ĐỂ GIẢNG LỄ TỐT HƠN
Lm. Lê Công Đức dịch và hiệu đính từ nguyên tác: PREACHING BETTER –
Practical Suggestions for Homilists
của: Ken Untener, Giám Mục Saginaw
do nhà Jesuit Communications Foundation, Inc. xuất bản, 1999.
Giảng lễ là ‘nghề’ số một của linh mục. Và bất cứ linh mục nào, dù đã giảng tốt đến mấy, cũng vẫn có thể trau giồi để giảng tốt hơn.
Quyển sách nhỏ này là kết tinh của một dự án lớn về giảng lễ được khởi xướng bởi Đức Cha Ken Untener, giám mục Saginaw (Michigan, USA) cách đây 16 năm – và được trung thành theo đuổi bởi chính ngài và các giáo sĩ trong giáo phận của ngài. Đối tượng trước hết của sách này không phải là các đại chủng sinh đang tập giảng ở những năm cuối thần học, dù chắc chắn cũng rất bổ ích cho họ. Sách nhắm trước hết các linh mục đang làm tác vụ Lời Chúa và đã có, ít hay nhiều, kinh nghiệm liên quan đến giảng lễ. Vì thế, hy vọng rằng quyển sách này có một giá trị thường huấn – thậm chí tự thường huấn – cho các linh mục.
Một số trang không chỉ được dịch mà còn được hiệu đính, để phù hợp với tiếng Việt.
Những ngày đầu năm Kỷ Sửu 2009
Người dịch
Nội Dung
- Giới thiệu: Quyển sách hình thành như thế nào?
1. Một “thái độ”
2. Bài giảng là gì?
3. Không phải là bài giảng
4. Phần mở đầu bài giảng
5. Phần kết bài giảng
6. Chuẩn bị bài giảng: Vài ý tưởng sơ khởi
7. Chuẩn bị bài giảng: Các bài đọc Thánh Kinh
8. Chuẩn bị bài giảng: Chỉ một hạt ngọc… nhưng đắt giá!
9. Chuẩn bị bài giảng: Viết ra
10. Chuẩn bị bài giảng: Sửa chữa
11. Chuẩn bị bài giảng: Nắm vững tư tưởng của mình
12. Chiều sâu
13. Nối kết với đời sống thực tế
14. Những câu chuyện
15. Nên giảng dài hay ngắn?
16. Thông tin bên lề
17. Dùng từ
18. Bài giảng của tôi! Nhưng không qui về “tôi”!
19. Trân trọng các đánh giá phản hồi
20. Rút kinh nghiệm từ những bài giảng lễ ngày thường
21. Dùng các vật minh hoạ
22. Đừng quá ôm đồm, đừng nói hết những gì phải nói
23. Sự tham dự của cộng đoàn vào bài giảng
24. Bài giảng đem lại niềm an ủi
25. Giảng về tội
26. Mười con quỉ
27. Một bài giảng cho các nhà giảng thuyết
Đôi dòng về tác giả
GIỚI THIỆU QUYỂN SÁCH NÀY HÌNH THÀNH NHƯ THẾ NÀO?
Quyển sách này bắt đầu từ sát đất. Tưởng nên nói qua về bối cảnh của nó.
Giai Đoạn I: Ghi lại ý kiến của dân chúng
Năm 1975, tôi bắt đầu nhận dạy môn Giảng Lễ tại Chủng Viện Saint John’s ở ngoại ô Detroit. Vốn liếng của tôi chỉ vỏn vẹn một tấm bằng thần học và … mười hai năm giảng lễ.
Tôi mua một quyển sổ tay và bắt đầu hỏi người ta về những gì liên quan tới các bài giảng lễ mà họ thích và không thích. Tôi chỉ hỏi các ‘giáo dân trơn’ thôi, nghĩa là những người không có vai trò chuyên biệt trong cộng đoàn và – có thể nói – họ hoàn toàn thuộc về ‘đại chúng’. Tôi hỏi bất cứ khi nào tôi có dịp: với người quen, với người lạ, tại bàn ăn tối, tại các đám tiệc, trên máy bay… Họ nói; tôi ghi chép.
Thật thú vị là người ta rất sẵn sàng nói chuyện về đề tài này. Có những người tình cờ nghe chuyện cũng xen vào.
Tôi tiếp tục làm thế. Và cho tới nay, tôi đã thu thập được hàng ngàn ý kiến. Bên cạnh đó, tôi cũng phân các ý kiến thành 25 loại căn bản. Sự trùng hợp giữa các ý kiến thật đáng ngạc nhiên.(1) (Chẳng mấy chốc, một trong số 25 loại ý kiến ấy bắt đầu vượt trội các loại kia, chiếm lĩnh vị trí ‘số một’. Tôi sẽ dành một chương của quyển sách để đề cập đến loại ý kiến này.)
Bộ sưu tập ý kiến nói trên, cộng với các suy tư của tôi về các ý kiến ấy, chính là cốt lõi của quyển sách này. Nhưng không phải tất cả chỉ có vậy.
Giai Đoạn II: Chương trình Saginaw
Năm 1993, rốt cục tôi triển khai được một kế hoạch vốn đã dự tính từ vài năm trước đó. Hội Đồng Linh Mục Saginaw nhất trí với kế hoạch này, ngay cả tình nguyện làm những người tiên phong.
Công việc như sau:
Tôi rà qua danh sách các linh mục và chọn bốn người, cộng với một phó tế hay một tác viên giáo dân. Rồi tôi gửi mỗi người một lá thư yêu cầu ghi âm trực tiếp bài giảng lễ Chủ Nhật của tuần ấy và gửi lại cho tôi.(2) Đây là việc bắt buộc chứ không tuỳ ý. Tôi cũng ghi âm một trong các bài giảng ngày Chủ Nhật ấy của mình và đặt vào chung với các băng ghi âm kia.
Nhận được mỗi băng ghi âm bài giảng, thư ký của tôi làm các băng bản sao, đánh thành văn bản, rồi gửi cho mỗi người tất cả các bản sao của các băng ghi âm cũng như tất cả các bản văn ghi lại các bài giảng. (Người thư ký của tôi phải cày đến nín thở!)
Một buổi hẹn được định ra cho mọi người gặp nhau tại văn phòng tôi trong hai tiếng đồng hồ. Để chuẩn bị cho buổi làm việc này, mỗi người nghe trước tất cả các băng và ghi chú.
Tại buổi gặp gỡ, chúng tôi làm cái công việc mà những người chơi gôn thường làm sau một trận đấu. Chúng tôi đưa ra những lời khen ngợi, khích lệ, những lời khuyên, và cố gắng nghĩ cách để cải thiện các bài giảng. Rồi chúng tôi cũng thảo luận rộng hơn về những vui buồn xung quanh việc giảng thuyết, về những cái đạt được và những bế tắc, và nhất là về câu hỏi: Bài giảng là gì trước hết? Tôi không phải là thầy dạy của nhóm. Tôi chỉ là người qui tụ các thành viên – và bài giảng của tôi cũng nằm trong số sáu bài giảng được mổ xẻ.(3)
Ở đây sự thành thật là chìa khoá. Tôi nhắc mọi người rằng đây là cơ hội ngàn năm một thuở để nghe được những đóng góp thẳng thắn của các đồng sự giàu kinh nghiệm của mình. Nói chung, mọi người đều chân thành phát biểu, và chúng tôi đã có những cuộc trao đổi tuyệt vời, nhiều khi chúng tôi chia sẻ thật sâu xa tận đáy lòng mình. Chúng tôi cũng chia sẻ về cốt lõi của sứ vụ chúng tôi, sứ vụ xây dựng cộng đoàn nhờ Lời Chúa.
Khi chúng tôi kết thúc buổi gặp gỡ hai tiếng đồng hồ đó, mỗi nguời nhận một băng (cassette) trắng để ghi âm bài giảng khác của mình vào Chủ Nhật kế tiếp. Mọi người ra về, và toàn bộ tiến trình lại bắt đầu một lần nữa. Mỗi nhóm làm bốn lần như vậy.(4)
Chúng tôi không hề tham vọng rằng sau mỗi buổi gặp gỡ mình sẽ có được ngay những sự cải thiện. Điều chúng tôi nhắm đến, đó là bốn buổi gặp gỡ ấy sẽ vạch một lộ trình theo đó chúng tôi sẽ tiếp tục hoàn thiện các bài giảng của mình trong tương lai.
Khi nhóm này sắp họp mặt buổi thứ tư (tức buổi cuối cùng), tôi gửi các thư mời để qui tụ một nhóm khác, rồi lại một nhóm khác, và cứ thế… Đến nay công việc đã đều đặn diễn ra được bốn năm. Khoảng hai năm nữa sẽ xong một lượt cho mọi linh mục trong giáo phận, khi ấy chúng tôi sẽ lại bắt đầu một lượt khác.
Trên đây chỉ là đại lược những nét chính của chương trình. Thật ra còn có sự đóng góp của vài khuôn mặt khác nữa.
Vị giám đốc truyền thông của chúng tôi, một nhà báo nữ kỳ cựu, cũng tham gia với chúng tôi trong một phần của mỗi buổi gặp gỡ. Trước mỗi buổi gặp, chị chọn ra hai bản văn bài giảng và biên tập chúng, dựa vào kinh nghiệm của chị vốn là biên tập viên của một tờ nhật báo. Tại buổi gặp, chị trao cho mọi người bản sao của những bản văn đã được biên tập trực tiếp trên bản gốc, và chị rà lại từ đầu đến cuối mỗi bài, giải thích lý do của những thay đổi.
Dĩ nhiên văn viết thì khác với văn nói. Chị lưu ý điều này, nên trước khi biên tập chị luôn nghe chính bài giảng ấy trên băng ghi âm. Chị không tự nhận mình là nhà giảng thuyết hay nhà thần học; chị là một nhà báo và chị áp dụng kỹ năng của một nhà báo để giúp cải thiện các bài giảng của chúng tôi ngần nào có thể.
