Con đường Đamát – Đường đời Kitô hữu (2)
“Saul, Saul, tại sao ngươi bắt bớ Ta?... Ta là Giêsu mà ngươi đang bắt bớ” (Cv 9,4-5). Câu nói này, Saul không chỉ nghe một lần là xong, nó vẫn vang đi dội lại trong tâm khảm ông.
Chiều nay, chúng ta suy ngẫm về sự hợp nhất và liên đới giữa Chúa Kitô Phục Sinh và các Kitô hữu.
Thị kiến trên đường Đamát đã tỏ cho Saun thấy các tín hữu được kết hợp với Chúa Giêsu mật thiết đến độ nào: “Saun, Saun, tại sao ngươi bắt bớ Ta?” (Cv 9,4-5). Saun đang đi tróc nã những người đi theo và phổ biến Danh Giêsu, còn Đức Giêsu, Người đã sống lại, đã được tôn vinh trên trời, thế mà bây giờ Người lại nói là Saun đang bắt bớ Người.: “Ta là Giêsu mà ngươi đang bắt bớ”! Như thế nghĩa là gì? Phải chăng đây chỉ là lời diễn tả mối quan tâm đầy hảo ý, phải nói là thiên vị nữa, của Chúa Giêsu đối với các môn đệ Người, y như người ta nói xúc phạm đến tôi tớ là xúc phạm đến ông chủ? Đó là cách đơn giản nhất để giải thích lời nói ấy của Đức Giêsu. Nhưng Saun đã khám phá ra là không chỉ đơn giản như thế; ông nhận ra rất nhanh rằng các lời này phải được hiểu theo nghĩa chặt nhất, chứ không chỉ theo nghĩa bóng bảy. Ông hiểu là Chúa Giêsu Phục Sinh đã thông ban trọn vẹn sự sống của Người cho các tín hữu đến nỗi tất cả và từng người có thể lặp lại điều mà sau này Phaolô sẽ viết trong Thư Galát: “Tôi sống, nhưng không còn phải là tôi, mà là Đức Kitô sống trong tôi” (Gl 2,20). Ở chỗ khác, cũng vẫn trong Thư Galát, ông sẽ nói rằng sau khi đã mặc lấy Chúa Kitô nhờ phép rửa tội, các tín hữu từ nay chỉ là một trong Người (x. Gl 3,27-28). Thế nhưng nói như thế không có nghĩa là tính cách cá nhân của họ bị suy suyển, bị giảm thiểu đi, không có nghĩa là họ bị hấp thụ hoàn toàn vào Chúa Kitô đến mức đánh mất hẳn nhân cách của mình, đến nỗi họ không còn là mình nữa. Phaolô muốn nói là có một sự hợp nhất sâu xa và sự liên đới chặt chẽ giữa Chúa Kitô và các tín hữu do chỗ họ được thông dự vào sự sống và tư cách Con Thiên Chúa của Chúa Kitô, và họ sẽ tiếp tục sống những sinh hoạt đời thường rất tầm thường trong tư cách cao quý đó.
Ngay trong bức thư đầu tiên, Thư 1 Thêxalônica, viết trước cả các Tin Mừng, Phaolô đã đảm bảo rằng cuộc phục sinh của Chúa Kitô sẽ lôi kéo theo sự sống lại của những người chết và cuộc quy tụ mọi người với Chúa Kitô (1 Tx 4,16-17). Khởi đi từ biến cố Đamát, Phaolô hiểu rằng sự hợp nhất các Kitô hữu mạnh đến nỗi cái chết cũng không thể phá vỡ, và sự hợp nhất này sẽ được hoàn tất trong cuộc sống vĩnh cửu.
1. Các Kitô hữu liên đới với nhau trong Chúa Kitô
Khám phá căn bản này đưa đến những xác quyết khác, và soi sáng cho Phaolô trong các giáo huấn của ông sau này:
- Khi các tín hữu Côrintô chia ra năm bè bảy mối, người thì bảo là mình thuộc về Phaolô, người thì bảo là thuộc về Apôlô, người lại bảo là thuộc về Kêpha (Phêrô), thậm chí có người nói họ thuộc về Đức Kitô (x. 1 Cr 1,12). Phaolô đã viết mộ câu như một tiếng kêu than: “Thế ra Đức Kitô đã bị chia năm sẻ bảy rồi ư?” (1 Cr 1,13). Ông đã đồng hóa các Kitô hữu với Chúa Kitô: họ chia rẽ là Đức Kitô bị phân chia.
