Chương trình đào tạo tông đồ giáo dân - Khóa I.2003

Đề tài 14

Đời sống luân lý của Kitô Hữu

I. Tiếp cận vấn đề

Mỗi tổ trao đổi với nhau về một trong sáu câu hỏi sau đây:

1.1 Đời sống người có đạo -bất cứ đạo nào- gồm (a) những điều người ấy tin trong lòng, (b) những lễ nghi, phượng tự, kinh kệ người ấy cử hành hay đọc trong đền chùa hay trong nhà và (c) những việc người ấy làm trong đời sống cá nhân và xã hội. Hãy áp dụng những điều ấy vào trường hợp người tín đồ Phật giáo? người tín hữu Kitô giáo Công giáo và Tin Lành.
1.2 Anh chị có biết Sách Giáo Lý Hội thánh Công giáo mới được bố cục như thế nào không?
[Sau Tông huấn Kho tàng Đức Tin công bố Sách Giáo lý Hội Thánh Công giáo là lời mở đầu từ số 1 đến số 25. Sau đó là 4 phần chính: Phần thứ nhất: Tuyên xưng Đức Tin (26-1065); Phần thứ hai: Các Bí tích Đức Tin (1066-1690); Phần thứ ba: Đời sống Đức Tin trong Đức Kitô (1691-2557); và Phần thứ tư: Kinh nguyện Kitô giáo (2558-2865)].
1.3 Anh chị có thể hình dung được một người theo một tôn giáo mà lại sống không phù hợp với giáo lý của tôn giáo ấy không? Tại sao?
1.4 Nhiều người Công giáo cho rằng họ có quyền có hai đời sống đạo và đời tách biệt nhau. Có nhiều người khác cho rằng người Công giáo phải có một đời sống đạo đời thống nhất và hòa trộn vào nhau. Quan niệm nào đúng, quan niệm nào sai? Hãy kể ra những hệ quả thực tế của hai quan niệm sống trên.
1.5 Trong thực tế, nhiều giáo dân Việt Nam không có một đời sống đạo nhất quán mà có một đời sống đạo được gọi là "ô kéo": ở nhà thờ thì sống một cách, ở trong gia đình thì sống một cách và ở ngoài xã hội thì lại sống một cách: cách sống ở ba nơi không theo cùng một tiêu chuẩn về đạo đức. Tại sao lại có tình trạng ấy? Và làm thế nào để loại bỏ lối sống đạo "ô kéo" ấy?
1.6 Theo cách bố cục của Sách Giáo lý Hội Thánh Công giáo (mới) chúng ta phải hiểu "đời sống luân lý" theo nghĩa rộng hay nghĩa hẹp? Các Kitô hữu được dậy dỗ về đời sống luân lý ở đâu? khi nào? do ai? bằng những cách nào? kết quả ra sao? Anh chị có thấy nhu cầu phải học hỏi thêm, phải đào sâu hơn về đời sống luân lý không?

II. Học hiểu giáo lý

Đề tài ĐỜI SỐNG LUÂN LÝ CỦA KITÔ HỮU gồm hai phần: 1. Ơn gọi làm người: sống theo Thánh Thần; 2. Mười điều răn. Trong phần thứ nhất có 3 chương: (1) Phẩm giá con người (2) Cộng đồng nhân loại (3) Thiên Chúa cứu độ: lề luật và ân sủng. Trong phần thứ hai, có hai chương: (1) Ngươi phải yêu mến Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi hết lòng, hết linh hồn và hết trí khôn ngươi. Đó là những điều liên quan tới 3 giới răn đầu (đối tượng là Thiên Chúa). (2) Ngươi phải yêu thương người thân cận như chính mình. Đó là những điều liên quan tới 7 giới răn sau (đối tượng là con người).

2.1 Ơn gọi làm người : Sống trong Thánh Thần

1.- Phẩm giá của con người.

Phẩm giá con người bắt nguồn từ việc con người được sáng tạo theo hình ảnh và giống Thiên Chúa. Phẩm giá này được kiện toàn trong ơn gọi đến hưởng hạnh phúc với Thiên Chúa. Con người có trách nhiệm dùng tự do đạt tới sự viên mãn ấy. Bằng những hành vi có ý thức, con người quy hướng hay không, vào những gì tốt đẹp Thiên Chúa hứa ban và lương tâm công nhận. Con người sử dụng toàn thể toàn thể đời sống giác quan và tinh thần làm chất liệu để xây dựng bản thân và tăng trưởng nội tâm. Nhờ ân sủng trợ giúp, con người tiến triển trên đường nhân đức, xa lánh tội lỗi và nếu lỡ phạm tội như người con hoàng đàng (x. Lc 15,11-31), biết phó thác vào lòng thương của Cha Trên Trời. Nhờ đó con người đạt tới đức ái hoàn hảo. (GLHTCG, 1700).

(1)Con người là hình ảnh của Thiên Chúa.

"Khi mặc khải mầu nhiệm Chúa Cha và tình yêu của Người, Đức Kitô đã cho con người biết rõ về chính bản chất của họ và tỏ cho họ biết thiên chức rất cao cả của họ" (x.Vui mừng và Hy vọng, 22,1). Trong Đức Kitô "hình ảnh của Thiên Chúa vô hình" (Cl 1,15), con người được tạo dựng "theo hình ảnh và giống Đấng Sáng Tạo. Hình ảnh này đã bị nguyên tổ làm biến dạng, nay được phục hồi vẻ đẹp nguyên thủy trong Đức Kitô, và còn được ân sủng Thiên Chúa làm tăng thêm vẻ rực rỡ" (x. VMvHV, 2) (GLHTCG, 1701).

(2) Thiên Chúa gọi chúng ta đến hưởng hạnh phúc đích thực.

(a) Các Mối Phúc Thật (Mt 5,3-12). Các mối phúc lặp lại và kiện toàn những lời Thiên Chúa hứa từ thời Apraham bằng cách hướng chúng về Nước Trời. Chúng đáp ứng khát vọng sống hạnh phúc Thiên Chúa đặt trong tâm hồn con người (GLHTCG, 1725).
(b) Các mối phúc dạy chúng ta biết cùng đích mà Thiên Chúa mời gọi con người đạt tới: Nước Trời, hưởng nhan thánh Chúa, sự sống đời đời, ơn nghĩa tử, an nghỉ trong Chúa (GLHTCG, 1726).
(c) Hạnh phúc được sống đời đời là hồng ân nhưng không của Thiên Chúa. Ta gọi hạnh phúc này, cũng như ân sủng dẫn đưa ta đến đó, là ân huệ siêu nhiên (GLHTCG, 1727).
(d) Các mối phúc đặt chúng ta trước những chọn lựa quyết định về những của cải trần thế, thanh luyện tâm hồn để chúng ta học biết yêu mến Thiên Chúa trên hết mọi sự (GLHTCG, 1728).

(3) Tự do của con người.

(a) "Thiên Chúa cho con người tự định liệu để họ tự do gắn bó với Đấng Sáng Tạo, nhờ đó tiến tới sự hoàn thiện và hạnh phúc" (VMvHV, 17,1) (GLHTCG, 1743).
(b) Tự do là khả năng để hành động hay không hành động: nhờ đó, con người có thể thực hiện những hành vi có ý thức. Tự do đạt tới mức hoàn hảo khi quy hướng về Thiên Chúa là sự thiện tối thượng (GLHTCG, 1744).
(c) Tự do là đặc tính của những hành vi nhân linh. Con người phải chịu trách nhiệm về các hành vi mình chủ ý làm. Hành động chủ ý thuộc về chính tác nhân (GLHTCG, 1745).
(d) Về quy lỗi và trách nhiệm về một hành động có thể được giảm bớt hay xóa bỏ do thiếu hiểu biết, bạo lực, sợ hãi, và các nhân tố tâm lý hay xã hội khác (GLHTCG, 1746).
(đ) Quyền sử dụng tự do là một đòi hỏi không thể tách rời khỏi phẩm giá con người, đặc biệt trong lãnh vực tôn giáo và luân lý. Thực thi quyền tự do không có nghĩa là muốn nói gì thì nói, muốn làm gì thì làm (GLHTCG, 1747).
(e) "Chính để chúng ta được tự do mà Đức Giêsu đã giải thoát chúng ta" (Gl 5,1) (GLHTCG, 1748).