Và chị đã giúp được rất nhiều. Thật đó. Quả là một kinh nghiệm khai trí khi bạn đọc bài giảng của chính mình đã được biên tập.(5)
Mỗi nhóm chúng tôi còn có sự tham dự của một phụ nữ vừa là một nhà thần học hệ thống vừa là một nhà linh hướng từng trải. Chị có đảm nhận việc giảng thuyết và phụ trách phụng vụ nhưng không thường xuyên; chị tự xem mình là một trong số những người nghe giảng và chị đóng góp cho các buổi thảo luận của chúng tôi bằng năng lực thần học và linh đạo của chị. Sự hiện diện của hai nữ chuyên viên ‘phi giảng thuyết’ này thật quí báu cho các nhóm chúng tôi.
Ngoài ra, chúng tôi còn có một đối tác nữa trong tiến trình. Một người ở giáo phận láng giềng vận động được một nhóm giáo dân sẵn lòng tham gia bằng thư tín. Trước mỗi buổi gặp của chúng tôi, sáu người trong số các giáo dân này sẽ nhận các băng ghi âm bài giảng, mỗi nguời một bài, để nghe và gửi các nhận xét phản hồi của mình trên một mẫu phiếu trả lời được cung cấp sẵn.
Bởi vì họ chưa bao giờ nghe các vị giảng thuyết này trước đó, nên các ý kiến phản hồi của họ đặc biệt gây ấn tượng khi chúng âm vang một số ý kiến được nêu lên trong nhóm của chúng tôi.
Đó là “chương trình Saginaw” của chúng tôi. Đó không phải là một khoá vỡ lòng dành cho những kẻ mới nhập cuộc. Đó là một khoá thực hành của những nhà giảng thuyết dày kinh nghiệm muốn giúp nhau cải thiện nghệ thuật giảng thuyết của mình.
Giúp Nhau Ngay Trong Thực Hành
Không có ai giảng thuyết bằng tất cả tiềm năng của mình, và không ai trong chúng ta cải thiện bài giảng của mình duy chỉ bằng cách cứ lặp đi lặp lại hoài. Thực hành không làm cho người ta nên hoàn hảo, bởi vì ta vẫn luôn cần tập tành để có thể làm tốt hơn.
Những người chuyên nghiệp trong hầu như mọi lãnh vực đều có kinh nghiệm tương tự như vậy. Các nhạc công chuyên nghiệp vẫn luôn giúp nhau chơi tốt hơn; các tay chơi gôn cũng thế. Các tác giả luôn nhận sự phê bình về việc viết lách của mình, dù muốn hay không muốn. Sau mỗi trận cầu, Liên Đoàn Bóng Đá Quốc Gia sử dụng các băng video để xem lại cách làm việc của các trọng tài và các giám biên. Câu chuyện của các phi công dân sự là ví dụ thú vị nhất. Mỗi năm một lần, mỗi phi công tham gia với một số đồng nghiệp khác trong một chương trình ôn luyện và cải thiện khả năng bay của mình. Một phần của việc này là thực hành với một chuyến bay giả, nhưng trong năm, họ còn có một cuộc ôn tập khác mang ý nghĩa thực hành thật sự. Không hề được báo trước, một “phi công kiểm tra” sẽ leo vào buồng lái và nói: “Tôi sẽ cùng bay với cậu. Cậu cứ làm những gì bình thường cậu vẫn làm.”(6)
Một phi công dân sự lần kia cho tôi biết rằng còn có một động lực mạnh hơn thế nữa thúc đẩy sự cải thiện. Luôn luôn có hai phi công trong buồng lái, và thường hai người luân phiên thay nhau điều khiển chuyến bay. “Các phi công rất tự hào về khả năng bay của mình,” anh ta nói, “và sự hiện diện của một phi công khác sẽ làm cho bạn muốn thể hiện tốt nhất khả năng ấy. Hơn nữa, chúng tôi cố gắng giúp nhau.”
Vâng, đó cũng là điều chúng tôi cố gắng làm trong các nhóm của chúng tôi: giúp nhau giảng tốt hơn ngần nào có thể và không ngừng cải thiện.
Tôi không phản đối các khoá hội thảo về giảng thuyết. Mở càng nhiều khóa càng tốt. Nhưng bên cạnh đó, chúng ta cần việc trao đổi kinh nghiệm trong thực hành. Việc phê bình một bài giảng ‘diễn tập’ trên băng video có thể hữu ích; nhưng việc phê bình một bài giảng thực sự diễn ra tại giáo xứ trong những điều kiện thực tế thì lại là một chuyện hoàn toàn khác.(7)
Vì tôi là thành viên của tất cả các nhóm, nên tôi đã nghe rất nhiều bài giảng ghi âm và đã tham gia thảo luận rất nhiều về các bài giảng. (Cho tới nay, đã có đến 85 bài giảng của chính tôi được đem ra mổ xẻ.) Và tôi đã học hỏi được rất nhiều, đồng thời cũng cố gắng truyền đạt cho các nhóm những điều bổ ích nhất mà tôi thu lượm được trong tiến trình.
Đấy cũng chính là điều mà quyển sách này muốn làm với tất cả bạn đọc.(8)
Phần đông các nhà giảng thuyết rất cần mẫn làm công việc của mình, và điều này thật đáng khen ngợi. Chỉ những ai giảng mới biết công việc này khó khăn đến mức nào. Tôi hiểu rõ thách đố này từ những cuộc vật lộn và những va vấp của chính tôi. Chỉ mong sao những chương sách này, xuất phát từ kinh nghiệm của hàng trăm người cùng đi chung một chiếc thuyền, sẽ đem lại những ích lợi thiết thực nào đó.
CHƯƠNG I: MỘT THÁI ĐỘ
“Ta sẽ ban cho chúng quả tim mới
và sẽ đặt tinh thần mới vào lòng chúng” (Ed 11,19)
Soạn một bài giảng có thể giống như làm một bài tập về nhà mỗi tuần. Những công việc như thế ít khi đánh động trái tim chúng ta.
Bước đầu tiên, và có lẽ là bước quyết định nhất để cải thiện các bài giảng, chính là gạt bỏ cái thái độ ấy. Chúng ta cần một quả tim mới, một tinh thần mới.
Sự thay đổi quả tim này không phải là một mẹo lừa tâm lý. Đó là thực tại căn bản. Chỉ cần một vài khoảnh khắc suy tư là chúng ta có thể nhận ra mình thật sự đang làm gì khi chuẩn bị một bài giảng.
Bạn hãy xem xét những điều sau đây:
1. Khi chuẩn bị một bài giảng, chúng ta đang tham dự vào cùng loại hành động của Chúa Thánh Thần khi hình thành bản văn Thánh Kinh
Nói vậy nghe như phóng đại, nhưng Hội Đồng Giám Mục Hoa Kỳ đã xác nhận rõ ràng như vậy trong Tài Liệu Fulfilled in Your Hearing:
Nếu các lời của Thánh Kinh được Thiên Chúa linh hứng, như chúng ta vẫn tin chắc như thế, thì sự linh hứng của Thiên Chúa ắt hẳn phải hoạt động khi những lời ấy được làm cho sống động và được làm cho trở thành hiện thực đối với cộng đoàn đức tin xuyên qua sứ vụ của chúng ta.(9)
Raymond Brown cũng không ngần ngại xác quyết điều đó. Vị linh mục học giả Thánh Kinh này chỉ ra rằng khi các thị chứng nhân Tông Đồ diễn giải sứ điệp của Đức Giêsu cho những hoàn cảnh mới, các ngài đã không làm điều đó duy chỉ bằng việc nhớ lại những gì Đức Giêsu đã làm và đã nói. Nói cho cùng, các ngài vốn thuộc số những kẻ “thấy mà không hiểu.” Sau sự kiện Phục Sinh và Lên Trời, chính ân ban Thánh Thần đã dạy cho các ngài biết ý nghĩa của những gì các ngài đã nhìn thấy. Đây là sự ứng nghiệm điều mà Đức Giêsu đã nói với các ngài:
Thầy còn nhiều điều để nói với anh em, nhưng bây giờ anh em không thể hiểu. Nhưng khi Thần Chân Lý đến, Ngài sẽ dẫn anh em đến sự thật trọn vẹn. (Ga 16,13)
Brown lưu ý rằng Đấng Bàu Chữa được hứa ấy không chấm dứt hoạt động của Ngài khi thời đại các Tông Đồ chấm dứt. Các Kitô hữu chúng ta thuộc các thế hệ sau cũng không bị tách xa hơn khỏi sứ vụ của Đức Giêsu so với các Kitô hữu thuở ban đầu. Đấng Bàu Chữa cư ngụ trong chúng ta cũng y như Đấng Bàu Chữa đã cư ngụ trong các thị chứng nhân sau biến cố Phục Sinh và Lên Trời, để nhắc nhớ và để trao ý nghĩa mới mẻ cho những gì Đức Giêsu đã nói.(10)
2. Khi chuẩn bị một bài giảng, chúng ta đang soạn một phần của phụng vụ
Bài giảng là một phần của phụng vụ. Chúng ta biết thế qua sách vở, nhưng trong thực tế, chúng ta dễ dàng quên điều đó – bởi vì một bài giảng DƯỜNG NHƯ rất giống với một bài nói chuyện, một bài phát biểu hay một bài lên lớp được nhét vào trong một cuộc cử hành phụng vụ. Sự việc càng khó khăn hơn nữa khi mà cho đến nay đã nhiều thế hệ thường coi “các bài giảng” LÀ những bài nói chuyện, phát biểu hay lên lớp xảy ra trong khung cảnh phụng vụ.
Chúng ta đang dần dần trở về với ý thức rằng trong một bài giảng chúng ta chuẩn bị và công bố – dưới sự hướng dẫn của Chúa Thánh Thần – một cái gì đó thực sự là một phần của chính cuộc cử hành phụng vụ. Người ta nhớ lại cái cách mà những vị chủ toạ cử hành Thánh Thể thuở ban đầu chuẩn bị và cử hành lời nguyện Thánh Thể: Các vị ấy biết rõ rằng mình đang làm một việc rất thánh thiêng. Chúng ta cũng cần có thái độ tương tự khi chuẩn bị bài giảng và chính khi giảng lễ.(11)
3. Khi giảng lễ, chúng ta đứng cùng phía với Thiên Chúa và nói với dân chúng
Trong bài giảng, vị giảng thuyết được đặt vào một vị trí khác với vị trí của chủ tế khi đọc Kinh Nguyện Thánh Thể.