- Lần nọ, khi nói đến vấn đề thịt cúng thần bán ở ngoài chợ, tuy Phaolô vẫn nghĩ là không tin các thần minh là có thật, thì thịt cúng cho thần cũng chẳng khác gì các loại thịt không cúng, nên cứ việc mua về mà dùng, nhưng ông đã tuyên bố rằng dứt khoát không được ăn thịt ấy, kẻo gây cớ vấp phạm cho người anh em thiếu sáng suốt, còn yếu đức tin; họ nghĩ rằng ta ăn thịt ấy là ta tin các thần thánh ngoại giáo. Ông không nói: miễn là tôi không tin thần linh là được! Chuyện tôi tôi biết, nếu có gì tôi chịu! Ông nói rất mạnh: “Như vậy, phạm đến anh em và làm thương tổn lương tâm yếu đuối của họ là phạm đến Đức Kitô” (1 Cr 8,12). Làm sao mà không nghe ra tiếng vọng của lời Đấng Cứu Thế vào ngày tận thế: tất cả những gì được làm hay bị từ khước cho người anh em nhỏ bé nhất là đã được làm hay từ chối cho chính Người (Mt 25,40.45)?
- Ở một chỗ khác trong Thư 1 Cr, Phaolô khẳng định bằng một câu hỏi: “Nào anh em chẳng biết rằng thân xác anh em là phần thân thể của Đức Kitô sao?” (1 Cr 6,15). Những lời của vị tông đồ rất có ý tứ: “phần thân thể của Đức Kitô”! Các Kitô hữu là chi thể thuộc về thân mình Chúa Kitô; vậy họ phải sống thánh thiện và tránh đừng bao giờ làm rạn vỡ sự hợp nhất với Chúa Kitô, Đấng đang thông ban cho họ sự sống của Người và Thánh Thần ở mức viên mãn. Vì khi gây chia rẽ trong gia đình, giáo xứ, thôn xóm, chúng ta đã xúc phạm đến chính Chúa Kitô.
- Khi nói về các ơn đặc biệt được ban cho một số người, gọi là “đoàn sủng”, Phaolô cũng lập luận cùng một kiểu như thế để khẳng định sự liên đới siêu nhiên của các Kitô hữu (1 Cr 12,14-26). Trong thân thể con người, có nhiều chi thể, đầu, tay chân, tai mắt. Không một chi thể nào có thể nói rằng nó không thuộc về thân thể, hay làm thành toàn thân, hoặc nó không cần những chi thể khác. Tất cả các chi thể đều cần thiết. Đi từ đó, Phaolô nói đến các chức năng chính do Đức Kitô thiết lập trong Hội Thánh: tông đồ, ngôn sứ, thầy dạy, v.v.; chức năng nào cũng cần thiết cho chức năng khác; chức năng nào cũng cần đến chức năng khác.
Phải chăng sự liên đới này cũng chỉ giống như sự liên đới tinh thần nối kết các thành viên của một xí nghiệp, một công ty? Không bao giờ Phaolô chỉ hiểu như thế. Đức Kitô là Đức Kitô cá thể, thân mình Đức Kitô là thân xác thể lý của Người, và chúng ta được kết hợp chặt chẽ vào thân xác đó, để rồi được thân xác chan hòa sự sống đó thông ban sự sống cho (x. 1 Cr 15,45). Thân xác của Đức Kitô, xưa kia bị đóng đinh và bây giờ được tôn vinh, không tách rời với bản thân Người, nay gắn kết các tất cả các tín hữu vào; họ trở thành các chi thể của Người khi được rửa tội trên thân xác, nghĩa là khi nhận dòng nước thánh tẩy trên người. Chúng ta không sinh hoa kết trái tự sức chúng ta. Chúng ta không phải là thân thể, nhưng là một đống những cành nằm chơ vơ, chẳng có ích cho bất cứ chuyện gì, chỉ còn đáng quẳng vào lửa mà đốt đi. Nhưng ghép những cành vô tích sự ấy lên thân cây, nó sẽ sinh hoa trái. Chúa Kitô đã cho chúng ta được ghép vào Thân mình của Người, để chúng ta sống dồi dào và sinh hoa kết quả.
Chúng ta liên đới với nhau trong Thân Thể Chúa Kitô, nên gây ảnh hưởng lên nhau: một ngón tay đau thì cả thân mình đau, một cái răng buốt, cả thân thể ta đau đớn. Và vì thế, cứu một chi thể là vì thương cả thân mình. Không ai được phép nói: đó là chuyện của riêng tôi!
