Chiều thứ Sáu 8 tháng 5, ĐTC Bênêđíctô 16 đã đến Amman, thủ đô Vương quốc Giordani, để bắt đầu chuyến viếng thăm mục vụ kéo dài 8 ngày tại Thánh Địa.

Tháp tùng ĐTC trong chuyến bay từ Rôma sang Amman, có 30 vị thuộc đoàn tùy tùng, trong đó có ĐHY quốc vụ khanh và Đức TGM Phụ tá, ĐHY Tổng trưởng Bộ các Giáo Hội Công Giáo Đông phương, ĐHY Chủ tịch Hội đồng Tòa Thánh hiệp nhất các tín hữu Kitô kiêm Chủ tịch Ủy ban liên lạc với Do thái giáo, và ĐHY Chủ tịch Hội đồng Tòa Thánh đối thoại liên tôn.

Trên chuyến bay, ĐTC khẳng định với các ký giả tháp tùng rằng hòa bình tại Trung Đông chỉ có thể đạt được nếu người ta có những lập trường thực sự hợp lý. Giáo Hội tuy không có quyền bính chính trị nhưng có một sức mạnh tinh thần và có thể góp phần vào tiến trình hòa bình.

ĐTC cũng cho biết ngài muốn khích lệ các tín hữu Kitô tiếp tục ở lại Thánh Địa và Trung Đông, nơi quê hương của mình.

Sau 4 giờ bay, ĐTC, đoàn tùy tùng và các ký giả đã tới Phi trường mang tên “Hoàng hậu Alia” ở thủ đô Amman lúc gần 2 giờ rưỡi chiều giờ địa phương. Thành phố cổ kính này hiện có 1 triệu rưỡi dân cư trong đó chỉ có 109 ngàn tín hữu Công Giáo.

Từ trên máy bay bước xuống, ĐTC đã được Quốc vương Abdullah II và hoàng hậu Rania đón tiếp, cùng với đại diện của giáo quyền và chính quyền. 21 phát đại bác nổ vang trước khi quốc thiều Vatican và Giordani được trổi lên, và đoàn quân danh dự diễn hành trước ĐTC và quốc vương.

Trong lời chào mừng ĐTC, Quốc vương Abdullah nói đến quyết tâm đối thoại giữa Hồi giáo và Công Giáo. Nhà vua đề cao tầm quan trọng của sự sống chung hòa bình giữa các tín hữu Hồi giáo và Kitô, đồng thời kêu gọi chống lại những kẻ xách động gây hấn.

Đáp lại, ĐTC nói rằng cuộc viếng thăm của ngài tại Giordani là cơ hội để ngài bày tỏ lòng tôn trọng sâu xa đối với cộng đoàn Hồi giáo. Ngài không quên nhắc đến việc công bố cách đây vài năm Sứ điệp Liên tôn tại Amman và ý nghĩa của Sứ điệp này trong việc cổ võ sự liên minh giữa các nền văn hóa của thế giới, bác bỏ những lời tiên đoán của những người coi bạo lực và xung đột là điều không thể tránh được.

Sau nghi thức đón tiếp tại Phi trường, ĐTC đã về Trung Tâm Regina Pacis, cách đó 22 cây số để gặp gỡ các bạn trẻ và các nhân viên phục hồi cho những người khuyết tật và giúp họ tái hội nhập vào đời sống xã hội.

Hàng ngàn người đứng sẵn ở bên ngoài trung tâm, tay cầm cờ Tòa Thánh và Giordani nồng nhiệt chào mừng ĐTC khi ngài đến vào lúc 3 giờ rưỡi chiều. Bất chấp vấn đề an ninh, ngài tiến lại bắt tay chào thăm đông đảo các tín hữu đứng chờ, trước khi tiến vào bên trong thánh đường.

ĐTC nói với anh chị em tại đây rằng: “Tôi đến đây với một ý hướng, một hy vọng: đó là cầu xin Chúa ban món quà quí giá là sự hiệp nhất và an bình, đặc biệt là cho miền Trung Đông. Hòa bình cho cá nhân, cho các cha mẹ và con cái, cho các cộng đoàn, hòa bình cho Jerusalem, cho Thánh Địa, cho toàn miền, hòa bình cho toàn thể gia đình nhân loại; hòa bình được nảy sinh từ công lý, từ sự liêm chính và cảm thông, hòa bình nảy sinh từ sự khiêm tốn, tha thứ, từ ước muốn sâu xa sống trong hòa hợp như một thực tại duy nhất”.

Sau đó ngài đã về Tòa Sứ Thần Tòa Thánh cách đó 19 cây số để nghỉ ngơi chốc lát, và hơn một giờ sau đó, ngài đến hoàng cung vào lúc gần 6 giờ chiều để viếng thăm xã giao quốc vương và hoàng hậu Giordani.

