“Muôn ngàn đời Chúa vẫn trọn tình thương”
BÀI GIẢNG LỄ ĐỨC CHA VINH SƠN NGUYỄN VĂN BẢN TẠ ƠN TẠI CHỦNG VIỆN QUI NHƠN
02-06-2009
Kính thưa cộng đoàn phụng vụ,
Vừa mới chưa tròn hai ngày, Chúa nhật vừa qua, Phụng vụ của Giáo hội mừng Chúa Thánh Thần hiện xuống ban muôn ơn cho các Tông đồ, hôm nay chúng ta họp nhau đây cùng với Đức cha Vinh Sơn Nguyễn Văn Bản, một người con của Chủng viện Qui Nhơn nầy, để cùng tạ ơn Chúa vì hồng ân đã được Chúa Thánh Thần thánh hóa và thánh hiến làm Giám mục, kế thừa sứ vụ các thánh Tông Đồ.
Kính thưa Đức cha Vinh Sơn,
Trong bầu khí huynh đệ này, cho phép con được nhắc đến tên riêng của Đức cha mà anh em thường gọi là “Bản đen” trong những ngày xưa thân ái tại Chủng viện Qui Nhơn nầy. Với chất giọng Bình Định ‘nậu tụi’ thì “Bản” có “g” hay không có “g” cũng như nhau. “Bản đen” là cái bảng đen, một dụng cụ thiết yếu trong các lớp học, là một không gian cố định dành cho những viên phấn trắng được tung tăng uốn lượn nhảy múa trong tay nhuần nhuyễn thành thạo của thầy cô giáo hay nguệch ngoạc, ngỡ ngàng, e thẹn của học trò. Cái bảng đen của thời đi học hay cái bảng đen ghi lịch làm việc của cả đời người là những vệt phấn trắng thời gian, là những kỷ niệm, là những chữ và nghĩa chất chồng, là những khoảnh khắc bôi và xóa, là những ký ức, là bao chuyện đời…
Cái “Bản đen Vinh Sơn” đã được Thiên Chúa viết lên hai chữ Giám Mục. Trước khi được Thiên Chúa viết, “Bản đen” này đã được Thiên Chúa trao phó cho nhiều bàn tay con người qua nhiều thế hệ nâng niu, viết vẽ, tô xóa. Riêng tại Chủng viện Qui Nhơn, từ năm 1968 đến năm 1975, “Bản đen” này đã được nâng niu, viết vẽ, tô xóa từ những bậc trí thức khôn ngoan với những văn bằng tiến sĩ, cử nhân cho đến những Ma Xơ hiền lành yêu thương như mẹ, cho đến một ông già bập bẹ vài tiếng bồi Tây nên được gọi là ông “Mê Xừ” với chỉ một công việc sắp dĩa muỗng nĩa ra bàn ăn ngày ba bữa sáng trưa chiều, thậm chí đến một anh Săn, đi ngắt ngẻo, rặn một chữ a không ra mà chỉ ra ngọng ngịu và cà lăm lắp bắp, tối ngày chỉ một việc hốt trấu đổ vào lò, đứng canh, châm trấu cho lửa lò cháy đều, cho canh sôi, cho cơm chín, cho cá thấm gia vị.
Quả vậy, sự sống, sự nghiệp của mỗi người là một kết tinh của bao tấm lòng, là một kết hợp những hy sinh, những hao mòn của bao sự sống khác. Và, cho dẫu một sự sống èo uột, thiểu năng thể lý vẫn có cái gì để đóng góp, có cái gì để cho đi. Đáng trân trọng thay. Đáng quý thay.
Cám ơn cái cối cái chày.
Đêm khuya giã gạo có mày có tao
Quả vậy, lòng biết ơn là một nhận thức và nỗ lực. Nhận thức một Thiên Chúa quan phòng đang chăm sóc mỗi người chúng ta trong tình yêu phong phú của Ngài. Ít hay nhiều, một phần thân xác, sự sống của Đức cha Vinh Sơn, của anh chị em cựu chủng sinh chúng ta đây đã được nuôi dưỡng từ mồ hôi, nước mắt, công khó của bao người, trong đó có các Hội Hữu Phaolô Châu còn sống và đã qua đời.