2. Đối với những kẻ thù nghịch
Không những chỉ gắn bó với những anh chị em đạo đức tốt lành thánh thiện, người tín hữu còn được kêu gọi yêu thương những kẻ làm khốn cho mình. Như vậy, họ được kêu gọi tìm cách kiến tạo một nền văn hóa tình thương. Nếu anh chị em bị ai làm khổ, muốn trả thù, xin học lấy cách trả thù của Phaolô: “Đừng tự mình báo oán, nhưng hãy để cho cơn thịnh nộ của Thiên Chúa làm việc đó, vì có lời chép: Đức Chúa phán: ‘Chính Ta sẽ báo oán, chính Ta sẽ đáp trả’. Trái lại, kẻ thù ngươi có đói, hãy cho nó ăn; có khát, hãy cho nó uống; làm như vậy, ngươi sẽ chất than hồng lên đầu nó. Đừng để cho sự ác thắng được mình, nhưng hãy lấy thiện mà báo ác” (Rm 12,19-21). Phaolô cũng rất đáo để, “đanh đá”!
Một nền văn hóa mà không nghĩ tới ưu tiên dành cho các quan hệ thì thế nào cũng trở thành một nền văn hóa của bạo lực, của sự chết và trả thù. Một nền văn hóa như thế chỉ biết có hai cách nhìn tới người khác: hoặc họ là mối đe dọa cho cuộc theo đuổi hạnh phúc của tôi, nên họ là kẻ thù của tôi, hoặc họ hữu ích trong việc giúp tôi đạt hạnh phúc, khi đó họ chỉ là dụng cụ để tôi tận dụng. Đấy là một nền văn hóa yêu chính mình, và loại trừ bất cứ tình yêu chân chính nào khác. Đức Kitô cống hiến một nền văn hóa đối trọng, nền văn hóa của tình yêu, của sự sống và sự hoà giải. Chính “việc canh tân tâm trí” (Rm 12,2) trong đức tin làm cho chúng ta có thể thấy điều Thiên Chúa thấy nơi bất cứ “người khác” nào, dù là một kẻ thù. Một kẻ thù hôm nay có thể là một người bạn mai sau, điều đó đã xảy ra với chính Saun, và như thế kẻ ấy cũng là hình ảnh của Thiên Chúa, Đấng nhắm làm cho cuộc đời tôi nên phong phú nhờ người anh em hoặc chị em đối nghịch với tôi đó. Tôi mà thiếu mất tương quan đó, thì Hội Thánh cũng thiếu mất những phong phú của người ấy. Đức tin giúp tôi hiểu rằng tôi khốn khổ, không hẳn do kẻ thù gây khó khăn, mà có khi là do thiếu sự qua lại trong hiệp thông vào điều chân thật và tốt lành, và do đó tôi không được làm cho nên phong phú. Thế là Hội Thánh bót phong phú!
Chúng ta được kêu gọi yêu thương kẻ thù bởi vì Thiên Chúa “đã yêu thương chúng ta trước” (1 Ga 4,19) trong Đức Kitô “ngay khi chúng ta còn là thù địch” (Rm 5, 10). Đau khổ Đức Kitô đã chịu suốt đời, và đặc biệt trên thập giá, cho thấy rằng tiếng nói cuối cùng không được dành cho các hành vi và thái độ loại trừ tình yêu. Việc Đức Kitô yêu thương “đến cùng” (Ga 13,1) về thời gian và về mức độ đã chinh phục được điều gian ác: hành vi xấu xa là loại trừ tình yêu đã bị thắng vượt bởi điều tốt lành là một tình yêu mạnh mẽ cho đến tận cùng về mức độ và tận cùng về thời gian.
Để có thể yêu thương kẻ thù, chúng ta phải học biết rằng lòng từ bi và tha thứ tỏ ra cho một kẻ thù cũng là lòng từ bi ta nhận được. Người cha của đứa con hoang đàng đã tỏ ra từ bi thương xót với con mình, và thế là ông được nhận lại đứa con. Đứa con nhận lại một người cha, và người cha cũng nhận lại một người con. Khi tình yêu của chúng ta đối với kẻ làm ác (kẻ thù) chúng ta là một sự thông dự vào đau khổ của Đức Kitô, khi đó nó trở thành đủ mạnh để có thể chinh phục được sự gian ác bằng sự tốt lành.