Lúc 7.15 sáng thứ Bẩy mùng 9-5 Đức Thánh Cha đã dâng thánh lễ riêng trong nhà nguyện của Tòa Sứ Thần Tòa Thánh trước khi rời Tòa Sứ Thần lúc 8.30 để đến núi Nebo nằm cách đó 42 cây số. Núi Nebo cao 806 mét, cách thủ đô Amman 25 cây số về hướng tây nam. Từ núi Nebo có thể trông thấy toàn cảnh Thánh Địa và miền Nam Giordania trải dài cho tới Biển Chết và sa mạc Giuđêa phía đông, cũng như thung lũng Giordan và các vùng núi vùng Giuđêa và Samaria. Những khi thời tiết tốt, người ta cũng có thể trông thấy thành phố Bếtlêhem và pháo đài của vua Herốt, thành phố Gierico và cả mái tròn mạ vàng của đền thờ hồi giáo Giêrusalem nữa. Theo truyền thống, núi Nebo là nơi Thiên Chúa đã chỉ cho ông Môshê trông thấy Đất Hứa, sau khi dân Do thái lang thang 40 năm trong sa mạc.

Trong bài diễn từ Đức Thánh Cha nói: “Giống như Môshê, chúng ta cũng được gọi đích danh, được kêu mời hằng ngày thực hiện cuộc xuất hành từ tội lỗi và nô lệ tiến đến sự sống và tự do, và chúng ta cũng nhận được một lời hứa không lay chuyển hướng dẫn hành trình của chúng ta.. Từ núi thánh này, Môshê hướng cái nhìn của chúng ta lên cao, tới sự thành toàn viên mãn mọi lời Thiên Chúa hứa trong Chúa Kitô.

Đức Thánh Cha nói thêm: “Chúng ta biết rằng, giống như Môshê, có thể chúng ta không thấy sự thể hiện viên mãn kế hoạch của Thiên Chúa trong đời sống chúng ta. Nhưng chúng ta tin chắc rằng khi chu toàn phận sự nhỏ bé của mình, trong niềm trung thành với ơn gọi mà mỗi người đã nhận lãnh, chúng ta sẽ giúp dọn thẳng đường của Chúa và đón chào bình minh Nước Trời.”

Rời Núi Nêbô, Đức Thánh Cha đã đến chủ sự lễ đặt viên đá đầu tiên xây đại học của Tòa Thượng Phụ Latinh Madaba. Hàng mấy ngàn tín hữu tụ tập chào đón Đức Thánh Cha. Đức Thánh Cha đặc biệt cám ơn và ca ngợi Quốc vương Giordani đã dành ưu tiên cho việc mở rộng và cải tiến việc giáo dục và Hoàng hậu Rania đặc biệt tích cực hoạt động trong lãnh vực này.

Kết thúc lễ nghi làm phép viên đá xây Đại học, Đức Thánh Cha đã đi thăm đền thờ Al Hussein Bin Talal, nằm cách đó 38 cây số. Đền thờ này đã được xây cất theo ước muốn của quốc vương Abdallah Đệ Nhị để tưởng niệm phụ vương, và đã được khánh thành ngày 12 tháng 4 năm 2006. Đền thờ được xây trên ngọn đồi cao nhất của công viên Amman, và có diện tích rộng 7.700 mét vuông, có thể chứa 6.000 tín hữu.

Sau khi thăm đền thờ Đức Thánh Cha đã gặp gỡ giới lãnh đạo Hồi giáo, ngoại giao đoàn và và viện trưởng các đại học toàn nước Giordania.

Hoàng thân Ghazi Bin Muhammed Bin Talal đã ngỏ lời chào mừng Đức Thánh Cha. Hoàng thân là anh họ vua Abdallah II kiêm cố vấn tôn giáo, và là một trong 138 Ulema tức giới trí thức Hồi Giáo đã ký bức thư đề ngày 13 tháng 10 năm 2007 với tựa đề “Một tiếng nói chung giữa chúng tôi và các bạn” gửi Đức Thánh Cha và giới lãnh đạo kitô giáo để cùng thăng tiến hòa bình trên thế giới. Hoàng thân và phái đoàn các Ulema đã được Đức Thánh Cha tiếp đón tại Vaticăng ngày mùng 6 tháng 11 năm 2008.

Trong bài diễn văn, Đức Thánh Cha nói rằng chính vì gánh nặng của lịch sử chung được đánh dấu bởi quá nhiều hiểu lầm, cho nên người Hồi Giáo và các tín hữu Kitô phải làm sao để thế giới biết đến chúng ta như những người thờ phượng Thiên Chúa, chuyên tâm cầu nguyện, lắng nghe, tuân giữ, và sống theo các lệnh truyền của Đấng Toàn Năng, lân tuất; và kiên trì làm chứng cho những gì là đúng và chân thật.

Đức Thánh Cha nhận định rằng sự hợp tác của người Hồi Giáo và Kitô Giáo tại Jordani nêu lên một tấm gương đáng khích lệ và thuyết phục cho vùng này, và cố nhiên cho thế giới, cho sự đóng góp tích cực và sáng tạo cho xã hội hiện đại.