Hội Phaolo Châu được Đức Cha Damien Grangeon Mẫn, vị Giám mục thứ 14 cai quản Giáo Phận Qui Nhơn, thành lập năm 1921, nhằm gây quỹ tài trợ cho việc đào tạo linh mục trong Giáo Phận. Phaolô Châu là một linh mục nguyên quán Gò Thị, làm Giám Đốc chủng viện thời thánh Giám mục Têphanô Thể. Cha Phaolô Châu đã mở cánh cửa lòng ra đón nhận cái chết vì đạo tại Gò Chàm, Bình Định vào tháng 05/1862. Các Hội Hữu Phaolô Châu là những con người đã quảng đại mở cánh cửa lòng ra cho Chúa và Giáo Hội. Thời gian ở Chủng viện là thời chúng ta cùng được ‘cưng như trứng, được hứng như hoa’ từ những tấm lòng quảng đại của các Hội Hữu Phaolô Châu.
Lòng biết ơn là một nhận thức và nỗ lực. Nỗ lực bày tỏ lòng biết ơn của mình qua những quảng đại xin vâng trước thánh ý của Thiên Chúa trong đời sống. Đó là một lối nỗ lực bày tỏ đức tin của chúng ta.
Mười người phung cùi được chữa lành nhưng chỉ có một người trở lại tạ ơn Thiên Chúa. Mười người phong cùi được chữa lành nhưng duy nhất chỉ có một người nhận ra ơn, biết ơn mới được tuyên bố là được ơn cứu độ. Việc quay trở lại tạ ơn Thiên Chúa đã diễn tả một niềm tin trọn vẹn, niềm tin nầy cao quý hơn niềm tin đã thúc đẩy cả mười người đi trình diện với các tư tế trước khi được chữa lành. Bởi lẽ niềm tin trọn vẹn nầy dẫn tới sự sống đời đời là điều cao quý hơn việc được chữa lành thể xác nay còn mai mất.
“Mưa lâm râm ướt dầm lá hẹ
Em thương một người có mẹ không cha
Bánh xèo bánh đúc có hành hoa
Bánh hỏi thiếu hẹ như ma không kèn.
Quả vậy, chín người được chữa lành không quay trở lại tạ ơn giống như “Bánh hỏi thiếu hẹ như ma không kèn”. Bởi lẽ, việc chữa lành bệnh là một hồng ân, nhưng hồng ân nầy chỉ là buớc khai mở đưa đường dẫn lối đến đức tin trọn vẹn. Người phung cùi được chữa lành quay trở lại tạ ơn, nhờ đó anh đã nhận ra Đấng ban ơn, nhận ra sáng kiến của Thiên Chúa, để sẳn sàng đáp lại hầu được đón nhận ơn cứu độ.
Về phía Thiên Chúa, Giám mục là một sáng kiến, là một hồng ân của Thánh Thần cho dân Chúa trên đường lữ hành. Về phía con người đó là sự nỗ lực đáp trả của đức tin trước sáng kiến của Thiên Chúa. Nhận lãnh chức vị Giám mục là nhận lấy sứ mạng rất cao quý. Cái gì, sự gì càng cao quý thì càng cheo leo. Như hạt ngọc trai, con trai phải tiết ra càng nhiều nước mắt, nước mắt càng trong trẻo tinh khiết, thì hạt ngọc trai càng to, càng sáng.
Cách thường gọi trong đạo, Giám mục là Đức cha nghe rất thân thương, rất trân trọng nhưng rất đầy trách nhiệm. Trong Phúc âm thánh Matthêu 23,8-12 Chúa Giêsu dạy rằng: “phần anh em, đừng để ai gọi mình là thầy, vì anh em chỉ có một Thầy, còn tất cả anh em đều là anh em với nhau. Anh em cùng đừng gọi ai dưới đất là cha vì anh em chỉ có một Cha trên trời”. Hẳn nhiên khi dạy các môn đệ mình như thế, Chúa Giêsu không có ý chối bỏ cách xưng hô tình nghĩa của một người học trò đối với thầy giáo, của một người con đối với đấng sinh thành dưỡng dục, của một người đồ đệ đối với sư phụ kính yêu của mình như Elisa đã gọi Elia Cha ơi! Cha ơi. Khi Elia lên trời trong cơn lốc lửa (2V 2, 12) hoặc như ông Gióp thể hiện tấm lòng của mình đối với những kẻ nghèo khó, ông xem đó như là bổn phận của ông, ông tự đặt mình là cha của những kẻ nghèo túng (Job 29,16).