+ Trong Kinh Nguyện Thánh Thể, chủ tế “đứng đối diện với Thiên Chúa” và nhân danh dân chúng để nói với Thiên Chúa.(12)
+ Trong bài giảng, vị giảng thuyết “đứng đối diện với dân chúng” và nhân danh Thiên Chúa để nói với dân chúng.(13)
Với cái nhìn đối chiếu như thế, bạn thấy giữa hai đàng, đàng nào “khiếp đảm” hơn? À, đàng nào cũng “khiếp đảm” theo cách riêng của nó. Nhưng trong khi chúng ta nhận ra tính thiêng thánh của vị chủ tế trong Kinh Nguyện Thánh Thể, thì chúng ta còn chưa nhận ra bao nhiêu tính thánh thiêng của vị giảng thuyết trong bài giảng lễ. (Trong những năm gần đây, người ta ngày càng nhấn mạnh tầm quan trọng của bài giảng. Tôi ước mong nhìn thấy sự thánh thiêng của bài giảng cũng được nhấn mạnh như thế.)
Một Công Việc Đầy Tâm Tình Cầu Nguyện Và Niềm Vui
Chúng ta cần tìm cách để làm cho việc chuẩn bị bài giảng trở thành một công việc đầy ắp tâm tình cầu nguyện và niềm vui.
Phần lớn quá trình được đào tạo tu đức của tôi đã không nối kết hai từ: Cầu nguyện và niềm vui. Một số hình thức cầu nguyện mà tôi đã học xem ra không bao gồm niềm vui trong đó.
Nhưng ở đây thì hai từ trên được nối kết. Chúng ta đi vào trong một mối tương quan đặc biệt với Chúa Thánh Thần khi chuẩn bị một bài giảng, và điều này đặt chúng ta vào trong một bầu khí cầu nguyện. Chúng ta đang làm một trong những công việc trọng yếu bậc nhất thuộc sứ vụ của chúng ta, và đó là niềm vui.
Bạn hãy tìm cách để làm cho việc sửa soạn bài giảng thấm đẫm tâm tình cầu nguyện. Thắp một ngọn nến sẽ rất tốt. Còn mở tivi thì không tốt đâu. Rất thường, những tâm tình cầu nguyện bất chợt nảy ra trong tiến trình. Bạn cứ tạm dừng lại mà cầu nguyện. Không có gì phải vội vã. Hơn nữa, thời gian dùng để chuẩn bị bài giảng há chẳng phải là thời gian cầu nguyện đó sao? Chuẩn bị bài giảng có thể là một công việc khó nhọc, nhưng đó cũng là một công việc thánh thiện nữa đấy.
Bạn hãy tìm cách làm cho công việc này nên thú vị. Hãy xếp đặt nơi chốn và thời gian thuận tiện. Đừng để mình bị áp lực phải làm vội vã; cũng liệu sao cho các tài liệu tham khảo có sẵn trong tầm tay.(14) (Hãy lưu ý rằng việc bắt đầu soạn bài giảng ngay từ đầu tuần sẽ rất thuận tiện cho bạn cảm nghiệm cả những tâm tình cầu nguyện lẫn những niềm vui.)
—————————————–
Là những người dấn thân trong công việc mục vụ, chúng ta cần thời gian để thao luyện tâm linh, nhưng sẽ là sai lầm nếu xem việc thao luyện tâm linh như cái gì nằm ở bên ngoài các công tác mục vụ. Trong chính khung sinh hoạt đều đặn của chúng ta vốn đã có dự liệu những cơ hội để cầu nguyện, suy tư và lắng nghe Chúa Thánh Thần.
Soạn bài giảng là một trong những công việc thánh thiện và đầy tâm tình cầu nguyện như thế.
CHƯƠNG II: BÀI GIẢNG LÀ GÌ?
“Khi chúng tôi nói cho anh em nghe lời Thiên Chúa, anh em đã đón nhận, không phải như lời người phàm, nhưng… như lời Thiên Chúa. ” (1Tx 2,13)
Nhưng trước hết, thế nào là một bài giảng? Các nhóm thảo luận của chúng tôi đã vật lộn rất nhiều với câu hỏi này, và tôi nhận ra mình đã dần dần có một cái nhìn rất khác về bài giảng. Cho đến nay điều này đã có một ảnh hưởng thật lớn lao đối với tôi.(15)
Trước đây, tôi quan niệm nhà giảng thuyết như một anh đầu bếp nhìn xem trong tủ lạnh và trong tủ thức ăn có những thứ gì (= các bài đọc), anh suy nghĩ và quyết định một thực đơn (= ý tưởng chủ đạo của bài giảng), rồi anh tiến hành nấu nướng theo thực đơn đó và dọn ra bàn ăn (= bài giảng).
Điều tôi đã trở nên ý thức nhiều hơn trong những năm qua, đó là người giảng thuyết bước vào bếp vốn đã ngào ngạt hương vị của món gì đó đã được nấu sẵn, và chính Chúa đang tiến hành công việc nấu nướng này. Phụng vụ là bữa ăn của Chúa từ đầu tới cuối: chọn thực đơn, nấu món ăn, dọn ra bàn. Chúng ta là những người phụ giúp vào tiến trình ấy.
Thật vậy, công việc của các thừa tác viên trong phụng vụ, kể cả người giảng thuyết, là giúp một tay vào công việc Chúa Kitô đang làm, vì Chúa Kitô chính là người dẫn dắt mọi kinh nguyện phụng vụ. Việc trước hết chúng ta phải làm khi chuẩn bị một bài giảng (hay khi lên kế hoạch một cử hành phụng vụ), đó là khiêm tốn đứng trước mặt Chúa.(16)
Người Giảng Thuyết Đảm Nhận Một Công Tác Ba Mặt
Vai trò của người giảng thuyết bao gồm ba mặt: (1) nhận định điều Chúa đang làm / đang nói xuyên qua khung cảnh cụ thể này, (2) giúp soi sáng cho cộng đoàn thấy rõ điều ấy, và (3) làm tất cả công việc này nhân danh Giáo Hội.
1. Nhận Định Điều Chúa Đang Làm / Đang Nói Xuyên Qua Khung Cảnh Cụ Thể Này
Lời Thiên Chúa không sống trong một quyển sách. Lời đó trở nên sống động trong cái khung cảnh toàn thể là giao điểm của:
• những bản văn Thánh Kinh cụ thể này (vào các ngày Chủ Nhật, có 4 bản văn: gồm 3 bài đọc và bài Thánh Vịnh đáp ca)
• bối cảnh phụng vụ cụ thể này (mùa phụng vụ gì? lễ gì? dịp gì?)
thời gian và nơi chốn lịch sử cụ thể này (tất cả những gì đang diễn ra trong thế giới và trong Giáo Hội lúc này)
• những con người cụ thể này (các hoàn cảnh sống thực của những con người đang nghe chúng ta giảng đây)
Ở đây có liên quan đến việc chú giải. Nhưng chú giải không phải là tất cả công việc phải làm. Chúng ta cố gắng nhận định xem bản văn này thi hành chức năng thế nào ở đây và bây giờ. Lần nọ có người nêu nhận xét với tôi rằng các nhà giảng thuyết dường như quá thường giảng về một “Đức Giêsu lịch sử”; nghĩa là các vị chỉ loay hoay giải thích Đức Giêsu của “ngày xưa” ấy. Nhưng Đức Giêsu đâu có thuộc về ngày xưa. Đức Giêsu đang sống hoạt thực sự hôm nay, chứ không phải sống như người đã về hưu. Ngài đang tác động trên chúng ta ở đây và bây giờ, cách riêng trong phụng vụ. Một cái gì đó đang “đốt cháy” khi phối hợp những bản văn Thánh Kinh này với khung cảnh thực tế này, và chúng ta, những người giảng thuyết, phải khám phá nó và khai mở nó ra cho dân Thiên Chúa.
Lời Thiên Chúa trong phụng vụ luôn luôn sống động, không bao giờ là thứ lời cũ được nhắc lại. Khi Thánh Kinh được công bố, chúng ta không đang nghe điều gì đó Thiên Chúa đã nói. Chúng ta đang nghe Thiên Chúa nói trực tiếp với chúng ta bây giờ. Đây là giáo lý Công Giáo,(17) nhưng tôi e rằng chúng ta không nghiêm chỉnh nhìn nhận điều này.
Đặc tính sống động của Lời Thiên Chúa không chỉ có nghĩa rằng Thiên Chúa đang nói với chúng ta, mà còn có nghĩa rằng Lời Thiên Chúa đang kích hoạt.(18) Đó là Lời ân phúc, có một năng lực tác động. Lời này không chỉ là một lời chân thực và chỉ cho chúng ta đường hướng đúng đắn. Lời này là một “dấu chỉ hữu hiệu” đem lại sự cứu độ vốn là đích nhắm của nó. Lời này định hình các cá nhân và định hình Giáo Hội.
Khi Đức Giêsu nói “chính Thần Khí mới làm cho sống,” Ngài cũng liền nói về những lời của Ngài: “Những lời Thầy nói với anh em là Thần Khí và là sự sống” (Ga 6,63). Vài câu sau đó, Phêrô thưa: “Lạy Thầy, chúng con sẽ đến với ai? Chính Thầy mới có những lời ban sự sống đời đời.”
Thánh Phaolô nói: “Tôi không xấu hổ vì Tin Mừng. Đó là quyền năng cứu độ của Thiên Chúa cho mọi người tin.” (Rm 1,16)
Sự tuôn chảy của Lời ân phúc và sống hoạt này là cái mà chúng ta, những người giảng thuyết, phải cố gắng nhận ra.