Đôi khi chỉ cần tập luyện trên bình diện nhân bản, cũng tránh đi được những phản ứng phiến diện, có thể gây rạn nứt trong lòng cộng đoàn Hội Thánh lớn hay nhỏ:
Một giáo viên đưa lên cho các học sinh của mình coi một tờ giấy trắng có một điểm đen nhỏ. Ông hỏi họ thấy gì; tất cả trả lời: Thấy vết đen! Dĩ nhiên vết đen nổi rõ trên nền tờ giấy trắng. Thông thường người ta hay chú ý đến một vết đen trên trang giấy trắng, hơn là thấy cả một tờ giấy trắng chỉ có một vết đen nhỏ. Nhưng ta nhận ra có hai cách nhìn, một cách tiêu cực và một cách tích cực. Cách nhìn của tiêu cực hướng người ta về vết đen, để rồi không nhìn thấy trang giấy trắng. Cách nhìn tích cực hướng người ta đến trang giấy trắng còn lại một vết đen. Cách nhìn tiêu cực là cách nhìn tẩy chay, phê phán. Cách nhìn tích cực là biết mình chưa thành toàn, nhưng sẵn sàng tiến tới để mà nên chín chắn dần, trong ân sủng, trong cách ứng xử, trong cách suy nghĩ và lấy quyết định. Cái nhìn tiêu cực gây bế tắc, làm hỏng cuộc đời ta đã đành, mà có khi còn làm hỏng cả cuộc sống người khác. Câu chuyện "Hai viên gạch" sau đây là một minh hoạ.
"Ðến miền đất mới, cácnhà sư phải tự xây dựng mọi thứ. Họ mua đất, gạch, mua dụng cụ và bắt tay vào việc.
Một chú tiểu được giao xây một bức tường gạch. Chú rất tập trung vào công việc, luôn kiểm tra xem viên gạch đã thẳng chưa, hàng gạch có ngay ngắn không. Công việc tiến triển khá chậm vì chú hết sức kỹ lưỡng. Nhưng chú rất vui, vì nghĩ rằng sẽ để lại cho đời một tuyệt tác. Cuối cùng, chú cũng hoàn thành công việc vào lúc hoàng hôn buông xuống. Khi đứng lui ra xa để ngắm nhìn công trình lao động của mình, chú bỗng cảm thấy có cái gì đó đập vào mắt, và cảm thấy lòng tê tái: mặc dù chú đã rất cẩn thận khi xây bức tường, song vẫn có hai viên gạch bị đặt nghiêng. Và điều tồi tệ nhất là hai viên gạch đó nằm ngay chính giữa bức tường. Chúng như đôi mắt đang trừng trừng nhìn chú! Thể là từ đó, mỗi khi du khách đến thăm ngôi đền, chú tiểu đều dẫn họ đi khắp nơi, trừ đến chỗ bức tường mà chú xây dựng. chú mặc cam, chú muốn che giấu điểm bất toàn.
Một hôm, có hai nhà sư già đến tham quan ngôi đền. Chú tiểu đã cố lái họ sang hướng khác nhưng hai người vẫn nằng nặc đòi đến khu vực có bức tường mà chú xây dựng. Một trong hai vị sư khi đứng trước công trình ấy đã thốt lên: "Ồ, bức tường gạch đẹp ghê!". Chú tiểu ngạc nhiên kêu lên: "Hai vị nói thật chứ? Hai vị không thấy hai viên gạch xấu xí ngay giữa bức tường kia sao?" Vị sư già từ tốn trả lời: "Có chứ, nhưng tôi cũng thấy 998 viên gạch còn lại đã ghép thành một bức tường hết sức tuyệt vời".
Ðôi khi chúng ta quá nghiêm khắc với bản thân mình khi cứ luôn nghiền ngẫm từng lỗi lầm mà ta đã mắc phải, cho rằng cả thế giới đều nhớ đến nó và quy trách nhiệm cho ta. Chúng ta đã hoàn toàn quên rằng đó chỉ là 2 viên gạch xấu xí giữa 998 viên gạch hoàn hảo. Và đôi khi chúng ta lại quá nhạy cảm với lỗi lầm của người khác. Khi bắt gặp ai mắc lỗi, ta nhớ kỹ từng chi tiết. Và hễ có dịp, hễ ai nhắc đến tên người đó, ta lại lôi tất cả hồ sơ đen của họ ra, mà quên bẵng những điều tốt đẹp họ đã làm từ đó đến nay.
Cần học cách rộng lượng với người khác và với chính mình. Một thế giới nhân ái trước hết là một thế giới nơi lỗi lầm được tha thứ. Một thế giới tình thương là một thế giới trong đó dù thế nào, mỗi người vẫn được đón nhận. Bởi vì nơi chính bản thân Người, Đức Giêsu Phục Sinh đã giao hòa mọi người lại với Thiên Chúa.
Giờ đây chúng ta cùng cầu nguyện để kết thúc giờ suy niệm.
Lạy Chúa Cha chí thánh, chúng con đang sống, đang chuyển động trong Thần Khí của Cha. Xin ban cho chúng con sự khiêm nhường để trở thành những chi thể sống động của Hội Thánh, hầu chúng con có thể sinh hoa kết quả đức tin, đức cậy, và đức mến, mà tôn vinh thánh danh Cha. Amen
“Saul, Saul, tại sao ngươi bắt bớ Ta?... Ta là Giêsu mà ngươi đang bắt bớ” (Cv 9,4-5). Câu nói này, Saul không chỉ nghe một lần là xong, nó vẫn vang đi dội lại trong tâm khảm ông.