Về điểm này, Claude Tassin có chú giải: “Dù sao ở đây tác giả Phúc âm muốn nhắc lại một tiêu chuẩn bao trùm và vượt ra ngoài vấn đề danh xưng: đó là chức vụ trong Kitô giáo phải được xem như một công cụ để phục vụ. Vâng! Một công cụ để phục vụ. Sau khi đầy Thánh Thần, các thánh Tông đồ đã hiểu thấu đáo và thực hành triệt để giáo huấn của Thầy chí thánh. Trong yêu thương và trách nhiệm, các thánh Tông đồ đã gọi nhiều người là con của các Ngài,
- Như Thánh Phêrô gọi Marcô trong thứ 1Pr 5,13 “và con tôi là Marcô gởi lời chào anh em.”
- Như thánh Gioan trong các thư gởi các giáo đoàn: “Hỡi anh em là những người con bé nhỏ của tôi.”
- Như thánh Phaolô đã thường gọi Timôthê, Titô, Philemon và Onesimo là con của ngài và đặc biệt trong thư 1 gởi giáo đoàn Côrintô với lời lẽ đầy yêu thương và tinh thần trách nhiệm: “Tôi viết những lời này không phải để làm cho anh em xấu hổ, nhưng là để sửa dạy anh em, những người con yêu quý của tôi, nhờ Tin mừng, chính tôi đã sinh ra anh em” (1Cr 4,14).
Bởi đó, giống như người cha tự nhiên theo huyết thống, Giám mục được Thiên Chúa ủy thác lưu truyền sự sống, một sự sống tuôn trào từ nơi Thiên Chúa, làm cho con người được sống dồi dào và được sống đời đời.
Giống như người cha tự nhiên, Giám mục được Thiên Chúa ủy thác làm cho con cái mình nhận biết chân lý của sự sống là Đức Giêsu Kitô, hình ảnh tuyệt hảo của Thiên Chúa Cha.
Giống như người cha tự nhiên, Giám mục được Thiên Chúa ủy thác nhiệm vụ qui tụ, trở nên điểm hiệp nhất, tạo nên một gia đình huynh đệ của Thiên Chúa.
Nếu tình cha con tự nhiên đòi hỏi mồ hôi, công khó, tình thương, lòng quảng đại. Thì tình cha con thiêng liêng đồng thời là sứ mạng của Giám mục cũng không thoát khỏi nhưng đòi hỏi ấy.
Như thánh Phaolô đã bộc bạch trong thư gởi giáo đoàn Galata: “Hỡi anh em, những người con bé nhỏ mà tôi phải quặn đau sinh ra một lần nữa cho đến khi Đức Kitô Giêsu được hình thành nơi anh em” (Gal 4,19).
Và chính Đức Kitô cũng đã được thư Do thái diễn tả: “Chính Người trong cuộc sống trần thế đã đọc kinh cầu khẩn than van khóc lóc với Đấng có thể cứu Người khỏi chết, và tinh thần vâng phục của Người, Người đã được nhận lời” (Dt 5,7).
Kính thưa……
Đứng trước sứ mạng của Giám mục rất cao quý, nhưng cũng rất nhiều đòi hỏi. Chắc hẳn trong thận phận yếu đuối con người khi được trao gởi sứ mạng ấy, Đức cha Vinh Sơn đã cảm thấy Chúa chọn con như chọn sét giữa cây tầm thường. Cũng như thánh Phaolô đã từng ví mình “như cái bình sành dễ vỡ”. Nhưng rồi Phaolô cũng cảm nghiệm được: “ơn Ta đủ cho con”.
Một cái nhìn thuộc linh như thế, để cùng với Đức cha Vinh Sơn xác tín rằng: “không phải con đã chọn Thầy nhưng chính Thầy đã chọn con” (Ga 15,16) và xác tín như Giêrêmia: “Trước khi ngươi thành hình trong dạ mẹ, Ta đã biết ngươi, trước khi ngươi lọt lòng mẹ Ta đã thánh hoá ngươi. Ta đặt ngươi làm ngôn sứ cho chư dân” (Gr 1,5). Và đứng trước sứ mạng nặng nề vẫn tin tưởng như Isaia: “ Thiên Chúa tôi thờ là sức mạnh của tôi” (Is 49,5). Trong những xác tín đó, hôm nay cùng với Đức cha Vinh Sơn hát lời Thánh Vịnh: “muôn ngàn đời Chúa vẫn trọn tình thương” và mạnh dạn “bước đi trong Thánh Thần (Gal 5,16). Amen.
