô cho thấy ở nơi Đức Ki tô Đấng quy tụ người Do thái và lương dân trong bình an và hòa giải để chỉ có một dân duy nhất và một thân thể duy nhất.
Mc 6: 30-34: Trong bài tường thuật của thánh Mác-cô, Đức Giê-su hành xử như một vị mục tử chân thật, một vị mục tử Mê-si-a. Ngài quy tụ đám đông dân chúng, nuôi dưỡng họ bằng lời của Ngài trước khi cho họ được no thỏa bằng bánh hóa nhiều, tiên trưng bí tích Thánh Thể.
BÀI ĐỌC I (Gr 23: 1-6)
Như ngôn sứ Ê-dê-ki-en, ngôn sứ Giê-rê-mi-a sống vào giai đoạn bi thảm nhất của vương quốc Giu-đa, dưới những cuộc tấn công của đạo quân Ba-by-lon, vào đầu thế kỷ thứ sáu trước Công Nguyên.
Sấm ngôn của chương 23 nầy được định vị giữa hai cuộc tấn công vào Giê-ru-sa-lem, cuộc tấn công thứ nhất vào năm 597 BC., thành đô Giê-ru-sa-lem bị chiếm lần thứ nhất và cuộc lưu đày lần thứ nhất; và cuộc tấn công thứ hai vào năm 587 BC., thành đô Giê-ru-sa-lem bị tàn phá, Đền Thờ bị phá hủy và những cuộc lưu đày mới.
Trái với ngôn sứ Ê-dê-ki-en, ngôn sứ Giê-rê-mi-a đã không bị lưu đày; ông vẫn ở Giê-ru-sa-lem: vị ngôn sứ cực lực tố cáo các vua chúa và các vị lãnh đạo phải chịu trách nhiệm về tai họa.
Tuy nhiên ngay cả ở giữa lòng thành đô tang thương nầy, vị ngôn sứ thắp lên ngọn lửa hy vọng: Thiên Chúa vẫn trung tín: Ngài không bỏ rơi dân Ngài; đến thời đến buổi, Ngài sẽ sai phái cho họ một vị mục tử đích thật.
1. Những mục tử vô trách nhiệm.
Đó là những vị vua của vương quốc Giu-đa mà vị ngôn sứ nhắm đến trước tiên (tước hiệu mục tử được ban cho các vị vua ở Đông Phương xưa); vị ngôn sứ trách cứ họ là đã không trung thành với sứ mạng của mình, đã “hành xử như những nhà chính trị chứ không như những con người của Thiên Chúa”.
Đoạn văn mà chúng ta đọc hôm nay là phần đầu của chương 23, chương kết thúc “sách chống lại các vua”.
Nhưng bên kia các vua, Giê-rê-mi-a ngỏ lời với toàn thể tầng lớp lãnh đạo, đạo cũng như đời (nhiều lần ông cho họ tước hiệu mục tử nầy: 2: 8; 10: 21; 25: 34). Ngôn sứ đã nói trước đó, những vị chức sắc của dân đã coi thường quyền lợi và công bình; họ đã sống một cuộc sống thụ hưởng phù phiếm; họ đã xây cho mình những dinh thự đền đài tráng lệ mà không ngó ngàng gì đến cuộc sống của dân chúng (22: 3, 13; vân vân).
Cuối cùng họ đã dẫn dân chúng lâm vào cảnh lầm than nước mất nhà tan và phải tản lạc khắp nơi: “Khốn thay những mục tử đã làm cho đàn chiên trong đồng cỏ của Ta phải tản lạc chết chóc”. Không chỉ những người bị lưu đày phải tha hương ở đất khách quê người, nhưng biết bao dân cư đã rời bỏ Giê-ru-sa-lem để tỵ nạn ở miền quê hẻo lánh, vài người trốn chạy sang tận bên Ai-cập.
“Ta sẽ hỏi thăm các ngươi về những hành vi ngang trái của các ngươi”. Quả thật án phạt đã không chậm trể. Vua Giơ-hô- gia-khin bị dẫn đi giam cầm ở Ba-by-lon. Còn thành phần ưu tú bị lưu đày lần thứ nhất vào năm 597 BC (2V 24: 10-16).
2. Sứ điệp tràn đầy hy vọng: vị mục tử Mê-si-a.
Sau bản cáo trạng nghiêm khắc nầy, vị ngôn sứ công bố một sứ điệp tràn đầy hy vọng.
Bởi vì các vị mục tử đã không chu toàn sứ mạng của mình, Thiên Chúa sẽ can thiệp: Ngài sẽ đích thân đảm nhận việc chăm sóc dân Ngài; Ngài sẽ tập hợp đàn chiên của Ngài bị phân tán khắp nơi và đưa chúng về đồng cỏ của chúng.
Đây là một trong những giấc mơ lớn lao đã làm nức lòng dân chúng trong niềm mong chờ thời Mê-si-a đến để hiệp nhất quốc gia Ít-ra-en. Việc phân tranh giữa các bộ tộc phương Bắc và các bộ tộc phương Nam mặc dầu đã xa xưa nhưng vẫn còn cảm thấy niềm đau trong lòng mọi người. Cuộc sụp đổ của vương quốc phương Bắc đã kéo theo một cuộc tản mác đầu tiên, hoặc do tự nguyện hoặc bi lưu đày (cuộc lưu đày ở Át-sua). Cuộc sụp đổ vương quốc phương Nam gây nên những hậu quả còn thậm tệ hơn.
Trong lời sấm của vị ngôn sứ, chính Đức Chúa sẽ đảm nhận vai trò mục tử nhân lành, Ngài sẽ tập hợp đàn chiên của Ngài vào đồng cỏ của chúng. Viễn cảnh được loan báo là viễn cảnh của cuộc hồi hương trở về quê cha đất tổ từ chốn lưu đày. Đức Chúa sẽ đem lại cho dân Ngài niềm vui hưởng cảnh thái bình thịnh vượng: “Chúng sẽ sinh sôi nẩy nở ra nhiều”. Ở đây còn là dấu chỉ Mê-si-a. Theo các ngôn sứ, thời đại Mê-si-a phải được đánh dấu bởi “sự no thỏa” (“bữa tiệc Mê-si-a” mà bánh hóa nhiều là một trong những biểu tượng tiên trưng).
