Ngày hôm nay, ngày thứ nhất trong tuần sau “ba ngày” Chúa Kytô chịu chết, tin biến cố Chúa phục sinh tới có vẻ tấp nập đến với các Tông đồ. Nầy bà Mađalêna sáng sớm đã cầm đầu phái đoàn ra viếng mộ để xức thuốc thơm cho Chúa, nhưng bà đã về la to lên “: Chúng tôi đã thấy Chúa và Chúa bảo chúng tôi về báo cho các ngài “(Gioan 20,16-18 ); hai môn đệ trở về quê làm ăn vì Thầy đã chết, nhưng lai quay về tường thuật Thầy đi đường dạy họ Kinh Thánh và ngồi đồng bàn với Thày và chỉ nhận ra là Thầy khi Thầy bẽ bánh ăn ( Luca 24,13-35). Không có Tông đồ nào đứng lên kết luận: vậy, Thầy đã sống lại.
Đang vui, nhưng mà thứ vui xao xuyến trộn lẫn thứ bán tín bán nghi thì Chúa Kytô phục sinh hiện đến đứng giữa các Tông đồ: Bằng yên cho anh em. Hóa ra có Chúa mới có bằng an. Không có Chúa thì chỉ có xao xuyến, lo sợ, thất vọng. Thánh Gioan ghi chú đậm nét: cửa đóng chặt, Chúa hiện đến đứng ở giữa tức là không có gì ngăn cản được Chúa cả vì Chúa đã phục sinh.
Khi còn sống với các Tông đồ, Chúa đã tỏ ra mình có quyển năng Thiên Chúa bằng cách trao quyền “cầm buộc và tháo gỡ” cho Phêrô và các Tông đồ, bây giờ, nhờ phục sinh, quyền năng của Chúa được biểu lộ ra hoàn toàn, nên Ngài ban bình an, ban sức mạnh chiến thắng cho mọi người gia nhập dân Chúa tức là Hội thánh. Công việc đó cần có sức mạnh trợ giúp nên Chúa ban Thánh Thần cho các Tông đồ. Thánh Thần thánh hóa mọi người, làm cho mọi người hóa thành thánh tức là vừa tha tội vừa biến đổi con người ta thành con cái Thiên Chúa.
Phúc âm theo thánh Gioan dồn tất cả mọi việc (lãnh nhận Thánh Thần, đi rao giảng Nước Chúa) trong ngày Phục sinh vì sứ mệnh rao giảng và lãnh nhận Thánh Thần là hiệu quả của Phục sinh. Các Phúc âm khác kể việc Chúa trao ban và giao công việc theo thứ tự thời gian trong năm mươi ngày. Có thể thánh Gioan tổng hợp lại, tóm lại trong một lần để thấy rõ nguyên nhân Phục sinh mà các Tông đồ nhận mọi ơn.
Điều ta cần nhắc lại là sứ mệnh của các Tông đồ là chính sứ mệnh của Chúa Cha trao phó cho Chúa Kitô. Thực hiện sứ mệnh đó là tiếp tục công việc Chúa Kitô đã làm cũng là sứ mệnh Chúa Cha trao cho ta qua Chúa Kytô.
Không dành riêng cho các Tông đồ đâu, mọi người đều được mời gọi tiếp tục thi hành sứ mệnh đó. Trở ngại lớn nhất là vì thiếu lòng tin. Mà thiếu lòng tin vì thiếu hiểu biết Kinh thánh. Thánh Tông đồ Tôma là người điển hình thiếu lòng tin. Ngài khăng khăng không nhận chứng cớ của các Tông đồ khác đã tin vào Chúa sống lại, ngài đòi hỏi Chúa hiện ra cho ngài kiểm chứng. Chúa hiện ra thực sự cho Tôma thấy, và Chúa cũng bằng lòng thỏa mãn yêu sách của thánh nhân: thọc tay vào lỗ đinh, vào cạnh sườn. Nhưng thánh nhân không dám, ở đây là không còn dám hồ nghi nữa và thay vào bằng lời tuyên xưng Đức Tin: Lạy Chúa là Chúa của con là Thiên Chúa của con.
Câu chuyện Thánh Tôma đòi xét nghiệm các dấu đinh nơi người Chúa làm tôi nhớ dến câu chuyên “ tìm người thất lạc” chiếu trên truyền hình: đứa con trai bi thất lạc hai mươi năm đang đứng trước hai ông bà tìm con. Hai ông bà không thể nhận được chàng thanh niên đang đứng trươc mặt mình là con của mình, Một đứa bé mấy tuổi, bây giờ là một chàng thanh niên con nuôi của một nhà khá giả ở thành thị ! Ông bố lật áo xem lưng: một dấu vết bên lưng trái, bà mẹ xem chân phải thấy dấu lõm. Chàng thanh niên kể lại nguyên nhân của hai vết thương đó và ông bà ôm con khóc, xác nhận là đứa con lạc của mình.
Thánh Tôma không khóc khi biết thật Chúa đã sống lại thật, nhưng Ngài tuyên xưng lòng tin của Ngài: ” Lạy Chúa là Chúa của con, là Thiên Chúa của con”. Theo Chúa mấy năm, Toma cũng không biết rõ con người của Chúa như lúc nầy: Là Chúa của con, Là Thiên Chúa của con.