BÀI GIẢNG LỄ ĐỨC CHA VINH SƠN NGUYỄN VĂN BẢN TẠ ƠN TẠI CHỦNG VIỆN QUI NHƠN
02-06-2009
Kính thưa cộng đoàn phụng vụ,
Vừa mới chưa tròn hai ngày, Chúa nhật vừa qua, Phụng vụ của Giáo hội mừng Chúa Thánh Thần hiện xuống ban muôn ơn cho các Tông đồ, hôm nay chúng ta họp nhau đây cùng với Đức cha Vinh Sơn Nguyễn Văn Bản, một người con của Chủng viện Qui Nhơn nầy, để cùng tạ ơn Chúa vì hồng ân đã được Chúa Thánh Thần thánh hóa và thánh hiến làm Giám mục, kế thừa sứ vụ các thánh Tông Đồ.
Kính thưa Đức cha Vinh Sơn,
Trong bầu khí huynh đệ này, cho phép con được nhắc đến tên riêng của Đức cha mà anh em thường gọi là “Bản đen” trong những ngày xưa thân ái tại Chủng viện Qui Nhơn nầy. Với chất giọng Bình Định ‘nậu tụi’ thì “Bản” có “g” hay không có “g” cũng như nhau. “Bản đen” là cái bảng đen, một dụng cụ thiết yếu trong các lớp học, là một không gian cố định dành cho những viên phấn trắng được tung tăng uốn lượn nhảy múa trong tay nhuần nhuyễn thành thạo của thầy cô giáo hay nguệch ngoạc, ngỡ ngàng, e thẹn của học trò. Cái bảng đen của thời đi học hay cái bảng đen ghi lịch làm việc của cả đời người là những vệt phấn trắng thời gian, là những kỷ niệm, là những chữ và nghĩa chất chồng, là những khoảnh khắc bôi và xóa, là những ký ức, là bao chuyện đời…
Cái “Bản đen Vinh Sơn” đã được Thiên Chúa viết lên hai chữ Giám Mục. Trước khi được Thiên Chúa viết, “Bản đen” này đã được Thiên Chúa trao phó cho nhiều bàn tay con người qua nhiều thế hệ nâng niu, viết vẽ, tô xóa. Riêng tại Chủng viện Qui Nhơn, từ năm 1968 đến năm 1975, “Bản đen” này đã được nâng niu, viết vẽ, tô xóa từ những bậc trí thức khôn ngoan với những văn bằng tiến sĩ, cử nhân cho đến những Ma Xơ hiền lành yêu thương như mẹ, cho đến một ông già bập bẹ vài tiếng bồi Tây nên được gọi là ông “Mê Xừ” với chỉ một công việc sắp dĩa muỗng nĩa ra bàn ăn ngày ba bữa sáng trưa chiều, thậm chí đến một anh Săn, đi ngắt ngẻo, rặn một chữ a không ra mà chỉ ra ngọng ngịu và cà lăm lắp bắp, tối ngày chỉ một việc hốt trấu đổ vào lò, đứng canh, châm trấu cho lửa lò cháy đều, cho canh sôi, cho cơm chín, cho cá thấm gia vị.
Quả vậy, sự sống, sự nghiệp của mỗi người là một kết tinh của bao tấm lòng, là một kết hợp những hy sinh, những hao mòn của bao sự sống khác. Và, cho dẫu một sự sống èo uột, thiểu năng thể lý vẫn có cái gì để đóng góp, có cái gì để cho đi. Đáng trân trọng thay. Đáng quý thay.
Cám ơn cái cối cái chày.
Đêm khuya giã gạo có mày có tao
Quả vậy, lòng biết ơn là một nhận thức và nỗ lực. Nhận thức một Thiên Chúa quan phòng đang chăm sóc mỗi người chúng ta trong tình yêu phong phú của Ngài. Ít hay nhiều, một phần thân xác, sự sống của Đức cha Vinh Sơn, của anh chị em cựu chủng sinh chúng ta đây đã được nuôi dưỡng từ mồ hôi, nước mắt, công khó của bao người, trong đó có các Hội Hữu Phaolô Châu còn sống và đã qua đời.