3. Chân dung của vị mục tử lý tưởng.
Sau cùng, vị mục tử lý tưởng sẽ ngự đến: “Nầy đây sẽ đến thời kỳ Ta khiến mọc lên cho nhà Đa-vít một Mầm Non công chính”.
“Nầy đây sẽ đến những thời kỳ” đây là công thức mà ngôn sứ Giê-rê-mi-a rất tâm đắc để giới thiệu một thị kiến tương lai. Có thể ông đã mượn công thức nầy từ ngôn sứ A-mốt (Am 4: 2; 8: 11; 9: 13). Từ “Mầm Non” đã trở thành tước hiệu Mê-si-a. Tước hiệu nầy đã xuất hiện trước tiên tại I-sai-a (4: 2); Giê-rê-mi-a đã trích dẫn tước hiệu nầy hai lần (một ở đây và nơi khác ở 33: 15); chúng ta sẽ gặp lại tước hiệu nầy tại ngôn sứ Da-ca-ri-a (3: 8; 6: 12).
Dưới triều đại của vị vua Mê-si-a thuộc dòng dõi Đa-vít nầy, “miền Giu-đa sẽ được cứu thoát, miền Ít-ra-en sẽ an cư lạc nghiệp”.
Giu-đa và Ít-ra-en, gợi lên địa danh của hai vương quốc: như vào thời vua Đa-vít, dân Thiên Chúa sẽ chỉ là một dân tộc duy nhất.
Người ta sẽ gọi vị mục tử Mê-si-a nầy là: “Đức Chúa, sự công chính của chúng ta”. Danh xưng nầy các ngôn sứ thường dùng để chỉ Đấng Mê-si-a, nhưng ở nơi tên gọi nầy ngôn sứ Giê-rê-mi-a đặt một lời châm biếm cay độc: một trong “những vị mục tử vô trách nhiệm” là vua Xê-đê-xi-át, vương hiệu nầy có nghĩa “Đức Chúa, sự công chính của tôi”.
Trái lại, vị vua Mê-si-a tương lai sẽ truyền đạt sự công minh chính trực của Ngài cho toàn thể dân chúng của mình.
BÀI ĐỌC II (Ep 2: 13-18)
Chúng ta tiếp tục đọc thư của thánh Phao-lô gởi các tin hữu Ê-phê-sô. Trong đoạn trích của Chúa Nhật trước, thánh Phao-lô đã trình bày kế hoạch cứu độ muôn thuở của Thiên Chúa được thực hiện trong Đức Ki tô. Trong đoạn trích hôm nay, thánh nhân mô tả sự hòa giải mà Đức Ki tô thực hiện: chết cho mọi người, cả người Do thái lẫn lương dân. Như vậy, Đức Ki tô muốn kiến tạo nên một nhân loại mới và quy tụ họ vào trong Giáo Hội của Ngài.
1. Người Ki tô hữu gốc lương dân.
Trước tiên, thánh Phao-lô ngỏ lời với những người Ki tô hữu gốc lương dân, họ chiếm đa số trong những cộng đoàn Ki tô hữu miền Tiểu Á. Thánh nhân dùng thuật ngữ “xa-gần” đã được I-sai-a đệ tam, vị ngôn sứ hậu lưu đày, sử dụng rồi (Is 57: 19).
Dụng ngữ nầy đã trở nên phổ biến trong Do thái giáo. Qua dụng ngữ “xa-gần” nầy, thánh nhân muốn nói rằng những người Ki tô hữu gốc lương dân, trước kia là những người xa lạ, bây giờ trở thành những người nhà của Thiên Chúa, vì từ nay họ được dự phần vào những lời hứa của Giao Ước, bởi vì chính họ cũng được ban cho ơn tha thứ tội lỗi.
2. Một dân duy nhất.
Vì thế, những người Ki tô hữu, dù gốc lương dân cũng như gốc Do thái, đều có thể nói: Đức Ki tô “là sự bình an của chúng ta”.
Chúng ta khó mà đo lường được việc liên kết giữa những người Ki-tô hữu gốc lương dân và gốc Do thái đã mang đến tính cách mạng đến mức độ nào cho các cộng đoàn Ki tô hữu, ở đó nảy sinh biết bao sự ngộ nhận và khinh bĩ qua lại ở giữa đôi bên.
Những Ki tô hữu gốc Do thái ý thức mình là một dân được tuyển chọn và được tách riêng ra, dân mang mặc khải; họ tự hào về nét đặc thù tôn giáo họ, việc tuân giữ lề luật giúp họ khỏi những uế nhiễm của dân ngoại; họ tránh những giao tiếp với những kẻ không chịu cắt bì chừng nào có thể. Trong Đền Thờ Giê-ru-sa-lem, một lan can bằng đá cẩm thạch ngăn chia khuôn viên của dân ngoại khỏi khuôn viên của dân Ít-ra-en. Qua ngôn từ: “Bức tường ngăn cách là sự thù ghét”, Thánh Phao-lô ám chỉ đến bức lan can phân cách nầy. Chắc chắn thánh nhân đã nghĩ đến những kẻ xách động đồng bào Do thái tra tay bắt ngài được tường thuật trong sách Công Vụ 21: 28: “Hỡi đồng bào Ít-ra-en, giúp một tay nào! Nó kia kìa, tên vẫn đi mọi nơi dạy cho mọi người những điều phản dân, phạm đến Lề Luật và Nơi Thánh nầy! Nó còn đem cả mấy người Hy lạp vào cả Đền Thờ mà làm cho Nơi Thánh nầy ra ô uế”.