(4) Tính luân lý của các hành vi nhân linh.

(a) Đối tượng, ý hướng và các hoàn cảnh tạo thành ba “nguồn gốc” cho tính luân lý của các hành vi nhân linh (GLHTCG, 1757).
(b) Đối tượng được chọn, xác định tính luân lý của hành vi ý chí, tùy theo việc lý trí nhìn nhận và phán đoán nó lá tốt hay xấu (GLHT CG, 1758).
(c) "Ý hướng tốt không thể biện minh cho một hành động xấu" (Thánh Tôma Aquino, 6). Cứu cánh không biện minh cho phương tiện (GLHTCG, 1759).
(d) Một hành vi tốt về mặt luân lý đòi hỏi đối tượng, mục đích và các hoàn cảnh đều tốt (GLHTCG, 1760).
(đ) Có những hành vi cụ thể luôn luôn sai, vì ngay khi chọn lựa, ý chí đã lệch lạc; đó là một điều xấu luân lý. Không được phép làm điều xấu để đạt một kết quả tốt (GLHTCG, 1761).

(5) Tính luân lý của những đam mê.

(a) Thuật ngữ "đam mê" chỉ những cảm xúc và tình cảm; nhờ đó, con người linh cảm điều thiện và nghi ngờ điều ác (GLHTCG, 1771).
(b) Những đam mê chính yếu là: hỉ, nộ, ái, ố, ai, cụ, dục (vui, giận, yêu, ghét, buồn, sợ, ham muốn) (GLHTCG, 1772).
(c) Các đam mê được xem như những rung động của tình cảm, không tốt cũng không xấu về mặt luân lý. Chúng tốt hay xấu tùy vào lý trí và ý chí (GLHTCG, 1773).
(d) Những cảm xúc và tình cảm có thể được đón nhận trong các nhân đức, hoặc bị băng hoại trong caác thói xấu (GLHTCG, 1774).
(đ) Con người đạt tới mức hoàn thiện luân lý bằng cách vươn tới điều thiện hảo, không chỉ bằng ý chí, nhưng còn với cả tâm hồn nữa (GLHTCG, 1775).

(6) Lương tâm.

(a) "Lương tâm là tâm điểm sâu kín nhất và là cung thánh của con người; nơi đây con người hiện diện một mình với Thiên Chúa và tiếng nói của Người vang dội trong thâm tâm họ" (VMvHV, 16) (GLHTCG, 1795).
(b) Lương tâm là một phán quyết của lý trí; nhờ đó, con người nhận biết một hành vi cụ thể là tốt hay xấu(GLHTCG, 1796).
(c) Nếu con người làm điều xấu, lời kết án của lương tâm có thể dẫn họ đến hoán cải và hy vọng (GLHTCG, 1797).
(d) Một lương tâm được rèn luyện tốt sẽ phán đoán ngay thẳng và chân thật. Lương tâm ấy sẽ đưa ra những phán quyết theo lý trí, phú hợp với điều thiện đích thực như Đấng Tạo Hóa đầy khôn ngoan muốn. Mỗi người đều phải tìm phương thế để rèn luyện lương tâm mình (GLHTCG, 1798).
(đ) Khi chọn lựa, lương tâm có thể phán đoán đúng hợp theo lý trí và luật Thiên Chúa, hoặc ngược lại có thể phán đoán sai lầm (GL HTCG, 1799).
(e) Con người luôn luôn phải tuân theo phán đoán chắc chắn của lương tâm mình (GLHTCG, 1800).
(g) Lương tâm có thể còn thiếu hiểu biết hay phán đoán sai lầm. Sự thiếu hiểu biết và sai lầm đó không phải lúc nào cũng vô tội (GL HTCG, 1801).
(h) Lời Thiên Chúa là ánh sáng chỉ đường cho con người. Chúng ta phải lãnh hội Lời Chúa trong đức tin, trong kinh nguyện, và đem ra thực hành. Đó là phương thế để rèn luyện lương tâm (GLHTCG, 1802).

(7) Các nhân đức.

(a) Đức tính là những xu hướng bền vững và kiên định để làm điều thiện (GL HTCG, 1833).
(b) Các đức tính nhân bản là những xu hướng bền vững của lý trí và của ý chí, để điều chỉnh các hành vi, điều tiết các đam mê và hướng dẫn cách ăn nết ở theo lý trí và đức tin. Có bốn đức tính “căn bản” quy tự các đức tình khác, là: khôn ngoan, công bình, can đảm và tiết độ (GLHTCG, 1834).
(c) Đức khôn ngoan giúp lý trì thực tiễn nhận ra điều thiện đích thực trong mọi hoàn cảnh và lựa chọn những phương thế tốt để đạt tới (GL HTCG, 1835.
(d) Đức công bình thể hiện qua quyết tâm trả cho Thiên Chúa những gì thuộc về Thiên Chúa và trả cho tha nhân những gì thuộc về tha nhân (GLHTCG, 1836).
(đ) Đức can đảm giúp chúng ta kiên trì quyết tâm theo đuổi điều thiện giữa những khó khăn trong đời (GLHTCG, 1837).
(e) Đức tiết độ giúp ta điều tiết sức lôi cuốn của những lạc thú và sử dụng chừng mực những của cải ttần thế (GLHTCG, 1838).
(g) Các đức tính luân lý tăng trưởng nhờ giáo dục, nhờ các hành vi chủ ý và nhờ kiên trì tập luyện. Nhờ ân sủng của Thiên Chúa các đức tính được thanh luyện và nâng cao (GLHTCG, 1839).
(h) Các nhân đức đối thần là đức tin, đức cậy và đức mến. Ba nhân đức này định hình và làm sinh động mọi đức tính luân lý (GLHTCG, 1841).
(i) Nhờ đức tin, chúng ta tin vào Thiên Chúa và tin tất cả những điều Người đã mặc khải cũng như những gì Hội Thánh dậy phải tin (GLHTCG, 1842).
(k) Nhờ đức cậy, chúng ta khao khát và chờ mong với xác tín rằng Thiên Chúa sẽ ban cho ta sự sống vĩnh cửu và các ân sủng để ta xứng đáng hưởng sự sống đó (GLHTCG, 1843).
(l) Nhờ đức mến, chúng ta yêu mến Thiên Chúa trên hết mọi sự và vì yêu mến Thiên Chúa, chúng ta yêu mến người thân cận như chính bản thân. Đức mến là “mối dây liên kết tuyệt hảo” (Cl 3,14) và là mô thể của mọi đức tính (GLHTCG, 1844).
(m) Bẩy ơn Thánh Thần ban cho tín hữu là ơn khôn ngoan, ơn thông minh, ơn biết lo liệu, ơn dũng cảm, ơn hiểu biết, ơn đạo đức và ơn kính sợ Thiên Chúa (GL HTCG, 1845).

(8) Tội lỗi.