Hội Phaolo Châu được Đức Cha Damien Grangeon Mẫn, vị Giám mục thứ 14 cai quản Giáo Phận Qui Nhơn, thành lập năm 1921, nhằm gây quỹ tài trợ cho việc đào tạo linh mục trong Giáo Phận. Phaolô Châu là một linh mục nguyên quán Gò Thị, làm Giám Đốc chủng viện thời thánh Giám mục Têphanô Thể. Cha Phaolô Châu đã mở cánh cửa lòng ra đón nhận cái chết vì đạo tại Gò Chàm, Bình Định vào tháng 05/1862. Các Hội Hữu Phaolô Châu là những con người đã quảng đại mở cánh cửa lòng ra cho Chúa và Giáo Hội. Thời gian ở Chủng viện là thời chúng ta cùng được ‘cưng như trứng, được hứng như hoa’ từ những tấm lòng quảng đại của các Hội Hữu Phaolô Châu.
Lòng biết ơn là một nhận thức và nỗ lực. Nỗ lực bày tỏ lòng biết ơn của mình qua những quảng đại xin vâng trước thánh ý của Thiên Chúa trong đời sống. Đó là một lối nỗ lực bày tỏ đức tin của chúng ta.
Mười người phung cùi được chữa lành nhưng chỉ có một người trở lại tạ ơn Thiên Chúa. Mười người phong cùi được chữa lành nhưng duy nhất chỉ có một người nhận ra ơn, biết ơn mới được tuyên bố là được ơn cứu độ. Việc quay trở lại tạ ơn Thiên Chúa đã diễn tả một niềm tin trọn vẹn, niềm tin nầy cao quý hơn niềm tin đã thúc đẩy cả mười người đi trình diện với các tư tế trước khi được chữa lành. Bởi lẽ niềm tin trọn vẹn nầy dẫn tới sự sống đời đời là điều cao quý hơn việc được chữa lành thể xác nay còn mai mất.
“Mưa lâm râm ướt dầm lá hẹ
Em thương một người có mẹ không cha
Bánh xèo bánh đúc có hành hoa
Bánh hỏi thiếu hẹ như ma không kèn.
Quả vậy, chín người được chữa lành không quay trở lại tạ ơn giống như “Bánh hỏi thiếu hẹ như ma không kèn”. Bởi lẽ, việc chữa lành bệnh là một hồng ân, nhưng hồng ân nầy chỉ là buớc khai mở đưa đường dẫn lối đến đức tin trọn vẹn. Người phung cùi được chữa lành quay trở lại tạ ơn, nhờ đó anh đã nhận ra Đấng ban ơn, nhận ra sáng kiến của Thiên Chúa, để sẳn sàng đáp lại hầu được đón nhận ơn cứu độ.
Về phía Thiên Chúa, Giám mục là một sáng kiến, là một hồng ân của Thánh Thần cho dân Chúa trên đường lữ hành. Về phía con người đó là sự nỗ lực đáp trả của đức tin trước sáng kiến của Thiên Chúa. Nhận lãnh chức vị Giám mục là nhận lấy sứ mạng rất cao quý. Cái gì, sự gì càng cao quý thì càng cheo leo. Như hạt ngọc trai, con trai phải tiết ra càng nhiều nước mắt, nước mắt càng trong trẻo tinh khiết, thì hạt ngọc trai càng to, càng sáng.
Cách thường gọi trong đạo, Giám mục là Đức cha nghe rất thân thương, rất trân trọng nhưng rất đầy trách nhiệm. Trong Phúc âm thánh Matthêu 23,8-12 Chúa Giêsu dạy rằng: “phần anh em, đừng để ai gọi mình là thầy, vì anh em chỉ có một Thầy, còn tất cả anh em đều là anh em với nhau. Anh em cùng đừng gọi ai dưới đất là cha vì anh em chỉ có một Cha trên trời”. Hẳn nhiên khi dạy các môn đệ mình như thế, Chúa Giêsu không có ý chối bỏ cách xưng hô tình nghĩa của một người học trò đối với thầy giáo, của một người con đối với đấng sinh thành dưỡng dục, của một người đồ đệ đối với sư phụ kính yêu của mình như Elisa đã gọi Elia Cha ơi! Cha ơi. Khi Elia lên trời trong cơn lốc lửa (2V 2, 12) hoặc như ông Gióp thể hiện tấm lòng của mình đối với những kẻ nghèo khó, ông xem đó như là bổn phận của ông, ông tự đặt mình là cha của những kẻ nghèo túng (Job 29,16).