2. Giúp Soi Sáng Cho Cộng Đoàn
Sau khi đã cố gắng nhận ra điều Thiên Chúa nói với chúng ta xuyên qua khung cảnh cụ thể này, công việc thứ hai của người giảng thuyết là giúp soi sáng để cộng đoàn cũng nhận ra điều đó.(19)
Là người giảng thuyết, chúng ta cần nhớ rằng rất nhiều điều đã xảy ra trước bài giảng lễ. Các bài thánh ca, các biểu tượng, các lời nguyện, và Lời Chúa đã tuôn chảy trên tất cả cộng đoàn. Công việc của chúng ta là giúp cho dòng chảy vốn đang diễn ra ấy. Chúng ta không đang làm cho nó xảy ra; đúng hơn chúng ta phụ giúp tiến trình của nó.
Như mưa tuyết từ trời rơi xuống
và không quay trở lại
cho tới khi đã thấm đẫm vào đất,
làm cho đất phì nhiêu và sản sinh hoa quả…
Lời của Ta cũng thế;
sau khi rời khỏi miệng Ta,
Lời sẽ không trở lại mà không sinh hoa kết quả,
nhưng sẽ thi hành ý muốn của Ta,
sẽ đạt được điều mà Ta nhắm đến. (Is 55,10-11)
Chúng ta trao những ân huệ không phải của chính chúng ta, những ân huệ này có sức tác động lớn lao hơn khiếu hùng biện của ta rất nhiều.(20)
3. Làm Tất Cả Những Việc Này Nhân Danh Giáo Hội
Khi giảng lễ, chúng ta hành động nhân danh Giáo Hội. Chúng ta không phải là những người nhận được các mạc khải tư, cũng không phải do tự ý mình mà chúng ta làm phát ngôn viên của Thiên Chúa.
Chúng ta tham dự vào trong ân huệ Thánh Thần được trao ban cho Giáo Hội. Chúng ta đang chia sẻ không chỉ đức tin của chúng ta, nhưng là đức tin của toàn thể Giáo Hội. Vì thế, giảng một bài giảng thì khác với trao một chứng từ cá nhân. Có những nơi và lúc khác cho việc đó, nhưng một bài giảng thì phải có kích thước rộng hơn một chứng từ cá nhân.
Người giảng thuyết phải gắn bó với đức tin của toàn Giáo Hội khi nhận định đâu là điều Chúa đang nói trong khung cảnh thực tế này. Chúng ta phải trình bày điều ấy bằng một cách thức của riêng mình (nghiã là từ tâm hồn mình), nhưng không phải bằng một cách thế nắn ép sứ điệp của Thiên Chúa đến chỉ còn là kinh nghiệm riêng của chúng ta.(21)
Một Vài Hệ Quả
Nếu tác vụ Lời Chúa thực sự được làm theo cách mà chúng ta mô tả trên kia, thì có một số hệ quả cần ghi nhận.
+ Quá trình chuẩn bị có thể rất thú vị
Ta sẽ có một cảm thức tự do. Đó không còn là một công tác hàng tuần trong đó ta phải hoàn toàn tự mình làm một bài “diễn thuyết.” Đúng hơn, chúng ta tham dự vào và phụ giúp một điều gì đó rất tốt đang diễn ra. Các bản văn Thánh Kinh được công bố đang tuôn chảy, và chúng ta đang cố gắng giúp khai thông dòng chảy này. Việc nhận định điều gì đang tuôn chảy sẽ đòi sự nghiên cứu, cầu nguyện, diễn dịch; việc trình bày nó sẽ đòi một khả năng sáng tạo mức nào đó. Nhưng không có gì nhiều phụ thuộc vào tôi.
+ Chúng ta không bao giờ phải lo lắng về sự cạn kiệt
Những câu chuyện và những kho tư liệu của riêng chúng ta thì giống như trữ lượng dầu với khối lượng nhất định, nhưng Thánh Kinh là mạch nước hằng sống không bao giờ khô cạn, và đời sống của cộng đoàn thì không bao giờ tĩnh tại. Khi Lời hằng sống chảy vào đời sống thì những kho tàng vô tận sẽ không ngừng mở ra.
+ Chúng ta không phải cố tìm ra một đề tài mới cho mỗi Chủ Nhật
Chúng ta có thể cảm thấy thoải mái để giảng cùng một ý tưởng nòng cốt trong vài ba tuần liên tiếp; chẳng hạn, trong Mùa Phục Sinh, sự nhấn mạnh dành cho Chúa Thánh Thần, một chủ đề thường ít được lưu tâm đúng mức trong các bài giảng của chúng ta. (Chúng ta có xu hướng nhấn mạnh sứ vụ tại thế của Chúa Giêsu.) Nếu chúng ta đã giảng về Chúa Thánh Thần vào Chủ Nhật trước, thì Chủ Nhật này chúng ta thường nghĩ: “Chúa Thánh Thần ư? Mình đã giảng tuần trước rồi. Tuần này phải giảng về một chủ đề khác vậy.” Như vậy không đúng đâu. Tôi có thể nói về cùng một chủ đề và thậm chí lặp đi lặp lại cùng một chân lý căn bản, nhưng mỗi lần vẫn bằng một cách mới mẻ. Các bài giảng của các Chủ Nhật liên tiếp không phải là những bài nói chuyện tách rời nhau; chúng là những sự soi rọi từ các bản văn Thánh Kinh sống động diễn ra mỗi Chủ Nhật.
+ Những bài giảng tuyệt vời nằm trong khả năng của những người giảng thuyết vốn không phải là những diễn giả trứ danh
Sự chú ý ít được đặt trên người giảng, mà đặt trên Lời Chúa nhiều hơn. Tình yêu và sự tôn kính của chúng ta đối với Lời Chúa sẽ được người ta nhận thấy và sẽ phát huy hiệu quả. Tiêu điểm sẽ đặt trên sự soi sáng mà Thiên Chúa ban cho hơn là trên bài giảng hay người giảng. Điều quan trọng không phải là chuyện dân chúng có ấn tượng với bài giảng hay người giảng. Dân chúng có ấn tượng hay không với điều Chúa đang nói với họ, đấy mới là điều quan trọng hơn. Một bài giảng tốt sẽ đòi phải có những kỹ năng diễn thuyết căn bản, nhưng đây không phải là điều quá khó với nhiều người. Chúng ta không cần phải là những người có biệt tài kể chuyện hay những nhà hùng biện lỗi lạc.
+ Các bài giảng của chúng ta phải có thể được mở rộng
Khi chúng ta dùng bản văn Thánh Kinh như một ‘cái cớ’ cho điều gì đó chúng ta muốn nói, hay cho điều gì đó đánh động chúng ta trong cầu nguyện, thì mỗi người giảng thuyết – tuỳ vào tính khí, sở thích của mình – có khuynh hướng thiên về những đề tài mà mình tự nhiên thích: các mối tương quan liên vị, vấn đề công bằng xã hội, các giáo huấn giáo thuyết.
Đàng khác, nếu chúng ta khiêm tốn đứng trước bản văn và lắng nghe những gì Thiên Chúa nói với chúng ta xuyên qua khung cảnh này, chúng ta sẽ ít chọn những bài giảng mà sự giống nhau của chúng trong chủ đề là do xu hướng riêng của mình. Có những lúc, Chúa sẽ dẫn chúng ta đi đến những nơi mà chúng ta không muốn đi. (cf. Ga 21,19)
+ Chúng ta sẽ giảng trực tiếp hơn về Thiên Chúa, vềChúa Kitô, về Chúa Thánh Thần
Tôi thấy người ta thường nghĩ rằng trong các bài giảng, chúng ta tập chú tới Giáo Hội hơn là tập chú vào Chúa Giêsu Kitô và vào giáo huấn của Ngài. Chẳng hạn, hãy nhớ lại rằng rất thường người ta đặt câu hỏi kiểu như “Giáo Hội dạy về điều này điều nọ thế nào?” Ít khi người ta nói “Chúa dạy gì về điều này điều nọ?”(22)
+ Chúng ta sẽ giảng các chân lý căn bản của đức tinchúng ta
Thánh Kinh sẽ là người hướng dẫn của chúng ta (chứ không phải là một bàn đạp cho các ý tưởng riêng của mình). Thánh Kinh sẽ đưa ta vào những chiều sâu của các chân lý mạc khải, và tới những đáy sâu của đời sống con người. Nếu cứ để mặc ta chọn đề tài bài giảng theo ý riêng mình, thì một số chân lý nền tảng sẽ bị phớt lờ, hoặc bởi vì chúng quá rõ ràng hoặc bởi vì chúng quá khó.
Tôi tin rằng điều nói trên vẫn diễn ra đó đây và lúc này lúc khác. Chúng ta không giảng các chân lý nền tảng như về Thiên Chúa, Chúa Thánh Thần, ơn cứu chuộc, ơn sủng. Cách đây không lâu, tôi yêu cầu một nhóm học sinh tiểu học kể cho tôi nghe về Đức Giêsu. Các cô cậu ấy kể về sự kiện Giáng Sinh, về các phép lạ của Đức Giêsu, và về việc Ngài giúp đỡ người ta. Khi tôi thúc giục các em trả lời phải chăng Đức Giêsu là Thiên Chúa, tôi hết sức ngạc nhiên khi thấy đa số các em lắc đầu và nói “Không!” Phản ứng đầu tiên của chúng ta về chuyện này có lẽ là phiền trách các chương trình giáo lý. Nhưng còn việc giảng lễ của chúng ta thì không đáng bị phiền trách sao?
Một trong những vấn đề của Giáo Hội ngày nay, đó là chúng ta quá bận rộn tranh cãi về chuyện cho các em gái làm lễ sinh, chuyện sử dụng thứ ngôn ngữ bao hàm (bình đẳng giới), chuyện ai được gọi là một thừa tác viên mục vụ… trong khi đó chúng ta lại quên lãng các chân lý cốt yếu mà tất cả chúng ta đều nhất trí. (Đây là một lỗi mà các nhà giảng thuyết thuộc khuynh hướng quá khích – ‘fundamentalists’ – đã không mắc phải.)