(a) Thiên Chúa đã giam hãm mọi người trong tội không vâng phục, để thương xót mọi người (Rm 11,32) (GLHTCG, 1870).
(b) Tội là "một lời nói, một hành vi hoặc một ước muốn trái với lề luật vĩnh cửu" (Thánh Âutinh). Tội là xúc phạm đến Thiên Chúa. Ai phạm tội là chống lại Thiên Chúa qua một hành vi bất tuân trái ngược với thái độ vâng phục của Đức Kitô (GLHTCG, 1871).
(c) Tội là một hành vi nghịch với lý trí, làm tổn thương bản tính con người và vi phạm đến tình liên đới giữa nhân loại (GLHTCG, 1872).
(d) Nguồn gốc của mọi tội lỗi phát xuất từ lòng con người. Các loại tội và mức độ nghiêm trọng được xem xét chủ yếu theo đối tượng của tội (GLHTCG, 1873).
(đ) Con người phạm tội trong khi chủ ý lựa chọn, nghĩa là biết rõ và muốn một sự việc trái với lề luật Thiên Chúa và với cùng đích tối hậu của con người một cách nghiêm trọng. Tội trọng phá hủy đức mến là nhân đức cần thiết để được hưởng phúc thật vĩnh cửu. Ai phạm tội trọng mà không sám hối, sẽ phải chết đời đời (GLHTCG, 1874).
(e) Tội nhẹ gây nên một xáo trộn luân lý. Điều này có thể được sửa chữa nhờ đức mến vẫn còn tồn tại trong ta (GLHTCG, 1875).
(g) Phạm di phạm lại các tội, dù là tội nhẹ, người ta sẽ rơi vào những thói xấu, trong đó có các mối tội đầu (GLHTCG, 1876).

2.- Cộng đồng nhân loại

Có một tương đồng nào đó giữa sự hiệp nhất của Chúa Ba Ngôi với tình huynh đệ mà loài người phải kiến tạo cho nhau (GLHTCG, 1890).

(1) Con người và xã hội.

(a) Con người cần đến đời sống xã hội để tự phát triển theo đúng bản tính. Có những mối liên hệ xã hội như gia đình và Nhà Nước , đáp ứng trực tiếp được bản tính con người (GLHTCG, 1891).
(b) Nhân vị chính là và phải là nguyên lý, chủ thể và cứu cánh của mọi định chế xã hội (VMvHV, 25,1) (GLHTCG, 1892).
(c) Nên khuyến khích mọi người tích cực tham gia các hiệp hội và các tổ chức (GLHTCG, 1893).
(d) Theo nguyên tắc hỗ trợ, nhà nước hay một tập thể lớn không có quyền lấn át sáng kiến và trách nhiệm của những cá nhân và các tổ chức nhỏ (GLHTCG, 1894).
(đ) Xã hội không được gây trở ngại, nhưng phải giúp con người thực thi những điều thiện hảo. Vì thế, xã hội phải tôn trọng bậc thang đúng đắn của các giá trị (GLHTCG, 1895).
(e) Tội lỗi càng làm băng hoại xã hội, con người cần phải hoán cải nội tâm và nhờ đến ân sủng của Thiên Chúa. Đức mến thúc đẩy thực hiện những cuộc cải tổ chính đáng. Không có giải đáp nào cho các vấn đề xã hội ngoài Tin Mừng Chúa Giêsu (GLHTCG, 1896).

(2) Tham gia vào đời sống xã hội.

(a) Không có quyền bính nào mà không bởi Thiên Chúa, và những quyền bính hiện hữu là do Thiên Chúa thiết lập (Rm 13,1) (GLHT CG, 1918).
(b) Mọi cộng đoàn nhân loại đều cần có một quyền bính để duy trì và phát triển (GLHTCG, 1919).
(c) "Cộng đoàn chính trị và công quyền đặt nền tảng trên bản tính con người, cho nên cũng nằm trong trật tự do Thiên Chúa ấn định" (GLHTCG, 1920).
(d) Quyền bính được hành xử hợp pháp khi mưu cầu công ích cho xã hội và đạt tới mục đích ấy bằng những phương thế luân lý cho phép (GLHTCG, 1921).
(đ) Các thể chế chính trị có thể khác nhau, miễn sao các thể chế này mưu cầu lợi ích chính đáng cho cộng đoàn (GLHTCG, 1922).
(e) Công quyền phải được hành xử trong những giới hạn của trật tự luân lý và bảo đảm những điều kiện giúp thực thi quyền tự do (GL HTCG, 1923).
(g) Công ích là: "toàn bộ những điều kiện của đời sống xã hội cho phép những tập thể hay những phần tử riêng rẽ có thể đạt tới sự hoàn hảo riêng một cách đầy đủ và dễ dàng hơn" (GLHTCG, 1924).
(h) Công ích gồm ba yếu tố cơ bản: tôn trọng và thăng tiến các quyền cơ bản của con người, phát triển các lợi ích tinh thần và vật chất của xã hội, kiến tạo hòa bình và an ninh cho tập thể và các thành viên (GLHTCG, 1925).
(i) Phẩm giá con người đòi hỏi mưu cầu công ích. Mỗi người phải quan tâm cổ cõ và yểm trợ những tổ chức nhằm cải thiện điều kiện sinh sống của con người (GLHTCG, 1926).

(3) Công bằng xã hội.

(a) Xã hội bảo đảm công bằng xã hội bằng cách tạo ra những hoàn cảnh giúp các tập thể và cá nhân nhận được những gì họ có quyền hưởng (GLHTCG, 1943).
(b) Tôn trọng nhân vị là coi kẻ khác như chính mình. Điều này đòi buộc phải tôn trọng những quyền căn bản phát xuất từ phẩm giá đích thực của con người (GLHTCG, 1944).
(c) Mọi người đều bình đẳng dựa trên nhân phẩm và các quyền xuất phát từ nhân phẩm (GLHTCG, 1945).
(d) Những dị biệt giữa con người nằm trong kế hoạch của Thiên Chúa. Người muốn chúng ta cần đến nhau. Những dị biệt ấy đòi con người sống bác ái với nhau (GLHTCG, 1946).
(đ) Vì con người bình đẳng về nhân phẩm nên phải cố gắng giảm thiểu những chênh lệch quá đáng về xã hội và kinh tế, xóa bỏ bất bình đẳng (GLHTCG, 1947).
(e) Tình liên đới là một đức tính nổi bật của Kitô giáo. Tình liên đới thúc bách chúng ta chia sẻ của cải vật chất và hơn nữa, cả của cải tinh thần (GLHTCG, 1948).

3.- Thiên Chúa cứu độ: lề luật và ân sủng

Con người được gọi tới hưởng chân phúc, nhưng bị thương tổn do tội, nên cần được Thiên Chúa cứu độ. Thiên Chúa cứu giúp con người trong Đức Kitô: Người ban lề luật để hướng dẫn họ và ân sủng để nâng đỡ họ:
" Anh em hãy biết run sợ mà gắng sức lo sao cho mình được cứu độ. Vì chính Thiên Chúa tác động nơi anh em để anh em quyết chí và hành động theo kế hoạch Người đã đặt ra vì yêu thương anh em " (Pl 2,12-13) (GLHTCG, 1949).

(1) Luật luân lý.