Về điểm này, Claude Tassin có chú giải: “Dù sao ở đây tác giả Phúc âm muốn nhắc lại một tiêu chuẩn bao trùm và vượt ra ngoài vấn đề danh xưng: đó là chức vụ trong Kitô giáo phải được xem như một công cụ để phục vụ. Vâng! Một công cụ để phục vụ. Sau khi đầy Thánh Thần, các thánh Tông đồ đã hiểu thấu đáo và thực hành triệt để giáo huấn của Thầy chí thánh. Trong yêu thương và trách nhiệm, các thánh Tông đồ đã gọi nhiều người là con của các Ngài,
- Như Thánh Phêrô gọi Marcô trong thứ 1Pr 5,13 “và con tôi là Marcô gởi lời chào anh em.”
- Như thánh Gioan trong các thư gởi các giáo đoàn: “Hỡi anh em là những người con bé nhỏ của tôi.”
- Như thánh Phaolô đã thường gọi Timôthê, Titô, Philemon và Onesimo là con của ngài và đặc biệt trong thư 1 gởi giáo đoàn Côrintô với lời lẽ đầy yêu thương và tinh thần trách nhiệm: “Tôi viết những lời này không phải để làm cho anh em xấu hổ, nhưng là để sửa dạy anh em, những người con yêu quý của tôi, nhờ Tin mừng, chính tôi đã sinh ra anh em” (1Cr 4,14).
Bởi đó, giống như người cha tự nhiên theo huyết thống, Giám mục được Thiên Chúa ủy thác lưu truyền sự sống, một sự sống tuôn trào từ nơi Thiên Chúa, làm cho con người được sống dồi dào và được sống đời đời.
Giống như người cha tự nhiên, Giám mục được Thiên Chúa ủy thác làm cho con cái mình nhận biết chân lý của sự sống là Đức Giêsu Kitô, hình ảnh tuyệt hảo của Thiên Chúa Cha.
Giống như người cha tự nhiên, Giám mục được Thiên Chúa ủy thác nhiệm vụ qui tụ, trở nên điểm hiệp nhất, tạo nên một gia đình huynh đệ của Thiên Chúa.
Nếu tình cha con tự nhiên đòi hỏi mồ hôi, công khó, tình thương, lòng quảng đại. Thì tình cha con thiêng liêng đồng thời là sứ mạng của Giám mục cũng không thoát khỏi nhưng đòi hỏi ấy.
Như thánh Phaolô đã bộc bạch trong thư gởi giáo đoàn Galata: “Hỡi anh em, những người con bé nhỏ mà tôi phải quặn đau sinh ra một lần nữa cho đến khi Đức Kitô Giêsu được hình thành nơi anh em” (Gal 4,19).
Và chính Đức Kitô cũng đã được thư Do thái diễn tả: “Chính Người trong cuộc sống trần thế đã đọc kinh cầu khẩn than van khóc lóc với Đấng có thể cứu Người khỏi chết, và tinh thần vâng phục của Người, Người đã được nhận lời” (Dt 5,7).
Kính thưa……
Đứng trước sứ mạng của Giám mục rất cao quý, nhưng cũng rất nhiều đòi hỏi. Chắc hẳn trong thận phận yếu đuối con người khi được trao gởi sứ mạng ấy, Đức cha Vinh Sơn đã cảm thấy Chúa chọn con như chọn sét giữa cây tầm thường. Cũng như thánh Phaolô đã từng ví mình “như cái bình sành dễ vỡ”. Nhưng rồi Phaolô cũng cảm nghiệm được: “ơn Ta đủ cho con”.
Một cái nhìn thuộc linh như thế, để cùng với Đức cha Vinh Sơn xác tín rằng: “không phải con đã chọn Thầy nhưng chính Thầy đã chọn con” (Ga 15,16) và xác tín như Giêrêmia: “Trước khi ngươi thành hình trong dạ mẹ, Ta đã biết ngươi, trước khi ngươi lọt lòng mẹ Ta đã thánh hoá ngươi. Ta đặt ngươi làm ngôn sứ cho chư dân” (Gr 1,5). Và đứng trước sứ mạng nặng nề vẫn tin tưởng như Isaia: “ Thiên Chúa tôi thờ là sức mạnh của tôi” (Is 49,5). Trong những xác tín đó, hôm nay cùng với Đức cha Vinh Sơn hát lời Thánh Vịnh: “muôn ngàn đời Chúa vẫn trọn tình thương” và mạnh dạn “bước đi trong Thánh Thần (Gal 5,16). Amen.