Ngược lại, những thái độ bài Do thái thường xảy ra, như được chứng thực trong nhiều thành phố của người Hy lạp, kể cả thành phố A-lê-xan-ri-a. Chúng ta đừng quên sách Khôn Ngoan được soạn thảo vào giữa thế kỷ thứ nhất trước Công Nguyên, thời kỳ những người Do thái bị chính quyền phiền nhiễu. Thái độ bài Dp thái nầy cũng gặp thấy trong thế giới Rô-ma, ở đó người ta không ưa những người Do thái vốn không làm việc vào ngày thứ bảy, cũng như không chỉ đường cho những ai không chịu cắt bì hỏi đường (như thi sĩ Junéval kể ra vài ví dụ trong bài thơ châm biếm của ông vào cuối thế kỷ thứ nhất và đầu thế kỷ thứ hai sau Công Nguyên).
Đức Ki tô đã hủy bỏ ngăn cách nầy: tinh thần duy luật khiến những kẻ thực hành tỉ mĩ Lề Luật tự thu mình lại vào trong thế giới của riêng mình. Luật Mới không còn chia cách nữa, nhưng hòa giải.
3. Một thân thể duy nhất.
Thánh Phao-lô thật bạo dạn khi khẳng định rằng: đôi bên, người Ki tô gốc lương dân và gốc Do thái, hình thành nên chỉ một con người duy nhất, một người mới. Người Ki tô hữu là một con người được tái tạo và tất cả những người Ki tô hữu được quy tụ là những chi thể của một thân thể duy nhất, thân thể của Đức Ki tô.
Thánh Phao-lô đã sử dụng từ vựng thần học nầy rồi trong các thư gởi cho các tín hữu Cô-rin-tô và Cô-lô-sê. Đây là đề tài chủ đạo của thư gởi các tín hữu Ê-phê-sô nầy, diễn tả ơn gọi phổ quát của Giáo hội.
4. Bình an và hiệp nhất, công trình của Thiên Chúa Ba Ngôi.
Cuối cùng, thánh Phao lô cho thấy rằng nhờ Đức Ki tô, “cả đôi bên, chúng ta được liên kết trong một Thần Khí duy nhất mà đến cùng Chúa Cha”. Nhờ Đức Ki tô, con đường đến cùng Chúa Cha rộng mở cho tất cả mọi người. Chúa Thánh Thần, Đấng hiệp nhất Chúa Cha và Chúa Con, dẫn đưa các tín hữu vào trong cung lòng cuộc sống Ba Ngôi.
TIN MỪNG (Mc 6: 30-34)
Đức Giê-su đã sai các tông đồ ra đi thi hành sứ vụ khắp miền Ga-li-lê. Thánh Mác-cô tường thuật những diễn biến khi họ trở về.
Thánh Mác-cô luôn luôn cho chúng ta bài tường thuật đầy tình tiết sống động; và thánh ký nầy luôn luôn cho chúng ta những xác định nêu bật con người của Đức Giê-su.
1. Các tông đồ tụ họp quanh Đức Giê-su.
Danh xưng “tông đồ” được dùng để chỉ nhóm Mười Hai chỉ xuất hiện ở đây trong Tin Mừng của ông; cách dùng nầy được biện minh: các tông đồ đã “được Đức Giê-su sai đi”. Như chúng ta đã nhắc lại điều nầy trước đây, các tác giả Tin Mừng chung chung tránh dùng danh xưng nầy cho nhóm Mười Hai, bởi vì chỉ mình Đức Giê-su xứng với tước hiệu nầy. Ngài là Đấng được Chúa Cha sai phái.
Nhóm Mười Hai quy tụ lại chung quanh Đức Giê-su, chắc chắn ở Ca-phác-na-um, thành phố mà Đức Giê-su chọn làm bản doanh cho sứ vụ của Ngài. “Các ông kể lại cho Người biết mọi việc các ông đã làm, và mọi điều các ông đã giảng dạy”. Đây là hai khía cạnh của sứ vụ đã được trao gởi cho các ông: lời giảng dạy đi kèm theo các dấu chỉ, theo gương Thầy mình. Vào ngày hôm ấy, Đức Giê-su sắp đưa ra cho các ông một mẫu gương: sau khi đã giảng dạy đám đông dân chúng nhiều điều, Ngài sẽ cho họ được ăn no nê, khi làm phép lạ bánh hóa nhiều, một trong những dấu chỉ quan trọng bậc nhất của thừa tác vụ của Ngài.
“Kẻ lui người tới quá đông”, trong số đó có những kẻ hiếu kỳ còn muốn hỏi các ông thêm nhiều điều nữa. Trong bối cảnh đó, các ông khó thuật lại cho Đức Giê-su sứ vụ mà họ vừa mới thi hành theo lệnh của Ngài. Thánh Mác-cô không xác định khung cảnh, nhưng chỉ ghi lại một chi tiết theo ông có ý nghĩa nhất “nên các ông cũng chẳng có thì giờ ăn uống nữa”.
Ấy vậy, các tông đồ mệt mõi. Đức Giê-su lưu ý sự mệt mõi của các ông, vì thế, nếu cứ ở lại đây, họ không tài nào thoát ra khỏi đám đông quấy nhiễu nầy: “Anh em hãy lánh riêng ra một nơi thanh vắng mà nghỉ ngơi đôi chút”.
Thái độ của Đức Giê-su nói lên tấm lòng của một vị thầy ân cần quan tâm đến các môn đệ mình. Các môn đệ đồng thuận và xuống thuyền lánh sang một nơi khác.
2. Lánh xa một nơi khác.
Đây không là lần đầu tiên Đức Giê-su tìm cách lánh xa đám đông để được ở lại một mình với các môn đệ mình và dạy riêng cho họ. Trước đây, thánh Mác-cô ghi nhận, sau khi giảng dạy cho đám đông nhiều dụ ngôn, “khi chỉ có Thầy trò với nhau, thì Người giải thích hết cho họ” (4: 34). Nhưng việc thầy trò lánh đi như vậy không phải luôn luôn là dể dàng. Thánh Mác-cô cũng đã còn viết: “Đức Giê-su cùng với các môn đệ của Người lánh về phía Biển Hồ. Từ miền Ga-li-lê người ta lũ lượt đi theo Người” (3: 7).