(a) Theo Thánh Kinh, luật là lời Thiên Chúa như người cha dậy dỗ con cái, qui định cho con người những nẻo đường dẫn tới chân phúc Thiên Chúa hứa và cấm con người đi vào sự dữ (GLHTCG, 1975).
(b) Luật là qui định trật tự theo lý trí nhằm phục vụ công ích, được người phụ trách cộng đoàn công bố (GLHTCG, 1976).
(c) Đức Kitô là cùng đích của lề luật (Rm 10,4), chỉ có Người dậy dỗ và ban sự công chính của Thiên Chúa (GLHTCG, 1977).
(d) Luật tự nhiên là sự tham dự của con người (được tạo dựng theo hình ảnh Đấng Sáng Tạo) vào sự khôn ngoan và nhân từ của Thiên Chúa. Luật tự nhiên nói lên phẩm giá con người và xác định nền tảng các quyền và các bổn phận cơ bản của con người (GLHTCG, 1978).
(đ) Luật tự nhiên thì bất biến và trường tồn qua dòng lịch sử. Về cơ bản, những qui định diễn tả luật tự nhiên, vẫn luôn có giá trị. Luật tự nhiên là cơ sở cần thiết cho việc thiết lập các qui luật luân lý và cho luật dân sự (GLHTCG, 1979).
(e) Luật cũ là bước đầu của luật mặc khải. Những qui định luân lý của luật cũ được tóm lược trong Mười Điều Răn (GLHTCG, 1980).
(g) Luật Môsê nêu ra nhiều chân lý mà lý trí tự nhiên có thể đạt tới. Thiên Chúa đã mặc khải các chân lý ấy bởi vì con người đã không đọc ra chúng trong lòng mình (GLHTCG, 1981).
(h) Luật cũ là sự chuẩn bị cho Tin Mừng (GLHTCG, 1982).
(i) Luật mới là ân sủng của Chúa Thánh Thần ban cho các tín hữu nhờ tin vào Đức Kitô. Người tín hữu thực thi luật mới bằng đức mến. Chúa Kitô dùng Bài Giảng Trên Núi để diễn tả những điểm chính của luật mới và dùng các bí tích để thông ban ân sủng cho con người thực thi luật đó (GLHTCG, 1983).
(k) Luật Tin Mừng hoàn tất trổi vượt và kiện toàn luật cũ: kiện toàn các lời hứa của luật cũ bằng các mối phúc của Nước Trời, kiện toàn các điều răn của luật cũ bằng canh tân tâm hồn là nơi phát xuất mọi hành vi (GL HTCG, 1984).
(l) Luật mới là luật yêu thương, luật ân sủng, luật tự do (GLHTCG, 1985).
(m) Ngoài những giới luật, luật mới còn gồm những lời khuyên Phúc âm "sự thánh thiện của Hội Thánh cũng được đặc biệt khích lệ bởi nhiều lời khuyên Chúa đã đề ra trong Phúc Am cho các môn đệ noi theo" (GLHTCG, 1986).

(2) (2) Ân sủng và công chính hóa.

(a) Ân sủng của Chúa Thánh Thần ban cho chúng ta sự công chính của Thiên Chúa. Qua đức tin và bí tích Thánh Tẩy, Chúa Thánh Thần kết hợp chúng ta vào cuộc Khổ Nạn và Phục Sinh của Đức Kitô và cho chúng ta tham dự vào cuộc sống của Đức Kitô (GLHTCG, 2017).
(b) Cũng như ơn hoán cải, ơn công chính có hai mặt. Dưới tác động của ân sủng, con người quay về với Thiên Chúa và từ bỏ mọi tội lỗi; nhờ đó, được Thiên Chúa ban ơn tha thứ và sự công chính (GLHTCG, 2018).
(c) Ơn công chính hóa bao gồm ơn tha thứ tội lỗi, ơn thánh hóa và canh tân con người nội tâm (GLHTCG, 2019).
(d) Cuộc khổ nạn của Đức Kitô là nguồn ơn công chính hóa cho mọi người. Ơn này được ban cho chúng ta qua bí tích Thánh Tẩy, giúp chúng ta sống phù hợp với sự công chính của Thiên Chúa, Đấng làm cho ta nên công chính. Ơn công chính hóa nhằm vào việc tôn vinh Thiên Chúa, tôn vinh Đức Kitô và ban tặng cho ta sự sống vĩnh cửu. Đây là công trình tuyệt hảo của Thiên Chúa giầu lòng xót thương (GLHTCG, 2020).
(đ) Ân sủng là sự trợ giúp của Thiên Chúa để chúng ta đáp lại lời mời gọi làm nghĩa tử của Người. Ân sủng đưa chúng ta vào cuộc sống thâm sâu của Ba Ngôi Thiên Chúa (GLHTCG, 2021).
(e) Trong công trình của ân sủng, Thiên Chúa có sáng kiến khởi xướng, chuẩn bị và gợi lên lời đáp trả tự do của con người. An sủng đáp ứng những khát vọng sâu xa của con người tự do. Ân sủng kêu gọi con người tự do cộng tác và kiện toàn sự tự do của họ (GLHT CG, 2022).
(g) Ơn thánh hóa là ơn nhưng không, qua đó Thiên Chúa ban cho chúng ta sự sống của Người. Chúa Thánh Thần ban ơn này vào linh hồn, để chữa trị tội lỗi và thánh hóa chúng ta (GLHTCG, 2023).
(h) Ơn thánh hóa làm cho chúng ta nên đẹp lòng Thiên Chúa. Còn đặc sủng là những ơn đặc biệt của Chúa Thánh Thần, qui về ơn thánh hóa, nhằm mưu ích chung cho Hội Thánh. Thiên Chúa còn hành động qua nhiều ân sủng trợ lực, rất đa dạng, mà chúng ta phân biệt với thường sủng vẫn hoạt động nơi chúng ta (GLHTCG, 2024).
(i) Chúng ta có lập được công trạng trước mặt Chúa là do ý định tư do của Người muốn chúng ta cộng tác vào công trình ân sủng. Công trạng đầu tiên thuộc về ân sủng của Thiên Chúa, thứ đến mới tới sự cộng tác của con người. Công trạng của con người phải qui về Thiên Chúa (GLHTCG, 2025).
(k) Vì Thiên Chúa đón nhận chúng ta làm nghĩa tử, nên ân sủng của Thánh Thần có thể đem lại cho chúng ta một công trạng đích thực dựa theo đức công chính nhưng không của Thiên Chúa. Đức mến trong ta là nguồn cội chính yếu, để ta có được công trạng trước mặt Thiên Chúa (GLHTCG, 2026).
(l) Không ai lập được công trạng để lãnh nhận ân sủng tiên khởi mở đầu cho hoán cải. Dưới tác động của Thánh Thần, chúng ta có thể lập được công trạng cho mình và cho tha nhân để đón nhận tất cả những ân sủng hữu ích nhằm đạt tới đời sống vĩnh cửu, cũng như các lợi ích cần thiết ở trần gian (GLHTCG, 2027).
(m) "Mọi người đều thấy rõ ràng tất cả các Kitô hữu, bất cứ theo bậc sống hay địa vị nào, đều được kêu gọi tiến đến sự viên mãn của đời sống Kitô giáo và đến sự trọn lành của đức mế" (Ánh sáng muôn dân, 40)."Sự trọn lành Kitô giáo chỉ có một giới hạn, đó là không giới hạn nào cả" (Thánh Ghêgôriô thành Nitxê) (GLHTCG, 2028).
(n) "Ai muốn theo Thầy, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình mà theo" (Mt 16,24) (GLHTCG, 2029).

(3) Hội Thánh là Mẹ và Thầy.

(a) Đời sống luân lý là một việc thờ phượng thiêng liêng. Đời sống Kitô hữu được nuôi dưỡng nhờ phụng vụ và các bí tích (GLHTCG, 2047).
(b) Các điều răn Hội Thánh nhằm vào đời sống Kitô giáo và luân lý; đời sống này gắn liền với phụng vụ và được phụng vụ nuôi dưỡng (GLHTCG, 2048).
(c) Huấn quyền của các mục tử Hội Thánh về vấn đề luân lý thường được thực thi trong huấn giáo và thuyết giảng, dựa trên Thập Giới, vì Thập Giới trình bày những nguyên tắc của đời sống luân lý có giá trọ cho tất cả mọi người (GLHTCG, 2049).
(d) Đức Giáo Hoàng và các Đức Giám mục là những thày dạy đích thực rao giảng cho dân Chúa những điều phải tin và phải áp dụng vào đời sống. Các ngài cũng có bổn phận lên tiếng về các vấn đề luân lý trong lãnh vực của luật tự nhiên và của lý trí (GLHTCG, 2050).
(đ) Ơn bất khả ngộ của Huấn Quyền liên hệ tới mọi yếu tố của giáo lý, gồm cả luân lý, vì thiếu những yếu tố này, các chân lý cứu độ của đức tin sẽ không được bảo toàn, trình bày hay tuân giữ (GLHT CG, 2051).