Chiều nay, chúng ta suy ngẫm về sự hợp nhất và liên đới giữa Chúa Kitô Phục Sinh và các Kitô hữu.
Thị kiến trên đường Đamát đã tỏ cho Saun thấy các tín hữu được kết hợp với Chúa Giêsu mật thiết đến độ nào: “Saun, Saun, tại sao ngươi bắt bớ Ta?” (Cv 9,4-5). Saun đang đi tróc nã những người đi theo và phổ biến Danh Giêsu, còn Đức Giêsu, Người đã sống lại, đã được tôn vinh trên trời, thế mà bây giờ Người lại nói là Saun đang bắt bớ Người.: “Ta là Giêsu mà ngươi đang bắt bớ”! Như thế nghĩa là gì? Phải chăng đây chỉ là lời diễn tả mối quan tâm đầy hảo ý, phải nói là thiên vị nữa, của Chúa Giêsu đối với các môn đệ Người, y như người ta nói xúc phạm đến tôi tớ là xúc phạm đến ông chủ? Đó là cách đơn giản nhất để giải thích lời nói ấy của Đức Giêsu. Nhưng Saun đã khám phá ra là không chỉ đơn giản như thế; ông nhận ra rất nhanh rằng các lời này phải được hiểu theo nghĩa chặt nhất, chứ không chỉ theo nghĩa bóng bảy. Ông hiểu là Chúa Giêsu Phục Sinh đã thông ban trọn vẹn sự sống của Người cho các tín hữu đến nỗi tất cả và từng người có thể lặp lại điều mà sau này Phaolô sẽ viết trong Thư Galát: “Tôi sống, nhưng không còn phải là tôi, mà là Đức Kitô sống trong tôi” (Gl 2,20). Ở chỗ khác, cũng vẫn trong Thư Galát, ông sẽ nói rằng sau khi đã mặc lấy Chúa Kitô nhờ phép rửa tội, các tín hữu từ nay chỉ là một trong Người (x. Gl 3,27-28). Thế nhưng nói như thế không có nghĩa là tính cách cá nhân của họ bị suy suyển, bị giảm thiểu đi, không có nghĩa là họ bị hấp thụ hoàn toàn vào Chúa Kitô đến mức đánh mất hẳn nhân cách của mình, đến nỗi họ không còn là mình nữa. Phaolô muốn nói là có một sự hợp nhất sâu xa và sự liên đới chặt chẽ giữa Chúa Kitô và các tín hữu do chỗ họ được thông dự vào sự sống và tư cách Con Thiên Chúa của Chúa Kitô, và họ sẽ tiếp tục sống những sinh hoạt đời thường rất tầm thường trong tư cách cao quý đó.
Ngay trong bức thư đầu tiên, Thư 1 Thêxalônica, viết trước cả các Tin Mừng, Phaolô đã đảm bảo rằng cuộc phục sinh của Chúa Kitô sẽ lôi kéo theo sự sống lại của những người chết và cuộc quy tụ mọi người với Chúa Kitô (1 Tx 4,16-17). Khởi đi từ biến cố Đamát, Phaolô hiểu rằng sự hợp nhất các Kitô hữu mạnh đến nỗi cái chết cũng không thể phá vỡ, và sự hợp nhất này sẽ được hoàn tất trong cuộc sống vĩnh cửu.
1. Các Kitô hữu liên đới với nhau trong Chúa Kitô
Khám phá căn bản này đưa đến những xác quyết khác, và soi sáng cho Phaolô trong các giáo huấn của ông sau này:
- Khi các tín hữu Côrintô chia ra năm bè bảy mối, người thì bảo là mình thuộc về Phaolô, người thì bảo là thuộc về Apôlô, người lại bảo là thuộc về Kêpha (Phêrô), thậm chí có người nói họ thuộc về Đức Kitô (x. 1 Cr 1,12). Phaolô đã viết mộ câu như một tiếng kêu than: “Thế ra Đức Kitô đã bị chia năm sẻ bảy rồi ư?” (1 Cr 1,13). Ông đã đồng hóa các Kitô hữu với Chúa Kitô: họ chia rẽ là Đức Kitô bị phân chia.