Cũng xảy ra đúng y như vậy vào lúc các môn đệ trở về sau khi thi hành sứ mạng của mình.
3. Tấm lòng của đám đông dân chúng.
Việc dân chúng lũ lượt kéo nhau đến với Đức Giê-su là một trong những nét tiêu biểu của Tin Mừng Mác-cô, như chúng ta đã ghi nhận rồi. Sự kiện nầy không phải là không có tương quan với sự thành công của sứ vụ của Ngài.
Thánh Mác-cô không cho chúng ta địa danh nơi gặp gỡ của đám đông với Đức Giê-su và các môn đệ của Ngài. Theo Lu-ca, Đức Giê-su “đem các ông đi riêng ra với mình, lui về thành kia gọi là Bết-xai-đa” (Lc 9: 10), đây là thành phố ở phía đông nam Biển Hồ, bên kia sông Giô-đan, dòng sông đổ nước vào Biển Hồ.
Cách thành Ca-phác-na-um đến thành Bết-xai-đa khoảng 12 cây số, vì thế có lẽ đám đông cùng nhau theo đường bộ vượt qua một khoảng cách như vậy đến trước cả các ngài. Cách diễn tả: “nhiều người hiểu ý” gợi lên một mối tương quan gần gũi thân thiết giữa đám đông dân chúng nầy với Đức Giê-su như cách nói của Tin Mừng Gioan: “Tôi biết chiên của tôi và chiên của tôi biết tôi” (Ga 10: 14).
4. Tấm lòng mục tử của Đấng Mê-si-a.
Tấm lòng nhiệt thành nầy của đám đông dân chúng làm ngăn trở cho ý muốn của Đức Giê-su và các môn đệ là được lánh riêng một nơi thanh vắng. Ấy vậy, thay vì bực mình, Đức Giê-su “chạnh lòng thương”. Dịch như thế chưa lột hết ý nghĩa của động từ Hy lạp, động từ nầy gợi lên một sự xúc động sâu xa dâng lên tận đáy lòng. Quả thật, động từ nầy phát xuất từ danh từ “ruột gan” để diễn tả niềm thương mến cuộn lên tận ruột gan như tấm lòng của Thiên Chúa đối với dân Ngài: “Trái tim Ta thổn thức, ruột gan Ta rối bời” (Hs 11: 8). Đặc biệt trong các sách Tin Mừng, động từ nầy thường chỉ được dùng cho Đức Giê-su; và luôn luôn với động tự nầy, Ngài không thể nào kềm lòng được mà không ra tay hành động.
Đức Giê-su thương mến tận đáy lòng khi thấy đám đông dân chúng cùng nhau chạy đến với Ngài “như bầy chiên không người chăn dắt”. Ở đây phảng phất chủ đề căn bản của Cựu Ước. Dân Ít-ra-en là đàn chiên thương mến của Thiên Chúa. Ngài đã trao gởi đàn chiên của mình cho sự chăm sóc của các vị mục tử; nhưng những vị mục tử vô trách nhiệm nầy chỉ nghĩ đến mình mà không quan tâm đến cảnh sống của đàn chiên Ngài, khiến đàn chiên của Ngài phải lạc lõng bơ vơ. Đức Giê-su sẽ ra tay ân cần săn sóc họ và chứng tỏ mình là vị mục tử Mê-si-a được ngôn sứ Giê-rê-mi-a loan báo. Công việc của người mục tử là tìm kiếm cho đàn chiên của mình cánh đồng cỏ tốt tươi. Lương thực mà Ngài trao ban cho đám đông nầy trước hết là lương thực của Lời Ngài; chính cái đói nầy phải được đáp ứng trước tiên: “Người bắt đầu dạy dỗ họ nhiều điều”. Phép lại bánh hóa nhiều được nối tiếp theo sau. Từ xưa Giáo Hội đã ghi nhận điều nầy là luôn luôn nối kết “hai bàn tiệc” với nhau: trước hết là bàn tiệc Lời Chúa, rồi sau đó là bàn tiệc Thánh Thể.
Khi ngỏ lời với đám đông suốt ngày hôm ấy quên cả nghĩ ngơi, Đức Giê-su cho các môn đệ của Ngài một giáo huấn rõ ràng: “người mục tử nhân lành là người hiến dâng trọn vẹn bản thân của mình cho đàn chiên”.
Bài tường thuật của Mác-cô nầy chứng tỏ Đức Giê-su ân cần săn sóc các môn đệ mệt mõi của Ngài sau khi hoàn thành sứ vụ, cũng như đám đông dân chúng sau khi đi một quảng đường xa đến gặp Ngài. Bài tường thuật nầy là một trong số các bài tường thuật bày tỏ ở nơi Đức Giê-su một tấm lòng từ bi nhân hậu: vừa độ nhạy cảm sâu xa của con tim nhân loại vừa tấm lòng xót thương vô bờ của Thiên Chúa trước nỗi khổ đau của đám đông dân chúng bơ vơ lạc lõng, tìm nơi nương tựa vào Ngài. Đó cũng là mẫu gương cho tất cả các vị mục tử của Giáo Hội Ngài, không tìm cách trốn tránh dưới chiêu bài nầy hay chiêu bài khác, nhưng tìm cách đáp trả nỗi khổ đau của dân chúng, bởi vì: “Mục Tử nhân lành hy sinh mạng sống mình cho đàn chiên” (Ga 10: 11).
Gr 23: 1-6: Đối diện với các vị mục tử vô trách nhiệm của dân Ít-ra-en dẫn đưa dân đến cảnh nước mất nhà tan, ngôn sứ Giê-rê-mi-a loan báo rằng Thiên Chúa sẽ đích thân nắm giữ vận mệnh của đàn chiên Ngài và sẽ sai phái cho họ một vị mục tử đích thật, thuộc dòng dõi Đa-vít, Đấng ấy sẽ chăn dắt dân trong công minh chính trực.