Chúng ta không bắt chước thánh Tôma đòi Chúa hiện ra mới tin, hoặc xin Chúa làm phép lạ ta mới tin Chúa. Chúng ta bắt chước thánh nhân ở điểm sau khi tuyên xưng Chúa rồi thì sống chết với niềm tin đó. Thánh nhân đã biểu lộ niềm tin bằng cách đi rao giảng và cuối cùng đổ máu ra để tuyên xưng Danh Chúa vừa xây dựng Nước Chúa ở trần gian vừa phát triển Hội Thánh. Đây chính là điều ta phải bắt chước.
Đang vui, nhưng mà thứ vui xao xuyến trộn lẫn thứ bán tín bán nghi thì Chúa Kytô phục sinh hiện đến đứng giữa các Tông đồ: Bằng yên cho anh em. Hóa ra có Chúa mới có bằng an. Không có Chúa thì chỉ có xao xuyến, lo sợ, thất vọng. Thánh Gioan ghi chú đậm nét: cửa đóng chặt, Chúa hiện đến đứng ở giữa tức là không có gì ngăn cản được Chúa cả vì Chúa đã phục sinh.
Khi còn sống với các Tông đồ, Chúa đã tỏ ra mình có quyển năng Thiên Chúa bằng cách trao quyền “cầm buộc và tháo gỡ” cho Phêrô và các Tông đồ, bây giờ, nhờ phục sinh, quyền năng của Chúa được biểu lộ ra hoàn toàn, nên Ngài ban bình an, ban sức mạnh chiến thắng cho mọi người gia nhập dân Chúa tức là Hội thánh. Công việc đó cần có sức mạnh trợ giúp nên Chúa ban Thánh Thần cho các Tông đồ. Thánh Thần thánh hóa mọi người, làm cho mọi người hóa thành thánh tức là vừa tha tội vừa biến đổi con người ta thành con cái Thiên Chúa.
Phúc âm theo thánh Gioan dồn tất cả mọi việc (lãnh nhận Thánh Thần, đi rao giảng Nước Chúa) trong ngày Phục sinh vì sứ mệnh rao giảng và lãnh nhận Thánh Thần là hiệu quả của Phục sinh. Các Phúc âm khác kể việc Chúa trao ban và giao công việc theo thứ tự thời gian trong năm mươi ngày. Có thể thánh Gioan tổng hợp lại, tóm lại trong một lần để thấy rõ nguyên nhân Phục sinh mà các Tông đồ nhận mọi ơn.
Điều ta cần nhắc lại là sứ mệnh của các Tông đồ là chính sứ mệnh của Chúa Cha trao phó cho Chúa Kitô. Thực hiện sứ mệnh đó là tiếp tục công việc Chúa Kitô đã làm cũng là sứ mệnh Chúa Cha trao cho ta qua Chúa Kytô.
Không dành riêng cho các Tông đồ đâu, mọi người đều được mời gọi tiếp tục thi hành sứ mệnh đó. Trở ngại lớn nhất là vì thiếu lòng tin. Mà thiếu lòng tin vì thiếu hiểu biết Kinh thánh. Thánh Tông đồ Tôma là người điển hình thiếu lòng tin. Ngài khăng khăng không nhận chứng cớ của các Tông đồ khác đã tin vào Chúa sống lại, ngài đòi hỏi Chúa hiện ra cho ngài kiểm chứng. Chúa hiện ra thực sự cho Tôma thấy, và Chúa cũng bằng lòng thỏa mãn yêu sách của thánh nhân: thọc tay vào lỗ đinh, vào cạnh sườn. Nhưng thánh nhân không dám, ở đây là không còn dám hồ nghi nữa và thay vào bằng lời tuyên xưng Đức Tin: Lạy Chúa là Chúa của con là Thiên Chúa của con.
Câu chuyện Thánh Tôma đòi xét nghiệm các dấu đinh nơi người Chúa làm tôi nhớ dến câu chuyên “ tìm người thất lạc” chiếu trên truyền hình: đứa con trai bi thất lạc hai mươi năm đang đứng trước hai ông bà tìm con. Hai ông bà không thể nhận được chàng thanh niên đang đứng trươc mặt mình là con của mình, Một đứa bé mấy tuổi, bây giờ là một chàng thanh niên con nuôi của một nhà khá giả ở thành thị ! Ông bố lật áo xem lưng: một dấu vết bên lưng trái, bà mẹ xem chân phải thấy dấu lõm. Chàng thanh niên kể lại nguyên nhân của hai vết thương đó và ông bà ôm con khóc, xác nhận là đứa con lạc của mình.
Thánh Tôma không khóc khi biết thật Chúa đã sống lại thật, nhưng Ngài tuyên xưng lòng tin của Ngài: ” Lạy Chúa là Chúa của con, là Thiên Chúa của con”. Theo Chúa mấy năm, Toma cũng không biết rõ con người của Chúa như lúc nầy: Là Chúa của con, Là Thiên Chúa của con.
Chúng ta không bắt chước thánh Tôma đòi Chúa hiện ra mới tin, hoặc xin Chúa làm phép lạ ta mới tin Chúa. Chúng ta bắt chước thánh nhân ở điểm sau khi tuyên xưng Chúa rồi thì sống chết với niềm tin đó. Thánh nhân đã biểu lộ niềm tin bằng cách đi rao giảng và cuối cùng đổ máu ra để tuyên xưng Danh Chúa vừa xây dựng Nước Chúa ở trần gian vừa phát triển Hội Thánh. Đây chính là điều ta phải bắt chước.