- Lần nọ, khi nói đến vấn đề thịt cúng thần bán ở ngoài chợ, tuy Phaolô vẫn nghĩ là không tin các thần minh là có thật, thì thịt cúng cho thần cũng chẳng khác gì các loại thịt không cúng, nên cứ việc mua về mà dùng, nhưng ông đã tuyên bố rằng dứt khoát không được ăn thịt ấy, kẻo gây cớ vấp phạm cho người anh em thiếu sáng suốt, còn yếu đức tin; họ nghĩ rằng ta ăn thịt ấy là ta tin các thần thánh ngoại giáo. Ông không nói: miễn là tôi không tin thần linh là được! Chuyện tôi tôi biết, nếu có gì tôi chịu! Ông nói rất mạnh: “Như vậy, phạm đến anh em và làm thương tổn lương tâm yếu đuối của họ là phạm đến Đức Kitô” (1 Cr 8,12). Làm sao mà không nghe ra tiếng vọng của lời Đấng Cứu Thế vào ngày tận thế: tất cả những gì được làm hay bị từ khước cho người anh em nhỏ bé nhất là đã được làm hay từ chối cho chính Người (Mt 25,40.45)?
- Ở một chỗ khác trong Thư 1 Cr, Phaolô khẳng định bằng một câu hỏi: “Nào anh em chẳng biết rằng thân xác anh em là phần thân thể của Đức Kitô sao?” (1 Cr 6,15). Những lời của vị tông đồ rất có ý tứ: “phần thân thể của Đức Kitô”! Các Kitô hữu là chi thể thuộc về thân mình Chúa Kitô; vậy họ phải sống thánh thiện và tránh đừng bao giờ làm rạn vỡ sự hợp nhất với Chúa Kitô, Đấng đang thông ban cho họ sự sống của Người và Thánh Thần ở mức viên mãn. Vì khi gây chia rẽ trong gia đình, giáo xứ, thôn xóm, chúng ta đã xúc phạm đến chính Chúa Kitô.
- Khi nói về các ơn đặc biệt được ban cho một số người, gọi là “đoàn sủng”, Phaolô cũng lập luận cùng một kiểu như thế để khẳng định sự liên đới siêu nhiên của các Kitô hữu (1 Cr 12,14-26). Trong thân thể con người, có nhiều chi thể, đầu, tay chân, tai mắt. Không một chi thể nào có thể nói rằng nó không thuộc về thân thể, hay làm thành toàn thân, hoặc nó không cần những chi thể khác. Tất cả các chi thể đều cần thiết. Đi từ đó, Phaolô nói đến các chức năng chính do Đức Kitô thiết lập trong Hội Thánh: tông đồ, ngôn sứ, thầy dạy, v.v.; chức năng nào cũng cần thiết cho chức năng khác; chức năng nào cũng cần đến chức năng khác.
Phải chăng sự liên đới này cũng chỉ giống như sự liên đới tinh thần nối kết các thành viên của một xí nghiệp, một công ty? Không bao giờ Phaolô chỉ hiểu như thế. Đức Kitô là Đức Kitô cá thể, thân mình Đức Kitô là thân xác thể lý của Người, và chúng ta được kết hợp chặt chẽ vào thân xác đó, để rồi được thân xác chan hòa sự sống đó thông ban sự sống cho (x. 1 Cr 15,45). Thân xác của Đức Kitô, xưa kia bị đóng đinh và bây giờ được tôn vinh, không tách rời với bản thân Người, nay gắn kết các tất cả các tín hữu vào; họ trở thành các chi thể của Người khi được rửa tội trên thân xác, nghĩa là khi nhận dòng nước thánh tẩy trên người. Chúng ta không sinh hoa kết trái tự sức chúng ta. Chúng ta không phải là thân thể, nhưng là một đống những cành nằm chơ vơ, chẳng có ích cho bất cứ chuyện gì, chỉ còn đáng quẳng vào lửa mà đốt đi. Nhưng ghép những cành vô tích sự ấy lên thân cây, nó sẽ sinh hoa trái. Chúa Kitô đã cho chúng ta được ghép vào Thân mình của Người, để chúng ta sống dồi dào và sinh hoa kết quả.
Chúng ta liên đới với nhau trong Thân Thể Chúa Kitô, nên gây ảnh hưởng lên nhau: một ngón tay đau thì cả thân mình đau, một cái răng buốt, cả thân thể ta đau đớn. Và vì thế, cứu một chi thể là vì thương cả thân mình. Không ai được phép nói: đó là chuyện của riêng tôi!