Ep 2: 13-18: Trong thư gởi cho các tín hữu Ê-phê-sô, thánh Phao-lô cho thấy ở nơi Đức Ki tô Đấng quy tụ người Do thái và lương dân trong bình an và hòa giải để chỉ có một dân duy nhất và một thân thể duy nhất.
Mc 6: 30-34: Trong bài tường thuật của thánh Mác-cô, Đức Giê-su hành xử như một vị mục tử chân thật, một vị mục tử Mê-si-a. Ngài quy tụ đám đông dân chúng, nuôi dưỡng họ bằng lời của Ngài trước khi cho họ được no thỏa bằng bánh hóa nhiều, tiên trưng bí tích Thánh Thể.
BÀI ĐỌC I (Gr 23: 1-6)
Như ngôn sứ Ê-dê-ki-en, ngôn sứ Giê-rê-mi-a sống vào giai đoạn bi thảm nhất của vương quốc Giu-đa, dưới những cuộc tấn công của đạo quân Ba-by-lon, vào đầu thế kỷ thứ sáu trước Công Nguyên.
Sấm ngôn của chương 23 nầy được định vị giữa hai cuộc tấn công vào Giê-ru-sa-lem, cuộc tấn công thứ nhất vào năm 597 BC., thành đô Giê-ru-sa-lem bị chiếm lần thứ nhất và cuộc lưu đày lần thứ nhất; và cuộc tấn công thứ hai vào năm 587 BC., thành đô Giê-ru-sa-lem bị tàn phá, Đền Thờ bị phá hủy và những cuộc lưu đày mới.
Trái với ngôn sứ Ê-dê-ki-en, ngôn sứ Giê-rê-mi-a đã không bị lưu đày; ông vẫn ở Giê-ru-sa-lem: vị ngôn sứ cực lực tố cáo các vua chúa và các vị lãnh đạo phải chịu trách nhiệm về tai họa.
Tuy nhiên ngay cả ở giữa lòng thành đô tang thương nầy, vị ngôn sứ thắp lên ngọn lửa hy vọng: Thiên Chúa vẫn trung tín: Ngài không bỏ rơi dân Ngài; đến thời đến buổi, Ngài sẽ sai phái cho họ một vị mục tử đích thật.
1. Những mục tử vô trách nhiệm.
Đó là những vị vua của vương quốc Giu-đa mà vị ngôn sứ nhắm đến trước tiên (tước hiệu mục tử được ban cho các vị vua ở Đông Phương xưa); vị ngôn sứ trách cứ họ là đã không trung thành với sứ mạng của mình, đã “hành xử như những nhà chính trị chứ không như những con người của Thiên Chúa”.
Đoạn văn mà chúng ta đọc hôm nay là phần đầu của chương 23, chương kết thúc “sách chống lại các vua”.
Nhưng bên kia các vua, Giê-rê-mi-a ngỏ lời với toàn thể tầng lớp lãnh đạo, đạo cũng như đời (nhiều lần ông cho họ tước hiệu mục tử nầy: 2: 8; 10: 21; 25: 34). Ngôn sứ đã nói trước đó, những vị chức sắc của dân đã coi thường quyền lợi và công bình; họ đã sống một cuộc sống thụ hưởng phù phiếm; họ đã xây cho mình những dinh thự đền đài tráng lệ mà không ngó ngàng gì đến cuộc sống của dân chúng (22: 3, 13; vân vân).
Cuối cùng họ đã dẫn dân chúng lâm vào cảnh lầm than nước mất nhà tan và phải tản lạc khắp nơi: “Khốn thay những mục tử đã làm cho đàn chiên trong đồng cỏ của Ta phải tản lạc chết chóc”. Không chỉ những người bị lưu đày phải tha hương ở đất khách quê người, nhưng biết bao dân cư đã rời bỏ Giê-ru-sa-lem để tỵ nạn ở miền quê hẻo lánh, vài người trốn chạy sang tận bên Ai-cập.
“Ta sẽ hỏi thăm các ngươi về những hành vi ngang trái của các ngươi”. Quả thật án phạt đã không chậm trể. Vua Giơ-hô- gia-khin bị dẫn đi giam cầm ở Ba-by-lon. Còn thành phần ưu tú bị lưu đày lần thứ nhất vào năm 597 BC (2V 24: 10-16).
2. Sứ điệp tràn đầy hy vọng: vị mục tử Mê-si-a.
Sau bản cáo trạng nghiêm khắc nầy, vị ngôn sứ công bố một sứ điệp tràn đầy hy vọng.
Bởi vì các vị mục tử đã không chu toàn sứ mạng của mình, Thiên Chúa sẽ can thiệp: Ngài sẽ đích thân đảm nhận việc chăm sóc dân Ngài; Ngài sẽ tập hợp đàn chiên của Ngài bị phân tán khắp nơi và đưa chúng về đồng cỏ của chúng.
Đây là một trong những giấc mơ lớn lao đã làm nức lòng dân chúng trong niềm mong chờ thời Mê-si-a đến để hiệp nhất quốc gia Ít-ra-en. Việc phân tranh giữa các bộ tộc phương Bắc và các bộ tộc phương Nam mặc dầu đã xa xưa nhưng vẫn còn cảm thấy niềm đau trong lòng mọi người. Cuộc sụp đổ của vương quốc phương Bắc đã kéo theo một cuộc tản mác đầu tiên, hoặc do tự nguyện hoặc bi lưu đày (cuộc lưu đày ở Át-sua). Cuộc sụp đổ vương quốc phương Nam gây nên những hậu quả còn thậm tệ hơn.