2.2 Mười điều răn

1.- Tổng quát về Mười Điều Răn (Thập Giới) :

(a) "Tôi phải làm điều gì tốt để được hưởng sự sống đời đời? Nếu anh muốn vào cõi sống, hãy giữ các điều răn" (Mt 19,16-17) (GLHT CG, 2075).
(b) Qua đời sống và lời giảng dạy Đức Giêssu đã xác nhận Thập Giới có tính thường tồn (GLHTCG, 2076).
(c) Thiên Chúa ban tặng Thập Giới cũng là Giao Ước ký kết giữa Thiên Chúa với dân Người. Mười Điều Răn chỉ có ý nghĩa đích thực trong và nhờ Giao Uớc (GLHTCG, 2077).
(d) Trung thành với Thánh Kinh và theo gương Đức Giêsu Truyền thống Hội Thánh nhìn nhận Thập Giới có tầm quan trọng và ý nghĩa hàng đầu (GLHTCG, 2078).
(đ) Thập Giới hợp thành một khối thuần nhất, trong đó mỗi "lời" hay mỗi "điều răn" đều qui chiếu về toàn thể. Vi phạm một điều răn là vi phạm toàn thể lề luật (x. Gcb 2,10-11) (GLHTCG, 2079).
(e) Thập Giới là một cách trình bày đặc sắc của luật tự nhiên. Chúng ta biết được Thập Giới nhờ mặc khải củaThiên Chúa và nhờ lý trí của con người (GLHTCG, 2080).
(g) Thập Giới tự bản chất là những nghĩa vụ quan trọng. Tuy nhiên, việc tuân giữ các giới luật này cũng bao gồm những nghĩa vụ theo chất thể tự nó là nhẹ (GLHTCG, 2081).
(h) Thiên Chúa ban ân sủng trợ lực để chúng ta thi hành được điều Người truyền dạy (GLHTCG, 2082).

2.- Ba bản văn về Mười Điều Răn:

* Đạo Đức Chúa Trời có Mười Điều Răn

Thứ nhất: Thờ phương một Đức Chúa Trời và kính mến Người trên hết mọi sự.
Thứ hai: Chớ kêu tên Đức Chúa Trời vô cớ.
Thứ ba: Giữ ngày Chúa nhật.
Thứ bốn: Thảo kính cha mẹ.
Thứ năm: Chớ giết người.
Thứ sáu: Chớ làm sự dân dục.
Thứ bẩy: Chớ lấy của người.
Thứ tám: Chớ làm chứng dối.
Thứ chín: Chớ muốn vợ chồng người.
Thứ mười: Chớ tham của người.

* Bản văn của Sách Xuất hành 20,2-17:

(2) Ta là Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi, đã đưa ngươi ra khỏi đất Ai Cập, khỏi cảnh nô lệ.
(3) Ngươi không được có thần nào khác đối nghịch với Ta.
(4) Ngươi không được tạc tượng, vẽ hình bất cứ vật gì ở trên trời cao cũng như dưới đất, hoặc ở trong nước phía dưới mặt đất.
(5) Ngươi không được phủ phục trước những thứ đó mà phụng thờ : vì Ta, Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi, là một vị thần ghen tuông. Đối với những kẻ ghét Ta, Ta phạt con cháu đến ba bốn đời vì tội lỗi của cha ông.
(6) Còn những ai yêu mến Ta và giữ các mệnh lệnh của Ta thì Ta trọn niềm nhân nghĩa đến ngàn đời.
(7) Ngươi không được kêu tên Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi mà làm điều bất xứng, vì Đức Chúa không dung tha kẻ kêu tên Người mà làm điều bất xứng.
(8) Ngươi hãy nhớ ngày Sabát, mà coi đó là ngày thánh.
(9) Trong sáu ngày ngươi sẽ lao động và làm mọi công việc của ngươi.
(10) Còn ngày thứ bẩy là ngày Sabát kính Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi. Ngày đó ngươi không được làm công việc nào, cả ngươi cũng như con trai con gái, tôi tớ nam nữ, gia súc và ngoại kiều ở trong thành của ngươi.
(11) Vì trong sáu ngày Đức Chúa đã dựng nên trời đất, biển khơi và muôn loài trong đó, nhưng Người đã nghỉ ngày thứ bẩy. Bởi vậy Đức Chúa đã chúc phúc cho ngày Sabát và coi đó là ngày thánh.
(12) Ngươi hãy thờ cha kính mẹ, để được sống lâu trên đất mà Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi, ban cho ngươi.
(13) Ngươi không được giết người.
(14) Ngươi không được ngoại tình.
(15) Ngươi không được trộm cắp.
(16) Ngươi không được làm chứng gian hại người.
(17) Ngươi không được ham muốn nhà người ta, ngươi không được ham muốn vợ người ta, tôi tớ nam nữ, con bò con lừa hay bất cứ vật gì của người ta.

* Bản văn của Sách đệ nhị luật 5,6-21:

(6) Ta là Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi, đã đưa ngươi ra khỏi đất Ai Cập, khỏi cảnh nô lệ.
(7) Ngươi không được có thần nào khác đối nghịch với Ta.
(11) Ngươi không được dùng tên Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi, mà làm điều bất xứng, vì Đức Chúa không dung tha kẻ dùng tên Người mà làm điều bất xứng.
(12) Ngươi hãy giữ ngày Sabát, mà coi đó là ngày thánh, như Đức Chúa Thiên Chúa của ngươi, đã truyền cho ngươi.
(16) Ngươi hãy thờ cha kính mẹ, như Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi đã truyền cho ngươi, để được sống lâu và để được hạnh phúc trên đất mà Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi, ban cho ngươi.
(17) Ngươi không được giết người.
(18) Ngươi không được ngoại tình.
(19) Ngươi không được trộm cắp.
(20) Ngươi không được làm chứng gian dối hại người.
(21) Ngươi không được ham muốn vợ người ta, ngươi không được ước ao nhà cửa người ta, đồng ruộng, tôi tớ nam nữ, con bò con lừa hay bất cứ vật gì của người ta.

3.- Tóm lược Giáo lý của Mười Điều Răn.

* Điều răn thứ nhất:

(a) "Hãy yêu mến Đức Chúa, Thiên Chúa của anh em, hết lòng, hết dạ, hết sức anh em" (Đnl 6,5) (GLHTCG, 2133).
(b) Điều răn thứ nhất kêu gọi con người tin vào Thiên Chúa, trông cậy nơi Người và yêu mến Người trên hết mọi sự (GLHTCG, 2134).
(c) "Ngươi phải thờ lạy Đức Chúa là Thiên Chúa của ngươi" (Mt 4,10). Thờ lạy Thiên Chúa, kêu cầu Người, dâng lên Người việc phụng thờ xứng hợp, chu toàn các lời khấn hứa cùng Người, là những hành vi thuộc nhân đức thờ phượng theo điều răn thứ nhất (GLHTCG, 2135).
(d) Cá nhân cũng như xã hội đều phải tôn thờ Thiên Chúa cách xứng hợp (GLHTCG, 2136).
(đ) Con người "phải có quyền tự do bày tỏ tôn giáo của mình cách thầm kín và công khai" (x. Phẩm giá con người, 15) (GLHTCG, 2137).
(e) Mê tín là lệch lạc trong việc thờ phượng Thiên Chúa chân thật, chẳng hạn thờ ngẫu tượng hay trong các hình thức bói toán và ma thuật (GLHTCG, 2138).
(g) Điều răn thứ nhất cấm các hành vi vô đạo như thử thách Thiên Chúa bằng lời nói hay hành động, phạm thánh và mại thánh (GL HTCG, 2139).
(h) Vô thần là tội nghịch với điều răn thứ nhất, vì từ chối hay phủ nhận sự hiện hữu của Thiên Chúa (GLHTCG, 2140).
(i) Việc tôn kính các ảnh tượng thánh đặt nền tảng trên mầu nhiệm Nhập Thể của Ngôi Lời Thiên Chúa và không nghịch lại điều răn thứ nhất (GLHTCG, 2141).