+ Những bài giảng như thế thường sẽ đem lại hiệu quả về lâu về dài
Nói chung, những bài giảng loại này sẽ không gây ‘giật gân,’ khiến người ta phải trầm trồ. Chúng sẽ không nghe có vẻ thật độc đáo hay thật lưu loát. Hiệu quả của chúng sẽ đến từ từ, nhưng rất nền tảng, và nó đến từ việc không ngừng cởi mở đón nhận Lời Thiên Chúa - cũng khá giống với việc chuyên cần cầu nguyện bằng Thánh Kinh trong lectio divina. Và hiệu quả ấy sẽ rất mạnh mẽ, vì Lời Thiên Chúa đầy sức mạnh. Người ta sẽ bắt đầu lắng nghe các bài đọc một cách ân cần hơn. Người ta sẽ bớt bị cuốn vào bài giảng, thay vào đó họ bị cuốn nhiều hơn vào những tia sáng chiếu soi sâu xa trong linh hồn họ. Sự trân trọng của họ (đối với bài giảng) sẽ thường bộc lộ cách nhẹ nhàng nhưng bền lâu chứ không theo kiểu cuồng nhiệt nhất thời.
Hiệu quả của việc ăn uống đúng bài bản sẽ không được thấy rõ cách ấn tượng ngay sau ngày hay tuần lễ đầu tiên. Chỉ về lâu về dài ta mới cảm nhận được hiệu quả của chế độ ăn uống ấy. Điều tương tự cũng đúng với các bài giảng.
Một Ý Tưởng Cuối Cùng
Không phải khả năng của người giảng thuyết mà chính năng lực của Lời Thiên Chúa mới đem lại sức sống cho Giáo Hội và cho mỗi người tin. Kỹ năng của người giảng thuyết có dự phần, nhưng đó là một kỹ năng được sử dụng để trao Lời Chúa, chứ không phải để trao các ý tưởng của riêng mình.
Các vị hướng dẫn mục vụ mong muốn tác động và thay đổi cộng đoàn sẽ không cố gắng đạt điều đó bằng chính khả năng thuyết phục hay tài khéo của mình, cũng không bằng các chương trình, các qui chế, hay khả năng tổ chức, nhưng là qua việc thi hành cách đích thực tác vụ Lời hằng sống của Thiên Chúa – cho phép “bí tích” này dọi ánh sáng trên cộng đoàn và khơi trào sức sống.
Hãy tưởng tượng điều gì sẽ xảy ra nếu trong các nhà thờ trên khắp thế giới, năng lực tác động của Lời Thiên Chúa được buông lỏng để hành động với hết công suất.
Tại hội đường Capharnaum, Đức Giêsu đương đầu với một thần ô uế đang kêu la, và Ngài ra lệnh cho nó phải rời người kia. Nó rời đi. Dân chúng “hết thảy đều kinh ngạc và nói với nhau: ‘Lời ấy là thế nào?’”
Lời của Đức Giêsu là thế nào? Là tất cả. Đó là một Lời ân phúc có sức hoàn thành vượt trên mọi cố gắng riêng của chúng ta.
CHƯƠNG III: KHÔNG PHẢI LÀ BÀI GIẢNG
“Ông ấy giảng có duyên, thậm chí lôi cuốn,
nhưng mọi sự không đến từ ông ấy.
Tất cả đều là cắt và dán.”(23)
Một cách để nắm những gì chúng ta đã đề cập trên kia là đối chiếu nó với những phương pháp khác. Ở đây sẽ biếm hoạ 5 loại bài giảng dùng cách tiếp cận khác với việc “đi vào Lời hằng sống trong Thánh Kinh để nhận định điều Thiên Chúa đang nói với chúng ta ở đây và lúc này.”
1. Những bài giảng cũ được ‘hâm nóng’ lại trong lò vi ba
Tất cả chúng ta đều làm chuyện này. Chúng ta lấy một bài giảng cũ và không làm gì khác ngoài việc hâm nóng nó lại cho lần này.
Ở đây không có ý nói rằng ta không thể dùng bất cứ gì mình đã dùng trước đây, nhưng có một sự khác biệt giữa việc vận dụng những tia sáng trước đây và việc đơn thuần lặp lại một ‘show’ cũ.
Những lời hô hào ‘truyền giáo’ là một ví dụ. Không phải tất cả, song một số nhà giảng thuyết về ‘truyền giáo’ vẫn thường dùng cùng một số bài giảng trong nhiều tháng (ngay cả nhiều năm), và nối kết một cách nhân tạo với các bài đọc của ngày Chủ Nhật.(24) Sự lặp lại như vậy không phải là những bài giảng đúng nghĩa, nếu nhìn nhận rằng giảng là thi hành tác vụ Lời hằng sống của Thiên Chúa, Lời vốn luôn mới mẻ không chỉ cho dân chúng mà cả cho người giảng thuyết nữa.
2. Những câu chuyện bị ép vào bài giảng
Một số bài giảng không phải là bổn cũ soạn lại, nhưng chúng ví như món ăn được nấu không phải tại chính bếp này. Chúng đến từ nơi nào đó khác và được nối kết cách gượng ép với các bài đọc Thánh Kinh. Đó có thể là một chuyện phim hay mà chúng ta mới xem và có ý định dùng làm cốt cho bài giảng tuần này, ngay cả dù chúng ta chưa hề đọc qua các bản văn Thánh Kinh. Hay đó có thể là một bài nói chuyện được chọn trước mà không cần xem xét nội dung cụ thể của Lời Chúa.(25)
Dù kiểu gì đi nữa, những bài giảng như thế không đến từ “nhà bếp” này, nghĩa là, chúng không đến từ món ăn mà chính Chúa nấu trong các bài đọc Thánh Kinh này và trong khung cảnh cụ thể này. (26)
3. Những bài giảng chỉ bám hờ vào - chứ không thực sự tuôn chảy từ - các bài đọc Thánh Kinh
Có nhiều cách để các bài giảng chỉ bám hờ vào các bài đọc Thánh Kinh.
Chẳng hạn, điều này có thể xảy ra khi chúng ta cầu nguyện với bản văn Thánh Kinh của Chủ Nhật sắp tới. Việc cầu nguyện với Thánh Kinh cho phép người ta có nhiều tự do hơn để sử dụng một bản văn, nghĩa là có thể vượt xa khỏi ý nghĩa khách quan của bản văn ấy. Chúng ta đọc với tất cả tự do, chúng ta cho phép Chúa Thánh Thần hướng dẫn mình tới những ý tưởng được cảm hứng từ bản văn nhưng không nhất thiết nằm trong bản văn. Một từ hay một cụm từ nào đó ‘tóm’ lấy sự chú ý của chúng ta và làm nảy ra những ý tưởng kéo chúng ta đi theo một mạch cầu nguyện nào đó. Đây là một cách tốt để cầu nguyện, nhưng chúng ta cần nhớ sự khác biệt giữa việc cầu nguyện này và công việc của một người giảng thuyết là nhận định điều Thiên Chúa đang nói với tất cả cộng đoàn xuyên qua các bài đọc Thánh Kinh này.
Một cách khác để bài giảng bám hờ vào một bản văn Thánh Kinh, đó là khi chúng ta nhìn lướt qua các bài đọc (không nhất thiết là cầu nguyện bằng các bài đọc ấy) và bỗng chú ý cách riêng một điều gì đó có thể trao cho mình một ý chính để làm một bài giảng. Chẳng hạn, bài Tin Mừng có đoạn văn này:
Đức Giêsu bảo họ: “Hãy đến và xem.” Vậy họ đến và xem nơi Ngài ở… và họ ở lại với Ngài ngày hôm ấy. Lúc đó vào khoảng bốn giờ chiều. (Ga 1,38-39)
Chúng ta bỗng bị thu hút bởi chi tiết “bốn giờ chiều” này, và quyết định nói về cách người ta sử dụng thời gian trong thế giới bận rộn hôm nay. Mặc dầu sự đề cập về thời gian quả thực có trong bản văn này, ta vẫn không có cơ sở để nói rằng đó là chủ điểm của bản văn.(27)
4. Những bài giảng xây dựng trên một ý nghĩa được gán cho bản văn Thánh Kinh
Ý nghĩa “được gán” là một ý nghĩa được ta trao cho bản văn chứ không phải ý nghĩa hàm chứa trong bản văn một cách khách quan. Xét nhiều khía cạnh thì trường hợp này có liên hệ rất gần với trường hợp ở số 3 trên kia.
Chúng ta đọc trong Mác-cô: “Khi Đức Giêsu đi dọc biển hồ Galilê, Ngài trông thấy Simon và anh của ông là Anrê đang quăng lưới xuống biển” (Mc 1,16). Người ta có thể chợt nghĩ rằng từ “quăng” ở đây gợi liên tưởng đến việc quăng chính mình cho Chúa – thế là quyết định giảng một bài về thái độ tín thác và lòng trông cậy vào Chúa!
Trong khi loại “ý nghĩa được gán” ấy có thể có chỗ trong suy tư, suy niệm, thì người giảng thuyết không thể coi nó như điều Thiên Chúa đang muốn nói với toàn thể cộng đoàn. Trong một bài báo viết về ý nghĩa “được gán,” Raymond Brown liên hệ đến việc giảng thuyết như sau:
Các nhà giảng thuyết có thể gán ghép ý nghĩa một cách dễ dàng và muốn vận dụng sự gán ghép ấy thay vì cố gắng rút ra một sứ điệp thích hợp từ ý nghĩa của bản văn Thánh Kinh. Và như vậy là họ đang liều lĩnh thay thế lời của Thiên Chúa bằng sự khôn khéo của mình… Nhưng nói chung, một khi chúng ta đã nhận ra sự phong phú vô cùng của ý nghĩa bản văn Thánh Kinh, chúng ta sẽ tìm cách trung thành trình bày ý nghĩa ấy chứ không tìm cách gán ghép theo ý ta.(28)
5. Bài giảng lễ khác với một bài dạy ở lớp
Mọi bài giảng tốt đều có chức năng ‘dạy học’ trong đó, theo nghĩa rằng người ta có thể học được điều gì đó. Tuy nhiên, ở đây, chúng ta đang nói về các bài giảng lễ mà mục đích chính của chúng là chuyển đạt thôngtin về Thánh Kinh, về giáo thuyết hay về các thực hành của Giáo Hội.(29) Các bài đọc được chỉ định sẵn cung cấp những cơ hội tuyệt vời để lên lớp, và nếu chúng ta có ‘máu’ của một ông thầy, chúng ta thường muốn lợi dụng cơ hội để dạy người ta.