Trong khi bày tỏ lòng kính trọng đối với thế giới Hồi Giáo, Đức Thánh Cha cũng nhấn mạnh rằng quá thường khi “có sự lèo lái tôn giáo theo ý thức hệ, thông thường cho các mục tiêu chính trị, tạo ra thảm họa thực sự dẫn đến căng thẳng và chia rẽ” giữa các tôn giáo.

Đức Thánh Cha đề cập cụ thể đến trường hợp các tín hữu Kitô Iraq và kêu gọi cộng đồng thế giới “làm mọi điều có thể để bảo đảm cộng đoàn Kitô cổ kính của miền đất đáng kính có quyền căn bản là được cùng tồn tại trong hòa bình với các công dân khác”.

Sau khi từ giã mọi người Đức Thánh Cha đã lên xe về Tòa Sứ Thần cách đó 12 cây số để dùng bữa trưa với đoàn tùy tùng, và nghỉ ngơi chốc lát trước khi đến nhà thờ chính tòa thánh Giorgio của Giáo Hội Công giáo Hy lạp Melkít để chủ sự buổi hát kinh chiều trọng thể với các linh mục, tu sĩ nam nữ, chủng sinh, và các phong trào giáo hội.

Buổi hát kinh chiều đã bắt đầu lúc 17.30. Trong bài huấn từ, Đức Thánh Cha đã nêu bật sức sinh động của các Giáo Hội Công Giáo Đông Phương và phần đóng góp qúy báu cho gia tài chung của Kitô giáo. Quảng diễn thánh vịnh 103 và đoạn thư gửi giáo đoàn Ephêxô, Đức Thánh Cha nói sức mạnh của Thiên Chúa và ánh sáng của Ngài luôn hướng dẫn chúng ta biết lựa chọn sự sống và chân lý.

Đức Thánh Cha đã khích lệ các linh mục tu sĩ nam nữ và người trẻ Giordani tươi vui làm chứng cho Tin Mừng của Chúa và góp phần vào việc xây dựng cuộc sống chung của dân nước Giordania.

Buổi hát kinh chiều đã kết thúc với phép lành tòa thánh của Đức Thánh Cha. Sau khi từ giã mọi người, Đức Thánh Cha đã trở về Tòa Sứ Thần đẽ dùng bữa tối, kết thúc ngày thứ hai chuyến viếng thăm Giordania.

Chúa Nhật 10/5 là ngày thứ ba Đức Thánh Cha viếng thăm nước Giorđani, nhưng là cơ hội đầu tiên để gặp gỡ cộng đoàn Dân Chúa tại quốc gia này cũng như các giáo đoàn lân cận trong Thánh lễ cử hành tại sân vận động thủ đô, với sự tham dự của khoảng 30 ngàn tín hữu. Đây là một con số đáng kể nếu biết rằng các tín hữu trong toàn quốc chỉ có 110 ngàn.

Tại Giorđani, các tín hữu công giáo dùng lịch phụng vụ chung với các giáo hội chính thống, vì thế hôm qua là Chúa Nhật thứ 4 phục sinh, ngày cầu cho ơn thiên triệu. Một bức ảnh to lớn của Chúa Giêsu Mục tử nhân lành đã đặt làm nền trên lễ đài. “Tạ ơn Chúa, chủng viện Beit Jala không còn chỗ để thu nhận thêm chủng sinh nữa”, đức thượng phụ Fouad Twal đã khôi hài nói như vậy khi giới thiệu cộng đồng Dân Chúa ở đầu thánh lễ, giữa những tiếng hò reo “Benedetto” của các bạn trẻ.

Trong bài giảng, dựa trên bài Tin mừng thuật lại Chúa Kitô là “mục tử nhân lành, hiến mạng sống vì đoàn chiên” (Ga 10,11), Đức Bênêđictô nói rằng: “Người kế vị thánh Phêrô muốn làm chứng cho Chúa Kitô phục sinh để khích lệ anh chị em hãy kiên trì trong niềm tin, hy vọng và yêu mến, trung thành với truyền thống cố hữu và lịch sử chứng tá từ thời các thánh tông đồ. Cộng đoàn các Kitô hữu tại đây đã trải qua nhiều nỗi khó khăn và bấp bênh, nhưng anh chị em đừng bao giờ quên phẩm giá cao quý của mình phát sinh từ gia sản Kitô giáo, và đừng bỏ qua tình liên đới với các anh chị em đồng đạo ở khắp nơi”.

Đức Thánh Cha đã dành một đoạn dài trong bài giảng để trình bày vai trò của người phụ nữ nhân dịp Giáo hội địa phương dành năm nay làm “Năm của Gia đình”.

Vào ban chiều, đức Bênêđictô XVI đến Bêtania bên bờ sông Giorđanô, nơi thánh Gioan tiền hô làm phép rửa. Tại đây ngài làm phép viên đá đầu tiên cho các thánh đường của Giáo hội Latinh và Giáo hội Melkite.