* Điều răn thứ hai:

(a) "Ôi lạy Chúa, Thiên Chúa chúng con, cao cả thay danh Chúa khắp trên hoàn cầu" (Tv 8,2) (GLHTCG, 2160).
(b) Điều răn thứ hai dạy phải tôn kính danh Thiên Chúa. Danh Thiên Chúa là thánh (GLHTCG, 2161).
(c) Điều răn thứ hai cấm mọi lạm dụng danh Chúa. Lộng ngôn là tội xúc phạm đến Danh của Thiên Chúa, của Đức Giêsu Kitô, Đức Trinh Nữ Maria và các thánh (GLHTCG, 2162).
(d) Thề gian là kêu cầu Thiên Chúa làm chứng cho một lời nói dối. Bội thề là một tội trọng xúc phạm đến Thiên Chúa, Đấng luôn trung thành giữ lời đã hứa (GLHTCG, 2163).
(đ) "Đừng thề nhân danh Đấng Sáng Tạo, cũng đừng lấy thụ tạo mà thề, ngoại trừ khi thề cách chân thật, vì cần thiết và với lòng tôn kính" (Thánh Inhã, Linh Thao 38) (GLHTCG, 2164).
(e) Qua bí tích Thánh Tẩy, người Kitô hữu nhận được một tên riêng trong Hội Thánh. Cha mẹ, người đỡ đầu và cha xứ cần lưu tâm để đặt cho họ một tên Kitô giáo. Vị thánh bổn mạng nêu gương sống đức bác ái và luôn chuyển cầu cho ta (GLHTCG, 2165).
(g) Người Kitô hữu bắt đầu các kinh nguyện và việc làm bằng dấu Thánh Giá "nhân danh Chúa Cha và Chúa Con và Chúa Thánh Thần. Amen" (GLHTCG, 2166).
(h) Thiên Chúa gọi từng người bằng chính tên của họ (x. Is 43,1) (GL HTCG, 2167).

* Điều răn thứ ba:

(a) "Ngươi hãy giữ ngày sabát và thánh hóa nó" (Đnl 5,12). "Ngày thứ bảy là ngày sabát, ngày nghỉ ngơi, được thánh hiến cho Chúa" (Xh 31,15) (GLHTCG, 2189).
(b) Ngày Chúa Nhật thay thế ngày sabát vốn là ngày tưởng nhớ việc hoàn tất công trình sáng tạo thứ nhất. Ngày Chúa Nhật tưởng nhớ công trình sáng tạo mới được khai mở với biến cố Đức Kitô phục sinh (GLHTCG, 2190).
(c) Hội Thánh mừng kính Đức Kitô Phục Sinh vào ngày thứ tám thường được gọi là ngày của Chúa hay ngày Chúa Nhật (GLHTCG, 2191).
(d) "Theo truyền thống các tông đồ ngày Chúa Nhật phải được giữ trong toàn thể Hội Thánh như lễ buộc". Người tín hữu buộc phải dự thánh lễ vào ngày Chúa Nhật và các ngày lễ buộc khác (GLHTCG, 2192).
(đ) Ngày Chúa Nhật và các ngày lễ buộc, người tín hữu tránh lao động và các sinh hoạt ngăn trở việc thờ phượng Thiên Chúa, việc hưởng niềm vui và tịnh hưởng cần thiết cho tinh thần cũng như thể xác (GL HTCG, 2193).
(e) Ngày Chúa Nhật được thiết lập cho "mỗi người có đủ thời gian nghỉ ngơi và nhàn rỗi để sống gia đình, văn hóa, xã hội và tôn giáo "(x. VMvHV, 67,3) (GLHTCG, 2194).
(g) Nếu không cần thiết, người Kitô hữu đừng bắt anh em làm điều gì khiến họ không thể giữ ngày Chúa Nhật (GLHTCG, 2195).

* Điều răn thứ tư:

(a) "Hãy thảo kính cha mẹ" (Dt 5,16; Mc 7,10) (GL HTCG, 2247).
(b) Theo điều răn thứ tư, Thiên Chúa muốn rằng, sau Người, chúng ta phải tôn kính cha mẹ và những ai được Người trao ban quyền hành để mưu ích cho chúng ta (GLHTCG, 2248).
(c) Hôn nhân được thiết lập trên giao ước và sự ưng thuận của đôi vợ chồng. Hôn nhân và gia đình nhắm tới lợi ích của đôi vợ chồng, cũng như việc sinh sản và giáo dục con cái (GLHTCG, 2249).
(d) "Sự lành mạnh của con người, của xã hội nhân loại và Kitô giáo liên kết chặt chẽ với tình trạng tốt đẹp của cộng đồng hôn nhân và gia đình" (VMvHV, 47,1) (GLHT CG, 2250).
(đ) Cha mẹ là những người đầu tiên có trách nhiệm giáo dục đức tin, cầu nguyện và mọi đức tính tốt cho con cái tùy theo khả năng, cha mẹ có bổn phận đáp ứng những nhu cầu thể xác và tâm linh của con cái (GLHTCG, 2252).
(e) Cha mẹ phải tôn trọng và tạo thuận lợi cho ơn gọi của con cái mình. Họ phải ý thức và dạy dỗ cho con biết rằng theo Đức Giêsu là ơn gọi đầu tiên của Kitô hữu (GLHTCG, 2253).
(g) Công quyền phải tôn trọng các quyền căn bản của con người và các điều kiện để con người thể hiện tự do (GLHTCG, 2254).
(h) Người công dân phải cộng tác với chính quyền để xây dựng xã hội trong tinh thần tôn trọng chân lý, công bằng, liên đới và tự do (GLHTCG, 2255).
(i) Theo lương tâm, người công dân không được tuân theo các luật lệ của chính quyền khi chúng ngược lại đòi hỏi luân ly. "Phải vâng lời Thiên Chúa hơn vâng lời loài người" (Cv 5,29) (GLHTCG, 2256).
(k) Mọi tập thể đều phán đoán và hành động dựa trên một nhân sinh quan. Nếu không được ánh sáng Tin Mừng soi dẫn về Thiên Chúa và về con người, tập thể dễ trở thành độc tài (GLHTCG, 2257).