Chẳng hạn, vào Chủ Nhật 29 năm C, Bài Đọc II có câu “Tất cả sách thánh đều được linh hứng bởi Thiên Chúa” (2Tm 3,16). Câu này, nền tảng Thánh Kinh của giáo lý về linh hứng, có thể dễ dàng dẫn tới một bài nói chuyện giải thích về thế nào là linh hứng và thế nào là không phải linh hứng.
Tuy nhiên, nếu giảng lễ là thi hành tác vụ giúp cho điều Thiên Chúa đang nói chảy vào cộng đoàn ở đây và lúc này, thì chúng ta phải chống lại cái cám dỗ sử dụng bài giảng để dạy về Thánh Kinh, hay về giáo lý. Dù chúng ta có ‘dạy’ hay đến mấy đi nữa, thì cũng không thể đem lại hiệu quả bằng việc cho phép Lời ân phúc của Thiên Chúa hiện diện và tác động thực sự trên cộng đoàn.(30)
——————————————-
Cần ghi nhận rằng các kiểu giảng lễ nói trên không phải luôn luôn đưa tới một sứ điệp “dở” - sứ điệp, xét tự thân nó, có thể rất tuyệt vời. Vấn đề là những bài giảng như thế không rút năng lực từ Lời ân phúc của Thiên Chúa đang diễn ra bây giờ, Lời thật mới mẻ và dành cho mọi người. Những bài giảng như thế trở thành lời của chính chúng ta được nối kết với một phần của bản văn, chứ không phải là Lời của Thiên Chúa được lắng nghe từ toàn bộ khung cảnh thực tại.
CHƯƠNG IV: PHẦN MỞ ĐẦU BÀI GIẢNG
“Hãy bảo họ đi thẳng vào trọng tâm.” (31)
Điều đầu tiên phải nói về phần mở đầu (nếu hiểu phần mở đầu là mấy câu nói chuyên biệt dùng để bắt đầu), đó là các bài giảng lễ không cần phần mở đầu chi cả. Một số bài nói chuyện sẽ cần, nhưng các bài giảng lễ thì không cần. Hãy nhớ rằng cơ cấu phụng vụ Thánh Lễ vốn đã có một phần mở đầu rồi (nghi thức tập trung).
Trong các khoá học nói trước công chúng, người ta vẫn thường đề nghị việc lôi kéo sự chú ý, chẳng hạn kể một giai thoại nào đó…
Trong một bài giảng, lôi kéo sự chú ý là việc ít cần nhất. Mọi sự xảy ra trước bài giảng vốn đã lôi kéo sự chú ý rồi: người ta đứng lên, hát Allêluia, lắng nghe bài Tin Mừng, rồi người ta ngồi xuống, chờ nghe những tiếng đầu tiên của bài giảng. Như vậy, điều cần làm không phải là lôi kéo sự chú ý của người ta, mà đúng hơn là giữ cho được sự chú ý đang có sẵn.
Cách tốt nhất để giữ sự chú ý của người nghe là “đi thẳng vào trọng tâm.” Chúng ta thường chần chừ không đi thẳng vào trọng tâm, có lẽ bởi vì sợ rằng mình sẽ không còn gì để nói tiếp. Chúng ta cảm thấy mình nên đi vào trọng tâm cách nhẩn nha, từ từ. Nhưng nhiều người cho biết rằng họ muốn chúng ta đi nhanh hơn vào cốt lõi của bài giảng. Đây là một số ý kiến của họ:
• “Tôi thích cái cách vị linh mục ấy đi thẳng vào điểm chính của bài giảng.”
• “Tôi chán những kiểu nhập đề dông dài.”
• “Hãy vào thẳng.”(32)
• “Đừng dẫn chúng tôi đi lòng vòng.”
• “Cha sở thường mở đầu bằng một câu chuyện dài dòng, với những chi tiết không cần thiết.”
• “Ngài thường bắt đầu rất hay, dù ít khi có nối kết chặt chẽ với bài Phúc Âm. Rồi sau đó thì nghe chán phè.”
• “Ông cha đó luôn bắt đầu bài giảng bằng cách kể lại câu chuyện mà mọi người vừa mới nghe trong bài Tin Mừng. Thật là chán!”
Điều Chúng Tôi Đã Rút Tỉa Được
Trong các buổi làm việc về bài giảng của chúng tôi, chúng tôi ghi nhận 3 vấn đề liên quan tới cách bắt đầu bài giảng:
1. Quá luộm thuộm
Nhiều khi mấy câu đầu tiên của chúng ta yếu xìu, mềm nhũn, và đầy những yếu tố rườm rà không cần thiết. Người ta đang chăm chú chờ nghe những tiếng đầu tiên của bài giảng, thế mà chúng ta lại vật vờ…
Một số bài giảng giống như các ‘thủ tục’ cất cánh của một máy bay: chạy một hồi lâu trên đường băng, dần dần tăng tốc, rồi cuối cùng mới lao lên khỏi mặt đất. Hình ảnh cất cánh này nên áp dụng không phải cho bài giảng, mà cho nghi thức tập trung lúc đầu lễ: người ta lần lượt đến, dần dần qui tụ với nhau, rồi nâng hồn lên với Chúa trong bài hát nhập lễ.(33)
2. Quá dài
Tán chuyện lúc bắt đầu là điều dễ; và chúng ta thường làm thế. Nếu đó là một câu chuyện, chúng ta thường đắm chìm trong các chi tiết. Việc bắt đầu một cách dông dài sẽ làm mờ nhạt cái cốt yếu của sứ điệp và phung phí sự chú ý của người nghe vào lúc mà họ tập trung cao độ nhất. Điều quan trọng không phải là chiều dài của bài giảng, mà là sự sắc bén của nó.
3. Phần bắt đầu tách rời hẳn khỏi bài giảng
Nhiều khi phần bắt đầu được nối kết với phần còn lại của bài giảng một cách gượng ép; nó chẳng soi sáng gì cho ý tưởng chính của chúng ta. Nó không cần phần còn lại của bài giảng, và phần còn lại của bài giảng cũng chẳng cần đến nó. Cần xét xem cách ta bắt đầu có thực sự gắn khớp với bài giảng hay không. Nếu không, hẳn là nên loại bỏ nó.
Một Số Ví Dụ
Đây là một số trích dẫn từ phần bắt đầu của một số bài giảng thực:
Như anh chị em biết, cuối tuần rồi tôi vắng nhà. Tôi đã dành ít ngày viếng thăm mấy người bạn tốt của tôi ở Chicago. Có người gợi ý với tôi về chuyện chơi đánh gôn. À, thực ra chuyện này không có chi đáng nói; tôi sẽ cho thấy tại sao tôi lại nhắc đến ở đây. Không phải tôi muốn khoe khoang về điều gì đâu. Nhưng tôi thấy rằng một trong những điều chúng tôi đã làm chắc chắn phản ảnh bài Phúc Aâm mà chúng ta nghe tuần này, và tôi hy vọng có thể chuyển đạt cái ấn tượng đó cho anh chị em. Số là, vào tối Chủ Nhật, ba anh em chúng tôi lái xe tới …
Bản văn đã được biên tập:
Vào tối Chủ Nhật, ba anh em chúng tôi lái xe tới. ..
Ví dụ khác:
Chủ Nhật vừa rồi, và gần trọn hai ngày Thứ Hai và Thứ Ba, tôi đi lên miền bắc với vài người bạn mà tôi đã quen biết từ nhiều năm; và mặc dù băng đóng không dày, vẫn có những người đi câu cá dưới băng. Thật thú vị. Tôi bước ra ngoài cửa, lúc bấy giờ là chiều tối, tôi gặp thấy vài người đàn ông và mấy đứa trẻ đi câu về. Tôi lên tiếng: “Chào các bạn. Câu được nhiều cá không?” Họ trả lời: “Không khá lắm. Chúng tôi chỉ bắt được vài con cá nhỏ.” Cách đây ít tuần, một số người ở miệt dưới – gồm hai cha con và một người đàn ông khác nữa, tôi không nhớ rõ là còn ai khác nữa không – đã đi câu cá suốt cả tuần, và hầu như đã chẳng bắt được gì ngoại trừ vài con cá nhỏ xíu. Những người đánh cá trong bài Phúc Âm hôm nay cũng vậy…
Bản văn đã được biên tập:
Vừa rồi tôi lên miền bắc, và người ta ở đó đang đi câu cá dưới băng. Chiều tối hôm ấy, mấy người câu cá đang trở về nhà, ngang qua chỗ tôi, tôi hỏi họ: “Câu được nhiều không?” Họ đáp: “Tệ lắm. Chỉ vài con cá nhỏ.” Những người đánh cá trong bài Phúc Âm hôm nay cũng vậy…
Ví dụ khác:
Tất cả chúng ta đều biết rằng thay đổi là điều rất khó. Và tôi nhận ra rằng càng cao tuổi thì dường như càng khó thay đổi hơn, nhưng đó là sự thực. Tôi nghĩ rằng ai cũng có khuynh hướng nhận thấy rằng sự thay đổi – ít nhất là nhiều loại thay đổi – thật là khó. Thế mà, thật là lạ bởi vì trong quãng đời của mình, trong thời đại này, chúng ta đã phải trải qua nhiều thay đổi hơn toàn thể nhân loại đã từng trải qua trong cả lịch sử. Vì thế thay đổi là một điều thường hằng đối với chúng ta, dù nó có thể khó khăn. Các bài đọc hôm nay nói với chúng ta rằng sự thay đổi…
Bản văn đã được biên tập:
Thay đổi là điều khó. Càng cao tuổi, dường như tôi càng khó thay đổi hơn. Thế nhưng thật lạ là trong đời mình chúng ta đã trải qua nhiều thay đổi hơn bất cứ ai đã từng trải qua trong lịch sử. Các bài đọc hôm nay nói với chúng ta rằng sự thay đổi…
Ví dụ khác:
Thật vui được trở lại với anh chị em hôm nay. Cha Bill đã quảng đại cho phép các phó tế chúng tôi nghỉ tháng bảy này, vì thế tôi được gặp lại anh chị em ở đây. Mà này, vào Thánh Lễ 5 giờ chiều hôm qua, tôi bất chợt nhận ra Cha Bob, người cao nghều, và tôi chắc chắn biết Mutt và Jeff thích cái gì trên đời này, cả Cha Bill nữa. Thật vui có mặt lại với anh chị em mặt đối mặt hôm nay. Và mặc dù chúng tôi đã hứa với Cha Bob rằng chúng tôi sẽ giúp ngài trong bất cứ việc gì chúng tôi có thể giúp… nhưng chính anh chị em sẽ giúp ngài cải thiện khả năng đánh gôn của ngài đấy nhé.