Trong lời sấm của vị ngôn sứ, chính Đức Chúa sẽ đảm nhận vai trò mục tử nhân lành, Ngài sẽ tập hợp đàn chiên của Ngài vào đồng cỏ của chúng. Viễn cảnh được loan báo là viễn cảnh của cuộc hồi hương trở về quê cha đất tổ từ chốn lưu đày. Đức Chúa sẽ đem lại cho dân Ngài niềm vui hưởng cảnh thái bình thịnh vượng: “Chúng sẽ sinh sôi nẩy nở ra nhiều”. Ở đây còn là dấu chỉ Mê-si-a. Theo các ngôn sứ, thời đại Mê-si-a phải được đánh dấu bởi “sự no thỏa” (“bữa tiệc Mê-si-a” mà bánh hóa nhiều là một trong những biểu tượng tiên trưng).
3. Chân dung của vị mục tử lý tưởng.
Sau cùng, vị mục tử lý tưởng sẽ ngự đến: “Nầy đây sẽ đến thời kỳ Ta khiến mọc lên cho nhà Đa-vít một Mầm Non công chính”.
“Nầy đây sẽ đến những thời kỳ” đây là công thức mà ngôn sứ Giê-rê-mi-a rất tâm đắc để giới thiệu một thị kiến tương lai. Có thể ông đã mượn công thức nầy từ ngôn sứ A-mốt (Am 4: 2; 8: 11; 9: 13). Từ “Mầm Non” đã trở thành tước hiệu Mê-si-a. Tước hiệu nầy đã xuất hiện trước tiên tại I-sai-a (4: 2); Giê-rê-mi-a đã trích dẫn tước hiệu nầy hai lần (một ở đây và nơi khác ở 33: 15); chúng ta sẽ gặp lại tước hiệu nầy tại ngôn sứ Da-ca-ri-a (3: 8; 6: 12).
Dưới triều đại của vị vua Mê-si-a thuộc dòng dõi Đa-vít nầy, “miền Giu-đa sẽ được cứu thoát, miền Ít-ra-en sẽ an cư lạc nghiệp”.
Giu-đa và Ít-ra-en, gợi lên địa danh của hai vương quốc: như vào thời vua Đa-vít, dân Thiên Chúa sẽ chỉ là một dân tộc duy nhất.
Người ta sẽ gọi vị mục tử Mê-si-a nầy là: “Đức Chúa, sự công chính của chúng ta”. Danh xưng nầy các ngôn sứ thường dùng để chỉ Đấng Mê-si-a, nhưng ở nơi tên gọi nầy ngôn sứ Giê-rê-mi-a đặt một lời châm biếm cay độc: một trong “những vị mục tử vô trách nhiệm” là vua Xê-đê-xi-át, vương hiệu nầy có nghĩa “Đức Chúa, sự công chính của tôi”.
Trái lại, vị vua Mê-si-a tương lai sẽ truyền đạt sự công minh chính trực của Ngài cho toàn thể dân chúng của mình.
BÀI ĐỌC II (Ep 2: 13-18)
Chúng ta tiếp tục đọc thư của thánh Phao-lô gởi các tin hữu Ê-phê-sô. Trong đoạn trích của Chúa Nhật trước, thánh Phao-lô đã trình bày kế hoạch cứu độ muôn thuở của Thiên Chúa được thực hiện trong Đức Ki tô. Trong đoạn trích hôm nay, thánh nhân mô tả sự hòa giải mà Đức Ki tô thực hiện: chết cho mọi người, cả người Do thái lẫn lương dân. Như vậy, Đức Ki tô muốn kiến tạo nên một nhân loại mới và quy tụ họ vào trong Giáo Hội của Ngài.
1. Người Ki tô hữu gốc lương dân.
Trước tiên, thánh Phao-lô ngỏ lời với những người Ki tô hữu gốc lương dân, họ chiếm đa số trong những cộng đoàn Ki tô hữu miền Tiểu Á. Thánh nhân dùng thuật ngữ “xa-gần” đã được I-sai-a đệ tam, vị ngôn sứ hậu lưu đày, sử dụng rồi (Is 57: 19).
Dụng ngữ nầy đã trở nên phổ biến trong Do thái giáo. Qua dụng ngữ “xa-gần” nầy, thánh nhân muốn nói rằng những người Ki tô hữu gốc lương dân, trước kia là những người xa lạ, bây giờ trở thành những người nhà của Thiên Chúa, vì từ nay họ được dự phần vào những lời hứa của Giao Ước, bởi vì chính họ cũng được ban cho ơn tha thứ tội lỗi.
2. Một dân duy nhất.
Vì thế, những người Ki tô hữu, dù gốc lương dân cũng như gốc Do thái, đều có thể nói: Đức Ki tô “là sự bình an của chúng ta”.
Chúng ta khó mà đo lường được việc liên kết giữa những người Ki-tô hữu gốc lương dân và gốc Do thái đã mang đến tính cách mạng đến mức độ nào cho các cộng đoàn Ki tô hữu, ở đó nảy sinh biết bao sự ngộ nhận và khinh bĩ qua lại ở giữa đôi bên.
Những Ki tô hữu gốc Do thái ý thức mình là một dân được tuyển chọn và được tách riêng ra, dân mang mặc khải; họ tự hào về nét đặc thù tôn giáo họ, việc tuân giữ lề luật giúp họ khỏi những uế nhiễm của dân ngoại; họ tránh những giao tiếp với những kẻ không chịu cắt bì chừng nào có thể. Trong Đền Thờ Giê-ru-sa-lem, một lan can bằng đá cẩm thạch ngăn chia khuôn viên của dân ngoại khỏi khuôn viên của dân Ít-ra-en. Qua ngôn từ: “Bức tường ngăn cách là sự thù ghét”, Thánh Phao-lô ám chỉ đến bức lan can phân cách nầy. Chắc chắn thánh nhân đã nghĩ đến những kẻ xách động đồng bào Do thái tra tay bắt ngài được tường thuật trong sách Công Vụ 21: 28: “Hỡi đồng bào Ít-ra-en, giúp một tay nào! Nó kia kìa, tên vẫn đi mọi nơi dạy cho mọi người những điều phản dân, phạm đến Lề Luật và Nơi Thánh nầy! Nó còn đem cả mấy người Hy lạp vào cả Đền Thờ mà làm cho Nơi Thánh nầy ra ô uế”.