* Điều răn thứ năm:

(a) "Chính Thiên Chúa nắm trong tay, hồn của mọi sinh linh cũng như hơi thở của mọi xác phàm" (G 12,10) (GL HTCG, 2318).
(b) Từ lúc mới được thành thai cho đến khi chết, mạng sống con người là điều linh thánh, vì con người đã được Thiên Chúa dựng nên vì chính họ, theo hình ảnh và giống Thiên Chúa hằng sống và thánh thiện (GLHTCG, 2319).
(c) Giết người là một tội trọng phạm đến phẩm giá con người và sự thánh thiện của Đấng Sáng Tạo (GLHTCG, 2320).
(d) Luật cấm giết người không loại trừ quyền làm cho một kẻ gây hấn mất khả năng tác hại. Tự vệ chính đáng là một trọng trách của người có trách nhiệm bảo vệ mạng sống người khác hay công ích (GLHTCG, 2321).
(đ) Ngay từ lúc mới được thành thai, đứa bé đã có quyền sống. Trực tiếp phá thai, như là mục đích hay phương tiện đều là "một hành vi ô nhục" (VMvHV, 27,3) vi phạm nghiêm trọng luật luân lý. Hội Thánh ra vạ tuyệt thông cho kẻ phạm tội này (GLHTCG, 2322).
(e) Ngay từ lúc thành thai, phôi thai phải được đối xử như một con người, nên phải được che chở cho được toàn vẹn, được chăm sóc và chữa trị như mọi con người khác (GLHTCG, 2323).
(g) Cố ý giết chết để tránh đau dù dưới bất cứ hình thức và lý do nào, vẫn là tội giết người. Một tội phạm nghiêm trọng nghịch với phẩm giá con người và với lòng tôn kính Thiên Chúa hằng sống, Đấng Tạo Thành con người (GLHTCG, 2324).
(h) Tự sát là lỗi phạm nặng nề đến sự công bình, đức cậy và đức mến. Điều răn người thứ năm cấm tự sát (GLHTCG, 2325).
(i) Gương xấu là một lỗi nặng nếu vì làm một điều xấu hay bỏ một điều tốt, mà lôi kéo tha nhân đến chỗ cố ý phạm lỗi nặng (GLHT CG, 2326).
(k) Vì cuộc chiến tranh nào cũng gây ra tai họa và bất công, chúng ta phải làm hết khả năng để ngăn chặn, Hội Thánh cầu nguyện: "Xin Chúa cứu chữa chúng con khỏi nạn đói, ôn dịch và chiến tranh" (GL HTCG, 2327).
(l) Hội Thánh và lý trí con người đều khẳng định rằng: luật luân lý vẫn còn nguyên hiệu lực trong thời gian chiến tranh. Những thực hành cố ý nghịch với quyền các dân tộc và với các nguyên tắc phổ quát của quyền đó đều là tội ác (GLHTCG, 2328).
(m) "Chạy đua vũ trang là một tai họa hết sức trầm trọng cho nhân loại và xúc phạm đến người nghèo một cách không thể tha thứ được" (VMvHV, 81,3) (GL HTCG, 2327).
(n) "Phúc thay ai xây dựng hòa bình, vì họ sẽ được gọi là con Thiên Chúa" (Mt 5,9) (GLHTCG, 2330)

* Điều răn thứ sáu:

(a) "Tình yêu là ơn gọi căn bản và bẩm sinh của mọi con người" (Đời sống gia đình, 11) (GLHTCG, 2392).
(b) Khi sáng tạo con người có nam có nữ, Thiên Chúa cho họ bình đẳng về nhân phẩm. Mỗi người, nam cũng như nữ, phải nhìn nhận và chấp nhận phái tính của mình (GLHTCG, 2393).
(c) Đức Kitô là khuôn mẫu của đời sống khiết tịnh. Mỗi tín hữu đều được mời gọi sống đời khiết tịnh theo bậc sống của mình (GLHTCG, 2394).
(d) Sống khiết tịnh là làm chủ phái tính, giúp ta làm chủ bản thân (GLHTCG, 2395).
(đ) Các tội trọng nghịch với đức khiết tịnh là: thủ dâm, tà dâm, sản xuất và phổ biến ấn phẩm khiêu dâm, đồng tính luyến ái (GLHTCG, 2396).
(e) Giao ước giữa đôi vợ chồng đã tự do ký kết bao hàm một tình yêu chung thủy buộc vợ chồng phải bất khả phân ly (GLHTCG, 2397).
(g) Con cái là phúc lành, quà tặng, cứu cánh của hôn nhân. Khi thông truyền sự sống, đôi vợ chồng tham dự vào tư cách làm cha làm mẹ cùng với Thiên Chúa (GLHTCG, 2398).
(h) Việc điều hòa sinh sản là một trong những khía cạnh thể hiện tư cách làm cha làm mẹ có trách nhiệm. Nhưng ý hướng chính đáng của vợ chồng không đủ để biện minh cho việc xử dụng các phương thế không thể chấp nhận về phương diện luân lý (thí dụ trực tiếp triệt sản hoặc ngừa thai) (GLHTCG, 2399).
(i) Ngoại tình và ly dị, đa thê và tự do sống chung là những xúc phạm nặng nề đến phẩm giá của hôn nhân. (GLHTCG, 2400).

* Điều răn thứ bẩy:

(a) "Ngươi chớ trộm cắp" (Đnl 5,19). "Những kẻ trộm cắp, tham lam... cướp bóc sẽ không được Nước Thiên Chúa làm cơ nghiệp" (1 Cr 6,10) (GLHTCG, 2450).
(b) Điều răn thứ bảy truyền phải thực thi công bằng và bác ái khi quản lý của cải trần thế và thành quả lao động (GLHTCG, 2451).
(c) Thiên Chúa sáng tạo vạn vật cho toàn thể nhân loại. Quyền tư hữu không hủy bỏ quyền chung hưởng những của cải này (GLHTCG, 2452).
(d) Điều răn thứ bảy cấm trộm cắp. Trộm cắp là chiếm đoạt tài sản của kẻ khác nghịch lại ý muốn chính đáng của sở hữu chủ (GLHTCG, 2453).
(đ) Mọi hình thức chiếm đoạt hay sử dụng tài sản của kẻ khác cách bất công, đều vi phạm điều răn thứ bảy. Bất công đòi buộc phải đền bù. Công bằng giao hoán buộc phải hoàn lại tài sản đã bị chiếm đoạt (GLHTCG, 2454).
(e) Luật luân lý nghiêm cấm mọi hành vi nô lệ hóa con người vì lợi nhuận hay độc tài, hoặc mua bán, trao đổi họ như hàng hóa (GLHT CG, 2455).
(g) Đấng Sáng Tạo đã ban cho con người quyền sử dụng tài nguyên khoáng sản, thực vật và động vật trên thế giới. Nhưng họ phải tôn trọng những trách nhiệm luân lý, đối với cả những thế hệ tương lai (GLHTCG, 2456).
(h) Thiên Chúa trao cho con người quyền trên các thú vật. Con người phải chăm sóc chúng. Và được sử dụng để đáp ứng những nhu cầu chính đáng của con người (GLHTCG, 2457).
(i) Trong lãnh vực kinh tế và xã hội, Hội Thánh có quyền lên tiếng khi những quyền căn bản của con người hay ơn cứu độ đòi buộc. Hội Thánh quan tâm đến công ích thuộc lãnh vực trần thế của loài người, bao lâu công ích này qui hướng vào sự thiện hảo tối cao là cùng đích của chúng ta (GLHTCG, 2458).
(k) Con người là tác giả, trung tâm và cứu cánh của toàn bộ đời sống kinh tế và xã hội. Mấu chốt của vấn đề xã hội là làm thế nào để của cải Thiên Chúa sáng tạo cho mọi người hưởng dùng, được đến tận tay mọi người theo lẽ công bằng và tương trợ bác ái (GLHTCG, 2459).
(l) Vì con người vừa là tác giả, vừa là mục tiêu của lao động, nên con người là yếu tố quyết định cho giá trị chính yếu của lao động. Qua lao động, con người tham gia vào chương trình sáng tạo của Thiên Chúa. Lao động có thể có giá trị cứu độ, nếu con người biết kết hợp với Đức Kitô (GLHTCG, 2460).
(m) Phát triển đích thực là phát triển con người toàn vẹn. Giúp họ thêm khả năng đáp lại ơn gọi làm người, nghĩa là đáp lại lời mời gọi của Thiên Chúa (GLHTCG, 2461).
(n) Bố thí là bằng chứng của bác ái huynh đệ và là hành vi công bằng đẹp lòng Thiên Chúa (GLHTCG, 2462).
(o) Chẳng lẽ chúng ta không nhận ra Ladarô, người hành khất đói khổ trong dụ ngôn của Đức Giêsu, giữa bao người không cơm áo, không nhà cửa? Chẳng lẽ chúng ta không nghe được tiếng của Đức Giêsu: "Các ngươi đã không làm cho chính Ta?" (Mt 25,45) (GLHTCG, 2463).