2. Đối với những kẻ thù nghịch
Không những chỉ gắn bó với những anh chị em đạo đức tốt lành thánh thiện, người tín hữu còn được kêu gọi yêu thương những kẻ làm khốn cho mình. Như vậy, họ được kêu gọi tìm cách kiến tạo một nền văn hóa tình thương. Nếu anh chị em bị ai làm khổ, muốn trả thù, xin học lấy cách trả thù của Phaolô: “Đừng tự mình báo oán, nhưng hãy để cho cơn thịnh nộ của Thiên Chúa làm việc đó, vì có lời chép: Đức Chúa phán: ‘Chính Ta sẽ báo oán, chính Ta sẽ đáp trả’. Trái lại, kẻ thù ngươi có đói, hãy cho nó ăn; có khát, hãy cho nó uống; làm như vậy, ngươi sẽ chất than hồng lên đầu nó. Đừng để cho sự ác thắng được mình, nhưng hãy lấy thiện mà báo ác” (Rm 12,19-21). Phaolô cũng rất đáo để, “đanh đá”!
Một nền văn hóa mà không nghĩ tới ưu tiên dành cho các quan hệ thì thế nào cũng trở thành một nền văn hóa của bạo lực, của sự chết và trả thù. Một nền văn hóa như thế chỉ biết có hai cách nhìn tới người khác: hoặc họ là mối đe dọa cho cuộc theo đuổi hạnh phúc của tôi, nên họ là kẻ thù của tôi, hoặc họ hữu ích trong việc giúp tôi đạt hạnh phúc, khi đó họ chỉ là dụng cụ để tôi tận dụng. Đấy là một nền văn hóa yêu chính mình, và loại trừ bất cứ tình yêu chân chính nào khác. Đức Kitô cống hiến một nền văn hóa đối trọng, nền văn hóa của tình yêu, của sự sống và sự hoà giải. Chính “việc canh tân tâm trí” (Rm 12,2) trong đức tin làm cho chúng ta có thể thấy điều Thiên Chúa thấy nơi bất cứ “người khác” nào, dù là một kẻ thù. Một kẻ thù hôm nay có thể là một người bạn mai sau, điều đó đã xảy ra với chính Saun, và như thế kẻ ấy cũng là hình ảnh của Thiên Chúa, Đấng nhắm làm cho cuộc đời tôi nên phong phú nhờ người anh em hoặc chị em đối nghịch với tôi đó. Tôi mà thiếu mất tương quan đó, thì Hội Thánh cũng thiếu mất những phong phú của người ấy. Đức tin giúp tôi hiểu rằng tôi khốn khổ, không hẳn do kẻ thù gây khó khăn, mà có khi là do thiếu sự qua lại trong hiệp thông vào điều chân thật và tốt lành, và do đó tôi không được làm cho nên phong phú. Thế là Hội Thánh bót phong phú!
Chúng ta được kêu gọi yêu thương kẻ thù bởi vì Thiên Chúa “đã yêu thương chúng ta trước” (1 Ga 4,19) trong Đức Kitô “ngay khi chúng ta còn là thù địch” (Rm 5, 10). Đau khổ Đức Kitô đã chịu suốt đời, và đặc biệt trên thập giá, cho thấy rằng tiếng nói cuối cùng không được dành cho các hành vi và thái độ loại trừ tình yêu. Việc Đức Kitô yêu thương “đến cùng” (Ga 13,1) về thời gian và về mức độ đã chinh phục được điều gian ác: hành vi xấu xa là loại trừ tình yêu đã bị thắng vượt bởi điều tốt lành là một tình yêu mạnh mẽ cho đến tận cùng về mức độ và tận cùng về thời gian.
Để có thể yêu thương kẻ thù, chúng ta phải học biết rằng lòng từ bi và tha thứ tỏ ra cho một kẻ thù cũng là lòng từ bi ta nhận được. Người cha của đứa con hoang đàng đã tỏ ra từ bi thương xót với con mình, và thế là ông được nhận lại đứa con. Đứa con nhận lại một người cha, và người cha cũng nhận lại một người con. Khi tình yêu của chúng ta đối với kẻ làm ác (kẻ thù) chúng ta là một sự thông dự vào đau khổ của Đức Kitô, khi đó nó trở thành đủ mạnh để có thể chinh phục được sự gian ác bằng sự tốt lành.