Trong các bài đọc hôm nay chúng ta nghe về tính đại đồng của tình yêu, lòng thương xót, và sự săn sóc của Thiên Chúa đối với mọi người. Điều này nhắc tôi nhớ lại hai tuần lễ diễn ra Olympic cách đây ít tuần: Thật tuyệt vời biết bao tính đại đồng của tinh thần thượng võ…
Bản văn đã được biên tập:
Tôi nhớ những cuộc thi đấu Olympic cách đây ít tuần, thật tuyệt vời biết bao tính đại đồng của tinh thần thượng võ…
Mấy Điều Cần Nhớ
1. Khi soạn một bài giảng, đừng bắt đầu với phần mở đầu
Phần gay go nhất của việc soạn một bài giảng chính là việc viết những chữ đầu tiên. Đừng phí thời gian để cố viết phần mở đầu. Làm thế chẳng khác chi một tác giả bắt đầu viết một quyển sách bằng phần Lời Tựa.
Tốt hơn hãy bắt đầu ở giữa bài giảng, bằng cách phác hoạ ý tưởng chính. Bạn sẽ nói gì ở đầu bài giảng, điều này sẽ từ từ tính sau; nhưng đừng quên rằng… phúc cho nhà giảng thuyết nào đi thẳng vào chủ đề ngay từ đầu bài giảng.
2. Đừng dùng những lối bắt đầu trịnh trọng
Ở đây tôi muốn nói đến dấu Thánh Giá, hay kiểu mở đầu như “Anh chị em thân mến trong Chúa Kitô,” hay “Trọng kính Đức Hồng Y, Đức Tổng Giám Mục, Đức Cha XYZ, quí Đức Ông, quí Cha,” vv.
Những kiểu mở đầu như thế cho thấy người giảng lễ không ý thức sự kiện rằng Thánh Lễ vốn đã có một nghi thức mở đầu rồi. Chúng cũng in đậm ấn tượng rằng bài giảng là một bài nói chuyện tách biệt chứ không phải là một phần của dòng chảy phụng vụ.(34)
3. Đừng làm cho phần bắt đầu hay hơn phần còn lại của bài giảng
Phát biểu như vậy là có pha trò. Điều tôi thực sự muốn nói là: “Bạn hãy làm cho phần còn lại của bài giảng cũng hay như phần mở đầu.” (Điều này trở nên rất khó nếu phần mở đầu thuộc loại chuyện giật gân lôi kéo chú ý và không thực sự có mối nối kết với phần còn lại của bài giảng. Khi chúng ta thực sự bước qua bài giảng, thì người nghe vẫn còn đang thưởng thức cái dư vị của phần mở đầu vốn không có mối liên lạc kia.)
Sẽ là tai hoạ cách riêng, nếu sau một sự bắt đầu có vẻ hấp dẫn, chúng ta nói: “Như chúng ta vừa nghe trong Bài Đọc I / bài Tin Mừng …” Người ta hiểu đây là tín hiệu cho biết bài giảng đã chuyển sang phần buồn chán của nó.(35)
4. Đừng bắt đầu bằng cách kể lại câu chuyện của bài Phúc Âm
Lặp lại câu chuyện của bài Phúc Âm là một điều được thấy khá phổ biến. Và việc này không hay ho gì, thậm chí gây chán nản. Cần dứt khoát tránh sự lặp lại này, không chỉ ở lúc bắt đầu mà ở bất cứ chỗ nào trong bài giảng. (Chúng ta sẽ nói kỹ hơn về chuyện này ở Chương 26, khi đề cập đến “Mười Con Quỉ.”)
5. Đừng bắt đầu bằng cách kể lòng vòng những gì xảy ra chung quanh việc bạn chuẩn bị bài giảng này
Lòng vòng như vậy là kiểu ‘cà lăm’ của những người quá bối rối hay quá vụng về khi nói trước công chúng. Hãy tưởng tượng Tom Brokaw (người dẫn chương trình thời sự truyền hình nổi tiếng) đi nghỉ hè, và một anh chàng không chuyên tạm thay chỗ của Tom. Anh chàng này bắt đầu bản tin bằng những lời như sau: “Thưa quí vị, khi tôi được đề nghị phụ trách giới thiệu bản tin thời sự tối hôm nay, ý nghĩ đầu tiên của tôi là nên chọn câu truyện gì để mở đầu. Rồi khi tôi bắt đầu xem qua các nội dung của chương trình, tôi bỗng nghĩ rằng mình nên bắt đầu bằng loại truyện ít được vận dụng nhất. Thế nhưng, rồi tôi lại suy nghĩ thêm và cuối cùng quyết định rằng cách tốt nhất để bắt đầu chương trình là…”
Thế đấy! Và điều tương tự cũng thường xảy ra với các bài giảng. Những người nghe giảng lẩm bẩm: “Chúng tôi đến đây không phải để tìm hiểu xem ngài cảm thấy thế nào khi ngài nhận được lời mời giảng, cũng không phải để tìm hiểu xem điều gì xảy ra khi ngài đang chuẩn bị bài giảng. Điều chúng tôi muốn nghe đó là chính bài giảng.”
—————————————–
Có thể tóm lại thế này: Bài giảng là một sự nối tiếp dòng chảy Lời ân phúc của Thiên Chúa. Sự bắt đầu bài giảng không được làm nghẽn dòng chảy này. Một câu chuyện tếu, một lời pha trò, những kể lể về cách tôi phản ứng khi được yêu cầu giảng, hay một công thức “kính thưa” trịnh trọng nhắc đến đủ mọi loại người đang có mặt – tất cả đều làm khựng dòng chảy đang diễn ra. Lời Chúa đang chảy, và cần được giữ để tiếp tục tuôn chảy.(36)
CHƯƠNG V: PHẦN KẾT BÀI GIẢNG
Kết thúc một bài giảng cũng giống như bước ra khỏi một chiếc ca-nô.
Trong đa số các bài giảng, phần kết là phần thường ít được chuẩn bị nhất, đến nỗi tôi thấy cần phải nhấn mạnh qui tắc này: “Đừng bắt đầu một bài giảng nếu bạn chưa biết mình sẽ nói gì trong hai câu cuối cùng.”
Chúng ta thường ảo tưởng rằng bài giảng sẽ tự nó kết thúc. Nói cho cùng, chúng ta biết các ý tưởng của mình sẽ chấm dứt ở chỗ nào, và chúng ta nghĩ rằng khi đến chỗ ấy thì mình chỉ cần làm một việc đơn giản là “chấm dứt,” thế thôi. Nhưng thực tế thì không đơn giản như vậy. Kết thúc một bài giảng là một công việc đầy cạm bẫy, giống như việc bước ra khỏi một chiếc ca nô vậy.
Một lớp học sẽ tự động chấm dứt khi hết giờ. Chúng ta chỉ cần gấp giáo trình lại và nói: “Thôi, hôm nay ta dừng ở đây nhé. Ngày mai sẽ tiếp.”
Nhưng chúng ta không thể kết thúc một bài giảng lễ kiểu đó, vì bài giảng là một phần của phụng vụ và nó thuộc một cơ cấu nghi lễ. Chúng ta phải kết thúc bài giảng một cách êm xuôi; khổ nỗi, nhiều khi loay hoay tìm cách kết thúc êm xuôi, ta lại kéo bài giảng đi lòng vòng!
Một kết thúc tồi tệ có thể làm hỏng cả một bài giảng hay. Điều này thật đáng trách, bởi vì nếu ta không khinh suất, thì điều tệ hại ấy đã không xảy ra.
Chắp Cánh Cho Phần Kết?
Mày mò xoay xở một phần kết thúc không được chuẩn bị trước thì cũng giống như đi vào trong một căn nhà ma mà không có đèn rọi. Những con ma ẩn núp ở đó sẽ sẵn sàng nhảy bổ ra: con ma nói lặp đi lặp lại, con ma nói lãng xẹt, con ma nói một ý mới…
Nói ‘cương’ ở phần kết thúc là điều đáng sợ nhất trong nhiều bài giảng. Như một giáo dân nhận xét: “Thật là khổ sở khi nhìn ông ấy loay hoay để chấm dứt.”(37)
Ý Kiến Phản Hồi Từ Dân Chúng
Ý kiến thu thập được về phần kết thúc thì nhiều hơn cả về phần mở đầu, và những ý kiến này tập trung vào cùng một số mối quan tâm:
• “Điều tôi thích nhất nơi cách giảng của cha sở là ngài kết thúc bài giảng rất gọn gàng chứ không vòng vo tam quốc.”
• “Nhiều khi chúng tôi biết ông ấy đã nói hết các ý rồi, nhưng điều đó không có nghĩa rằng ông ấy ngừng. Mọi người đã ngừng lắng nghe, nhưng ông ấy thì cứ tiếp tục đi lòng vòng.”
• “Ồ, tôi ước chi các bài giảng được kết thúc một cách gọn gàng.”
• “Tôi bực nhất với những kết thúc giả. Cha sở cứ nói ‘Tóm lại’ nhưng rồi ngài lại lấy hơi để nói tiếp những điều gì đó khác nữa.”