* Điều răn thứ tám:

(a) "Ngươi không được làm chứng gian hại người" (Xh 20,16). Các môn đệ của Đức Kitô phải "mặc lấy con người mới là con người được sáng tạo theo hình ảnh Thiên Chúa để sống thật sự công chính và thánh thiện" (Ep 4,24) (GLHTCG, 2504).
(b) Chân lý hoặc chân thật là nhân đức giúp con người thành thật trong hành vi và lời nói, không gian dối, giả vờ và đạo đức giả (GLHT CG, 2505).
(c) Người Kitô hữu đừng hổ thẹn vì phải làm chứng cho Chúa (2 Tm 1,8) bằng lời nói cũng như việc làm. Tử đạo là lời chứng cao quí nhất về chân lý đức tin (GLHTCG, 2506).
(d) Vì phải tôn trọng thanh danh và danh dự của người khác, chúng ta không được nói xấu hay vu khống ai bằng thái độ hay bằng lời nói (GLHTCG, 2507).
(đ) Nói dối là nói sai sự thật với ý định đánh lừa (GLHTCG, 2508).
(e) Ai lỗi phạm đến chân lý thì buộc phải đền bù (GLHTCG, 2509).
(g) "Khuôn vàng thước ngọc" giúp chúng ta nhận định trong những trường hợp cụ thể xem có nên hay không nên tiết lộ sự thật cho người muốn biết (GLHTCG, 2510).
(h) "Bí mật tòa giải tội là bất khả vi phạm. Bí mật nghề nghiệp phải được giữ kín. Không được tiết lộ những chuyện tâm sự có thể gây hại cho người khác" (GLHTCG, 2511).
(i) Xã hội có quyền được biết những tin tức phổ biến dựa trên chân lý, tự do và công bằng. Khi sử dụng các phương tiện truyền thông xã hội, những người tiếp nhận phải biết giữ điều độ và kỷ luật (GL HTCG, 2512).
(g) "Mỹ thuật và nhất là nghệ thuật thánh, tự bản tính, nhằm diễn tả một cách nào đó, vẻ đẹp vô biên của Thiên Chúa qua những tác phẩm nhân loại; nghệ thuật này càng làm cho Thiên Chúa được ca tụng và tôn vinh hơn, một khi những tác phẩm đó không nhằm chủ đích nào khác ngoài sự tích cực góp phần hướng tâm trí con người sốt sắng về cùng Chúa" (Hiến chế Phụng vụ thánh, 122) (GLHTCG, 2513).

* Điều răn thứ chín :

(a) "Ai nhìn người phụ nữ mà thèm muốn trong lòng đã ngoại tình với người ấy rồi" (Mt 5,28) (GLHTCG, 2528).
(b) Điều răn thứ chín dạy chúng ta đừng chiều theo những ham muốn xác thịt hay nhục dục (GLHTCG, 2529).
(c) Muốn chiến đấu chống lại nhục dục, chúng ta phải thanh luyện tâm hồn và sống tiết độ (GLHTCG, 2530).
(d) Người có "lòng trong sạch ngay thẳng" sẽ được nhìn ngắm Thiên Chúa, ngay từ bây giờ, họ biết nhìn mọi sự theo cái nhìn của Thiên Chúa (GLHTCG, 2531).
(đ) Để thanh luyện tâm hồn, chúng ta phải cầu nguyện, sống khiết tịnh, có ý hướng và cái nhìn trong sáng (GLHTCG, 2532).
(e) Người có tâm hồn trong sạch, biết giữ nết na, nghĩa là nhẫn nại, đoan trang và kín đáo. Người nết na biết giữ kín những điều thầm kín của mình và của ngườu khác (GLHTCG, 2533).

* Điều răn thứ mười:

(a) "Kho tàng của anh ở đâu thì lòng anh ở đó" (Mt 6,21) (GLHTCG, 2551).
(b) Điều răn thứ mười cấm tham lam do ham mê của cải và thế lực đồng tiền (GLHTCG, 2552).
(c) Ganh tị là buồn phiền vì thấy kẻ khác giầu hơn mình và muốn chiếm đoạt. Ganh tị là một mối tội đầu (GLHTCG, 2553).
(d) Muốn thắng được tính ganh tị, người tín hữu phải sống nhân hậu, khiêm nhường và phó thác vào Chúa quan phòng (GLHTCG, 2554).
(đ) Người Kitô hữu "đã đóng đinh tính xác thịt vào thập giá cùng với các dục vọng và đam mê" (Gl 5,24). Họ được Thánh Thần hướng dẫn và tuân theo ý muốn của Người (GLHTCG, 2555).
(e) Để được vào Nước Trời, con người phải dứt bỏ lòng quyến luyến của cải. "Phúc thay ai có tâm hồn nghèo khó" (Mt 5,3) (GLHTCG, 2556).
(g) Khát vọng đích thực của con người: "Tôi muốn thấy Thiên Chúa". Chỉ có mạch nước mang lại" sự sống đời đời" mới thỏa mãn được khát vọng này (Ga 4,14) (GLHT CG, 2557).

III. Ứng dụng thực hành

3.1 Có một hiểu biết đầy đủ hơn về tầm quan trọng và về nội dung của đời sống luân lý Kitô hữu, tức của đời sống đức tin trong Đức Kitô.
3.2 Tích cực tuân giữ Mười Điều Răn và sống theo Tám Mối Phúc Thật của Thánh Kinh Cựu và Tân Ước.
3.3 Quan tâm đến việc giúp người khác (con cái, con em và tân tòng trong giáo xứ, người không Công giáo) sống theo Thập Giới và Bát Phúc của Kitô giáo.

IV. Trao đổi chia sẻ

4.1 Trong Mười Điều Răn thì những Điều Răn nào được coi trọng nhất ngày nay? Do đâu?
4.2 Trong Mười Điều Răn thì những Điều Răn nào bị coi nhẹ nhất ngày nay? Tại sao? Làm cách nào để cải thiện tình trạng sa sút ấy?

V. Cầu nguyện

5.1 Cho mọi Kitô hữu, nhất là các Kitô hữu Việt Nam biết trung thành tuân giữ Mười Điều Răn của Đạo Chúa và sống theo bài giảng Tám Mối Phúc thật của Đức Giêsu trong thế giới hôm nay.
5.2 Cho những người có trách nhiệm các quốc gia, các tổ chức quốc gia và quốc tế để họ quan tâm đến Mười Điều Răn và Tám Mối Phúc thật trong khi tổ chức xã hội và thực thi quyền bính, để quyền lợi của Thiên Chúa và của con người được tôn trọng.

VI. Quyết tâm cá nhân và cộng đoàn

6.1 Nâng cao và đào sâu sự hiểu biết về tầm quan trọng và về nội dung của đời sống đức tin trong Đức Kitô, bằng cách siêng năng tìm tòi, học hỏi và suy niệm.
6.2 Tích cực tuân giữ Mười Điều Răn và sống Tám Mối Phúc Thật trong đời sống cá nhân, gia đình và xã hội, để trở thành một tín đồ trưởng thành của Đạo Chúa và môn đệ xác tín, dấn thân của Chúa Giêsu Kitô.
6.3 Nỗ lực giúp đỡ người khác (con cái trong nhà, con em trong giáo xứ, anh chị em tân tòng, người không công giáo) hiểu biết về Thập giới và sống theo Tinh thần Bát Phúc.

Ngày 24 tháng 03 năm 2003