Ngược lại, những thái độ bài Do thái thường xảy ra, như được chứng thực trong nhiều thành phố của người Hy lạp, kể cả thành phố A-lê-xan-ri-a. Chúng ta đừng quên sách Khôn Ngoan được soạn thảo vào giữa thế kỷ thứ nhất trước Công Nguyên, thời kỳ những người Do thái bị chính quyền phiền nhiễu. Thái độ bài Dp thái nầy cũng gặp thấy trong thế giới Rô-ma, ở đó người ta không ưa những người Do thái vốn không làm việc vào ngày thứ bảy, cũng như không chỉ đường cho những ai không chịu cắt bì hỏi đường (như thi sĩ Junéval kể ra vài ví dụ trong bài thơ châm biếm của ông vào cuối thế kỷ thứ nhất và đầu thế kỷ thứ hai sau Công Nguyên).
Đức Ki tô đã hủy bỏ ngăn cách nầy: tinh thần duy luật khiến những kẻ thực hành tỉ mĩ Lề Luật tự thu mình lại vào trong thế giới của riêng mình. Luật Mới không còn chia cách nữa, nhưng hòa giải.
3. Một thân thể duy nhất.
Thánh Phao-lô thật bạo dạn khi khẳng định rằng: đôi bên, người Ki tô gốc lương dân và gốc Do thái, hình thành nên chỉ một con người duy nhất, một người mới. Người Ki tô hữu là một con người được tái tạo và tất cả những người Ki tô hữu được quy tụ là những chi thể của một thân thể duy nhất, thân thể của Đức Ki tô.
Thánh Phao-lô đã sử dụng từ vựng thần học nầy rồi trong các thư gởi cho các tín hữu Cô-rin-tô và Cô-lô-sê. Đây là đề tài chủ đạo của thư gởi các tín hữu Ê-phê-sô nầy, diễn tả ơn gọi phổ quát của Giáo hội.
4. Bình an và hiệp nhất, công trình của Thiên Chúa Ba Ngôi.
Cuối cùng, thánh Phao lô cho thấy rằng nhờ Đức Ki tô, “cả đôi bên, chúng ta được liên kết trong một Thần Khí duy nhất mà đến cùng Chúa Cha”. Nhờ Đức Ki tô, con đường đến cùng Chúa Cha rộng mở cho tất cả mọi người. Chúa Thánh Thần, Đấng hiệp nhất Chúa Cha và Chúa Con, dẫn đưa các tín hữu vào trong cung lòng cuộc sống Ba Ngôi.
TIN MỪNG (Mc 6: 30-34)
Đức Giê-su đã sai các tông đồ ra đi thi hành sứ vụ khắp miền Ga-li-lê. Thánh Mác-cô tường thuật những diễn biến khi họ trở về.
Thánh Mác-cô luôn luôn cho chúng ta bài tường thuật đầy tình tiết sống động; và thánh ký nầy luôn luôn cho chúng ta những xác định nêu bật con người của Đức Giê-su.
1. Các tông đồ tụ họp quanh Đức Giê-su.
Danh xưng “tông đồ” được dùng để chỉ nhóm Mười Hai chỉ xuất hiện ở đây trong Tin Mừng của ông; cách dùng nầy được biện minh: các tông đồ đã “được Đức Giê-su sai đi”. Như chúng ta đã nhắc lại điều nầy trước đây, các tác giả Tin Mừng chung chung tránh dùng danh xưng nầy cho nhóm Mười Hai, bởi vì chỉ mình Đức Giê-su xứng với tước hiệu nầy. Ngài là Đấng được Chúa Cha sai phái.
Nhóm Mười Hai quy tụ lại chung quanh Đức Giê-su, chắc chắn ở Ca-phác-na-um, thành phố mà Đức Giê-su chọn làm bản doanh cho sứ vụ của Ngài. “Các ông kể lại cho Người biết mọi việc các ông đã làm, và mọi điều các ông đã giảng dạy”. Đây là hai khía cạnh của sứ vụ đã được trao gởi cho các ông: lời giảng dạy đi kèm theo các dấu chỉ, theo gương Thầy mình. Vào ngày hôm ấy, Đức Giê-su sắp đưa ra cho các ông một mẫu gương: sau khi đã giảng dạy đám đông dân chúng nhiều điều, Ngài sẽ cho họ được ăn no nê, khi làm phép lạ bánh hóa nhiều, một trong những dấu chỉ quan trọng bậc nhất của thừa tác vụ của Ngài.
“Kẻ lui người tới quá đông”, trong số đó có những kẻ hiếu kỳ còn muốn hỏi các ông thêm nhiều điều nữa. Trong bối cảnh đó, các ông khó thuật lại cho Đức Giê-su sứ vụ mà họ vừa mới thi hành theo lệnh của Ngài. Thánh Mác-cô không xác định khung cảnh, nhưng chỉ ghi lại một chi tiết theo ông có ý nghĩa nhất “nên các ông cũng chẳng có thì giờ ăn uống nữa”.
Ấy vậy, các tông đồ mệt mõi. Đức Giê-su lưu ý sự mệt mõi của các ông, vì thế, nếu cứ ở lại đây, họ không tài nào thoát ra khỏi đám đông quấy nhiễu nầy: “Anh em hãy lánh riêng ra một nơi thanh vắng mà nghỉ ngơi đôi chút”.
Thái độ của Đức Giê-su nói lên tấm lòng của một vị thầy ân cần quan tâm đến các môn đệ mình. Các môn đệ đồng thuận và xuống thuyền lánh sang một nơi khác.
