BẠN THẤY GÌ TRONG ĐÊM?
(Tác giả: Jean-Claude Esclin
trong Aujaurd’hui la Bible số 164 (xem Cahiers Evangile 11)
Pascal Nguyễn Ngọc Tỉnh ofm phiên dịch
Ngày 28-06-1986)


Này người canh thức, bạn thấy gì trong đêm ?
Tôi chẳng thấy gì
Ngoài những gì các bạn không muốn thấy.
Tôi được nhìn thấy rõ
Trong thế giới không ánh sáng hôm nay.

I. Tôi thấy một thế giới chia hai:
Bắc bán cầu giàu xụ,
Nam bán cầu nghèo xơ.
Ai giàu, giàu mãi đi nào !
Ai nghèo, nghèo nữa đi thôi !
Tôi thấy hố sâu giữa hai phần thế giới
Nhưng nào có ai muốn lấp cho đầy !
Tôi thấy thành phố chia ra từng khu:
Khu tây giàu có, khu đông nghèo nàn.
Tôi thấy thủ đô Xăng-chi-a-gô
Bị đám quân phiệt làm mồi cho lửa:
Lửa đốt sách vở, theo sau lửa xe tăng.
Tôi thấy thành Li-ma với bao chướng ngại vật ngang ngửa.
Tôi thấy một dân tộc ngủ say sưa:
Đó là dân tộc giàu có, dư thừa,
Nhưng những khối óc minh mẫn nhất
Đã chết khô tự bao giờ.


II. Tôi thấy một người phụ nữ rất ư cổ kính
Vừa được kính nể, vừa bị khinh chê.
Bà được mọi người dân trong thành biết đến.
Chỉ mình bà nắm giữ chìa khoá của mầu nhiệm.
Tôi thấy bà vừa run vừa sợ đi vào đền của bà.
Bà sợ phải uống máu Con Chiên,
Nên đã cầu hoà với Xê-da,
Đã bịt mắt bưng tai khi bom rơi, máu đổ,
Nên đã bị nhiều người từ bỏ,
Và tình yêu của phần đông trở nên lạnh giá.

III. Tôi thấy vinh quang Thiên Chúa đã rời thành.
Danh thánh Người, không một kẻ tuyên xưng,
Nơi rao giảng lời Người thì hoang vắng,
Cỏ mọc um tùm tại chính nơi thờ phượng.
Tôi thấy bao người lang thang mò mẫm,
Họ thiếu nước uống, thiếu bánh ăn
Mà không sao có được.
Và để tìm cho đời mình một ý nghĩa,
Họ lần mò trên khắp nẻo đường Ấn-độ
Hay bên xứ Mặt Trời.
Đây là khi cơn đói khát ý nghĩa của muôn việc muôn loài
Khủng khiếp như chưa bao giờ thấy.


IV. Tôi thấy Đức Giê-su, chẳng có ai nhận biết.
Ngài đứng nơi cổng thành.
Ngài gõ nơi cổng thành.
Ngài chết nơi cổng thành.
Ngài lau nước mắt cho một em nhỏ.
Ngài nói tiếng người công nhân An-giê-ri.
Bấy giờ tôi thấy vinh quang Thiên Chúa
Mới vào lại trong thành.
Những Đức Giê-su quyết không vào đó
Trước khi vào đó
Người anh em sau chót của Ngài.

V. Tôi thấy các bạn của Con Chiên
Từng theo Con Chiên khắp hang cùng ngõ hẻm.
Những người từ bao năm chết đớn đau thê thảm,
Những người chiến đấu cho công lý,
Cho nhân phẩm của dân mình.
Tên họ được ghi trong Sổ trường sinh,
Được hát trong ký ức của dân tộc họ.
Một ký giả hỏi tôi:
“Phải chờ bao lâu nữa ?”
Này đây câu trả lời:
Cho đến khi dân dân thức tỉnh và hết ngủ vùi
Và khi chén lôi đình tràn tới miệng.


VI. Tôi thấy người Phụ Nữ tay ẵm đứa con thơ
đi vào trong sa mạc
Để sống với lòng mình và để cho mình trẻ lại
Một thời gian và một nửa thời gian.
Để tìm lại mối tình đầu của tuổi xuân,
Để nhịn chay, nhịn những giấc mơ quyền thế
Với những mưu đồ đạt tới vinh quang.
Vì sa mạc là nơi bà lại cảm thấy
Nắm cơm chấm muối với ngụm nước trong
Quả là thứ cao lương mĩ vị,
Nơi bà làm quen với dân vùng hoang địa
Là dân bị đoạ đầy.
Tôi thấy đứng lên một số ít người:
Cả trái đất phải tựa nương vào họ.
Đó là những người công chính, nền móng của vũ trụ,
Những nghệ sĩ đã cứu vẻ đẹp cho khỏi tiêu vong,
Những người sống nơi âm thầm hoang vắng
Để van xin Chúa cho anh em mình.

VII. Tôi thấy xuất hiện một thành mới, một đất mới
Hết thảy từng ước mơ, mong đợi.
Thành mở ngỏ cho mọi người có thể ra vào.
Thành mở ngỏ cho mọi người có thể ăn và nói.
Đền thờ, tôi không còn thấy nữa,
Vì Con Chiên, chính là đền thờ.
Ánh sáng, tôi không còn thấy nữa,
Vì Con Chiên, chính là ánh sáng, và đang ở trong thành.
Các dân tộc được hoà giải với nhau.
Và một em bé gái mở đầu điệu vũ.
Và Thần Khí cùng Tân Nương lên tiếng:
“Xin Ngài mau ngự đến, lạy Chúa Giê-su !”