Đôi khi chỉ cần tập luyện trên bình diện nhân bản, cũng tránh đi được những phản ứng phiến diện, có thể gây rạn nứt trong lòng cộng đoàn Hội Thánh lớn hay nhỏ:
Một giáo viên đưa lên cho các học sinh của mình coi một tờ giấy trắng có một điểm đen nhỏ. Ông hỏi họ thấy gì; tất cả trả lời: Thấy vết đen! Dĩ nhiên vết đen nổi rõ trên nền tờ giấy trắng. Thông thường người ta hay chú ý đến một vết đen trên trang giấy trắng, hơn là thấy cả một tờ giấy trắng chỉ có một vết đen nhỏ. Nhưng ta nhận ra có hai cách nhìn, một cách tiêu cực và một cách tích cực. Cách nhìn của tiêu cực hướng người ta về vết đen, để rồi không nhìn thấy trang giấy trắng. Cách nhìn tích cực hướng người ta đến trang giấy trắng còn lại một vết đen. Cách nhìn tiêu cực là cách nhìn tẩy chay, phê phán. Cách nhìn tích cực là biết mình chưa thành toàn, nhưng sẵn sàng tiến tới để mà nên chín chắn dần, trong ân sủng, trong cách ứng xử, trong cách suy nghĩ và lấy quyết định. Cái nhìn tiêu cực gây bế tắc, làm hỏng cuộc đời ta đã đành, mà có khi còn làm hỏng cả cuộc sống người khác. Câu chuyện "Hai viên gạch" sau đây là một minh hoạ.
"Ðến miền đất mới, cácnhà sư phải tự xây dựng mọi thứ. Họ mua đất, gạch, mua dụng cụ và bắt tay vào việc.
Một chú tiểu được giao xây một bức tường gạch. Chú rất tập trung vào công việc, luôn kiểm tra xem viên gạch đã thẳng chưa, hàng gạch có ngay ngắn không. Công việc tiến triển khá chậm vì chú hết sức kỹ lưỡng. Nhưng chú rất vui, vì nghĩ rằng sẽ để lại cho đời một tuyệt tác. Cuối cùng, chú cũng hoàn thành công việc vào lúc hoàng hôn buông xuống. Khi đứng lui ra xa để ngắm nhìn công trình lao động của mình, chú bỗng cảm thấy có cái gì đó đập vào mắt, và cảm thấy lòng tê tái: mặc dù chú đã rất cẩn thận khi xây bức tường, song vẫn có hai viên gạch bị đặt nghiêng. Và điều tồi tệ nhất là hai viên gạch đó nằm ngay chính giữa bức tường. Chúng như đôi mắt đang trừng trừng nhìn chú! Thể là từ đó, mỗi khi du khách đến thăm ngôi đền, chú tiểu đều dẫn họ đi khắp nơi, trừ đến chỗ bức tường mà chú xây dựng. chú mặc cam, chú muốn che giấu điểm bất toàn.
Một hôm, có hai nhà sư già đến tham quan ngôi đền. Chú tiểu đã cố lái họ sang hướng khác nhưng hai người vẫn nằng nặc đòi đến khu vực có bức tường mà chú xây dựng. Một trong hai vị sư khi đứng trước công trình ấy đã thốt lên: "Ồ, bức tường gạch đẹp ghê!". Chú tiểu ngạc nhiên kêu lên: "Hai vị nói thật chứ? Hai vị không thấy hai viên gạch xấu xí ngay giữa bức tường kia sao?" Vị sư già từ tốn trả lời: "Có chứ, nhưng tôi cũng thấy 998 viên gạch còn lại đã ghép thành một bức tường hết sức tuyệt vời".
Ðôi khi chúng ta quá nghiêm khắc với bản thân mình khi cứ luôn nghiền ngẫm từng lỗi lầm mà ta đã mắc phải, cho rằng cả thế giới đều nhớ đến nó và quy trách nhiệm cho ta. Chúng ta đã hoàn toàn quên rằng đó chỉ là 2 viên gạch xấu xí giữa 998 viên gạch hoàn hảo. Và đôi khi chúng ta lại quá nhạy cảm với lỗi lầm của người khác. Khi bắt gặp ai mắc lỗi, ta nhớ kỹ từng chi tiết. Và hễ có dịp, hễ ai nhắc đến tên người đó, ta lại lôi tất cả hồ sơ đen của họ ra, mà quên bẵng những điều tốt đẹp họ đã làm từ đó đến nay.
Cần học cách rộng lượng với người khác và với chính mình. Một thế giới nhân ái trước hết là một thế giới nơi lỗi lầm được tha thứ. Một thế giới tình thương là một thế giới trong đó dù thế nào, mỗi người vẫn được đón nhận. Bởi vì nơi chính bản thân Người, Đức Giêsu Phục Sinh đã giao hòa mọi người lại với Thiên Chúa.
Giờ đây chúng ta cùng cầu nguyện để kết thúc giờ suy niệm.
Lạy Chúa Cha chí thánh, chúng con đang sống, đang chuyển động trong Thần Khí của Cha. Xin ban cho chúng con sự khiêm nhường để trở thành những chi thể sống động của Hội Thánh, hầu chúng con có thể sinh hoa kết quả đức tin, đức cậy, và đức mến, mà tôn vinh thánh danh Cha. Amen