2. Lánh xa một nơi khác.
Đây không là lần đầu tiên Đức Giê-su tìm cách lánh xa đám đông để được ở lại một mình với các môn đệ mình và dạy riêng cho họ. Trước đây, thánh Mác-cô ghi nhận, sau khi giảng dạy cho đám đông nhiều dụ ngôn, “khi chỉ có Thầy trò với nhau, thì Người giải thích hết cho họ” (4: 34). Nhưng việc thầy trò lánh đi như vậy không phải luôn luôn là dể dàng. Thánh Mác-cô cũng đã còn viết: “Đức Giê-su cùng với các môn đệ của Người lánh về phía Biển Hồ. Từ miền Ga-li-lê người ta lũ lượt đi theo Người” (3: 7).
Cũng xảy ra đúng y như vậy vào lúc các môn đệ trở về sau khi thi hành sứ mạng của mình.
3. Tấm lòng của đám đông dân chúng.
Việc dân chúng lũ lượt kéo nhau đến với Đức Giê-su là một trong những nét tiêu biểu của Tin Mừng Mác-cô, như chúng ta đã ghi nhận rồi. Sự kiện nầy không phải là không có tương quan với sự thành công của sứ vụ của Ngài.
Thánh Mác-cô không cho chúng ta địa danh nơi gặp gỡ của đám đông với Đức Giê-su và các môn đệ của Ngài. Theo Lu-ca, Đức Giê-su “đem các ông đi riêng ra với mình, lui về thành kia gọi là Bết-xai-đa” (Lc 9: 10), đây là thành phố ở phía đông nam Biển Hồ, bên kia sông Giô-đan, dòng sông đổ nước vào Biển Hồ.
Cách thành Ca-phác-na-um đến thành Bết-xai-đa khoảng 12 cây số, vì thế có lẽ đám đông cùng nhau theo đường bộ vượt qua một khoảng cách như vậy đến trước cả các ngài. Cách diễn tả: “nhiều người hiểu ý” gợi lên một mối tương quan gần gũi thân thiết giữa đám đông dân chúng nầy với Đức Giê-su như cách nói của Tin Mừng Gioan: “Tôi biết chiên của tôi và chiên của tôi biết tôi” (Ga 10: 14).
4. Tấm lòng mục tử của Đấng Mê-si-a.
Tấm lòng nhiệt thành nầy của đám đông dân chúng làm ngăn trở cho ý muốn của Đức Giê-su và các môn đệ là được lánh riêng một nơi thanh vắng. Ấy vậy, thay vì bực mình, Đức Giê-su “chạnh lòng thương”. Dịch như thế chưa lột hết ý nghĩa của động từ Hy lạp, động từ nầy gợi lên một sự xúc động sâu xa dâng lên tận đáy lòng. Quả thật, động từ nầy phát xuất từ danh từ “ruột gan” để diễn tả niềm thương mến cuộn lên tận ruột gan như tấm lòng của Thiên Chúa đối với dân Ngài: “Trái tim Ta thổn thức, ruột gan Ta rối bời” (Hs 11: 8). Đặc biệt trong các sách Tin Mừng, động từ nầy thường chỉ được dùng cho Đức Giê-su; và luôn luôn với động tự nầy, Ngài không thể nào kềm lòng được mà không ra tay hành động.
Đức Giê-su thương mến tận đáy lòng khi thấy đám đông dân chúng cùng nhau chạy đến với Ngài “như bầy chiên không người chăn dắt”. Ở đây phảng phất chủ đề căn bản của Cựu Ước. Dân Ít-ra-en là đàn chiên thương mến của Thiên Chúa. Ngài đã trao gởi đàn chiên của mình cho sự chăm sóc của các vị mục tử; nhưng những vị mục tử vô trách nhiệm nầy chỉ nghĩ đến mình mà không quan tâm đến cảnh sống của đàn chiên Ngài, khiến đàn chiên của Ngài phải lạc lõng bơ vơ. Đức Giê-su sẽ ra tay ân cần săn sóc họ và chứng tỏ mình là vị mục tử Mê-si-a được ngôn sứ Giê-rê-mi-a loan báo. Công việc của người mục tử là tìm kiếm cho đàn chiên của mình cánh đồng cỏ tốt tươi. Lương thực mà Ngài trao ban cho đám đông nầy trước hết là lương thực của Lời Ngài; chính cái đói nầy phải được đáp ứng trước tiên: “Người bắt đầu dạy dỗ họ nhiều điều”. Phép lại bánh hóa nhiều được nối tiếp theo sau. Từ xưa Giáo Hội đã ghi nhận điều nầy là luôn luôn nối kết “hai bàn tiệc” với nhau: trước hết là bàn tiệc Lời Chúa, rồi sau đó là bàn tiệc Thánh Thể.
Khi ngỏ lời với đám đông suốt ngày hôm ấy quên cả nghĩ ngơi, Đức Giê-su cho các môn đệ của Ngài một giáo huấn rõ ràng: “người mục tử nhân lành là người hiến dâng trọn vẹn bản thân của mình cho đàn chiên”.
Bài tường thuật của Mác-cô nầy chứng tỏ Đức Giê-su ân cần săn sóc các môn đệ mệt mõi của Ngài sau khi hoàn thành sứ vụ, cũng như đám đông dân chúng sau khi đi một quảng đường xa đến gặp Ngài. Bài tường thuật nầy là một trong số các bài tường thuật bày tỏ ở nơi Đức Giê-su một tấm lòng từ bi nhân hậu: vừa độ nhạy cảm sâu xa của con tim nhân loại vừa tấm lòng xót thương vô bờ của Thiên Chúa trước nỗi khổ đau của đám đông dân chúng bơ vơ lạc lõng, tìm nơi nương tựa vào Ngài. Đó cũng là mẫu gương cho tất cả các vị mục tử của Giáo Hội Ngài, không tìm cách trốn tránh dưới chiêu bài nầy hay chiêu bài khác, nhưng tìm cách đáp trả nỗi khổ đau của dân chúng, bởi vì: “Mục Tử nhân lành hy sinh mạng sống mình cho đàn chiên” (Ga 10: 11).