Mấy Điều Cần Nhớ
1. Viết ra phần kết của bài giảng không phải là việc quá khó
Viết phần kết không khó như khai triển ý tưởng chính (thế mà việc khai triển này chúng ta đã làm rồi). Chúng ta không phải bắt đầu từ một mớ lộn xộn và không phải sáng tạo ra một phần kết thúc như thể từ trên trời rơi xuống. Tất cả điều chúng ta phải làm là đúc kết một cách rõ ràng điều mình đã nói.
2. Phần kết có thể rất ngắn
Nói chung, càng ngắn càng tốt: Những kết thúc tốt nhất là những kết thúc gọn gàng và dứt khoát. Mới đây tôi có tham dự một Thánh Lễ dành cho một nhóm tu sĩ. Vị linh mục giảng thuyết đã có một ý tưởng chủ đạo và đã trình bày rất tốt. Rồi ngài ngừng lại, đưa hai tay về phía cộng đoàn, và nói: “Đó là chứng tá đời sống của các bạn, và chúng tôi rất biết ơn các bạn.”
Chỉ có một câu thôi. Và đó là một kết thúc tuyệt vời.
3. Đừng nói rằng bạn sắp kết thúc khi bạn không đang kết thúc
Hồi tôi 15 tuổi, tôi là người chỉ huy của một đội chèo thuyền gồm 8 tay chèo trên sông Detroit. (Người ta muốn một ai đó nhẹ cân, giống như một nài ngựa trong môn đua ngựa, vì thế đôi khi người chỉ huy trẻ tuổi hơn nhiều so với đội chèo.) Chúng tôi tập luyện bằng cách mỗi ngày chèo khoảng 4 hay 5 dặm. Lần nọ, chúng tôi đang chèo ngon trớn thì cần dừng lại để nghỉ giải lao; nhưng trước khi dừng tôi muốn cả đội dồn sức để chèo 10 sải mạnh nhất, như làm một cú nước rút. Tôi bắt đầu hét để ra hiệu lệnh: “Chèo thật đều, MỘT. Chèo thật đều, HAI…” Mọi người làm tốt đến nỗi tôi cao hứng quyết định kéo dài quá số 10: “Chèo thật đều, MƯỜI MỘT. Chèo thật đều, MƯỜI HAI…”
Bạn biết đó, một đội chèo không thể dừng trừ phi tất cả họ dừng cùng một lúc. Do chiếc thuyền đang lao đi rất nhanh, do tất cả họ đang nhịp nhàng bật ngửa người ra sau rồi đổ rạp người tới trước theo mỗi nhịp chèo, và do những mái chèo ấy rất dài, sẽ chắc chắn xảy ra tai nạn nếu tất cả họ không dừng cùng một lúc. Vì thế, họ phải tiếp tục chèo cho đến khi tôi cho mệnh lệnh dừng.
Mọi người đều rất mệt, như không còn hơi để nói. Nhưng họ cũng gắng vừa thở vừa nói với tôi: “Này, chú nhóc. Chú mày bảo sẽ làm 10 sải nước rút, và bọn này vắt hết sức để chèo 10 sải ấy, nhưng rồi chú mày lại cho chèo tiếp. Cứ thử lặp lại cái trò lừa này lần nữa đi, bọn này sẽ quăng chú mày xuống sông đấy.”
Tôi cố ghi nhớ điều này trong liên hệ với các bài giảng: Đừng bao giờ nói rằng (hay tỏ vẻ rằng) bạn sắp chấm dứt và rồi bạn không chấm dứt.
4. Bước vào phần kết, nếu bạn chợt có ý muốn ghi nhận thêm hay làm sáng tỏ thêm điều gì đó, hãy dứt khoát xua đuổi nó khỏi tâm trí bạn
Khi bạn đang ‘hạ cánh’, nếu có bất cứ ý tưởng nào nảy ra thêm, bạn đừng cố ‘móc’ nó vào. Người ta sẽ cảm nhận được điều gì đang diễn ra và họ sẽ khó chịu, họ sợ rằng ý tưởng này sẽ dẫn tới một ý khác, rồi một ý khác nữa… như một phản ứng hạt nhân.
Có lần để kết thúc bài giảng của mình về sự cần thiết phải sống triệt để Phép Rửa, tôi đã nói như sau:
Tất cả chúng ta cần có can đảm để thực thi cái quyết định mà mình đã đưa ra khi lãnh nhận Phép Rửa… hay cái quyết định mà ai đó đã đưa ra thay cho chúng ta.
Mệnh đề cuối cùng trên đây đã không được chuẩn bị trước – và nó mở ra một ý tưởng hoàn toàn mới. Tôi muốn làm sáng tỏ nó bằng một sự giải thích, chẳng hạn nói thêm rằng “Vâng, dĩ nhiên những ai trong chúng ta lãnh Phép Rửa khi còn bé thì chúng ta đã xác nhận cái quyết định ấy trong Bí Tích Thêm Sức của mình, và chúng ta cũng xác nhận như thế mỗi lần tiến lên rước lễ.” Nhưng rồi cuối cùng tôi đã tự kiềm chế, quyết định không sửa chữa một lỗi này bằng một lỗi khác; tôi cứ để bài giảng kết thúc như vậy, và ước giá chi mình đã không thêm cái ‘đuôi’ thừa như thế.
5. Một trong những cách tốt nhất để kết thúc là dùng một câu trích dẫn ngắn
Một câu trích ngắn có cái lợi là nó không cần nói thêm bất cứ gì nữa cả. Chính nó là câu kết thúc. Câu trích dẫn làm cho bài giảng kết thúc một cách gọn gàng và có duyên.(38)
6. Đừng kết thúc bằng cách áp đặt cho người ta một ứng dụng thực tiễn
Tôi rất bất ngờ khi nghe một người nhận xét như sau:
Các vị giảng thuyết sau khi đã trao cho chúng tôi món quà là một ý tưởng hay thì đừng gói món quà đó lại. Hãy để chúng tôi tự gói bằng giấy gói quà của mình – nghĩa là, hãy để chúng tôi áp dụng vào hoàn cảnh thực tế đời thường của mỗi chúng tôi.
Mục đích của bài giảng là trao cho người ta một cái gì đó, là cung cấp cho người ta chất liệu để suy tư, chứ không phải cung cấp một dự án để hành động. Một trong những điều tốt đẹp nhất mà chúng ta có thể làm là trao cho người ta một ý tưởng mở – như Đức Giêsu vẫn thường làm với các dụ ngôn của Ngài.(39)
7. Vì bài giảng là một phần của phụng vụ (chứ không phải một bài nói chuyện chen vào lúc phụng vụ tạm nghỉ giải lao!) nên nó phải dẫn vào phần phụng vụ tiếp theo sau nó
Nếu ta không nên bắt đầu bài giảng kiểu như một máy bay cất cánh, thì ta cũng không nên kết thúc bài giảng theo kiểu một máy bay hạ cánh. Phần ‘hạ cánh’ là lời “Chúc anh chị em ra về bình an” ở cuối Thánh Lễ. Còn bài giảng của chúng ta là một giai đoạn ở giữa ‘chuyến bay’; sau bài giảng, ‘chuyến bay’ vẫn còn tiếp tục.
Cha Jerry Broccolo luôn nhấn mạnh rằng một bài giảng phải dẫn vào lời kinh ca ngợi. Cha John Melloh dùng cách diễn tả khác, ngài nói rằng bài giảng phải luôn luôn để lại cho người ta “một tâm tình Thánh Thể,” nghĩa là đưa dẫn người ta một cách tự nhiên vào phần phụng vụ dâng lễ. Bài giảng của chúng ta rốt cục phải gợi cho người ta tâm tình tạ ơn Thiên Chúa. Ngay cả khi đó là một bài giảng nhấn vào việc hoán cải, nó cũng phải bao hàm tin mừng rằng Thiên Chúa ban cho ta ơn sủng giúp ta thay đổi.
————————————–
Phần kết thúc bài giảng là phần dễ vướng trục trặc nhất so với các phần khác. Vì thế bạn hãy luôn tâm niệm điều này: “Đừng bao giờ bắt đầu một bài giảng nếu bạn chưa biết mình sẽ nói gì trong hai câu cuối cùng.”
———————
(1) Bạn đọc có thể muốn tự mình thí nghiệm việc này. Rất dễ làm trong bất cứ khung cảnh thân mật nào. Chỉ cần hỏi “Nè, cậu thích nhất hay ghét nhất điều gì về bài giảng lễ?” Câu hỏi ấy có thể mở ra cả một cuộc chuyện…
(2) Các linh mục được lấy phiên theo thứ tự A,B,C… với một vài điều chỉnh để có được tính hỗn hợp trong các nhóm.
(3) Chúng tôi không nghe lại các băng ghi âm trong 2 tiếng đồng hồ này. Vì điều đó sẽ tốn nhiều thời gian. Chúng tôi đã có các ghi chú khi nghe các băng ấy trước đó, và chúng tôi cũng có sẵn các bản văn của mỗi bài giảng.
(4) Có người sẽ thắc mắc tại sao chúng tôi không dùng băng vidéo thay vì băng audio. Vidéo có một số lợi điểm, nhưng việc thực hiện, việc nhân bản và việc xem băng vidéo sẽ trở thành phức tạp. Chúng tôi không muốn điều tốt nhất trở thành địch thủ của điều tốt. Như Chesterton nói: “Nếu một việc gì đó đáng làm, thì nó đáng làm một cách không hoàn hảo.”
(5) Ở buổi gặp đầu tiên của mỗi nhóm, bài giảng của tôi luôn luôn là “nạn nhân” đầu tiên. Nhà biên tập và tôi hiểu ngầm với nhau rằng bài giảng của tôi sẽ được mổ xẻ cách “tàn bạo” nhất. Điều này thường giúp đánh tan mọi ức chế trong nhóm để có được bầu khí chân thành, thẳng thắn.
(6) Cũng nên nhớ rằng viên phi công kiểm tra này được bầu chọn vào vai trò của mình do chính các phi công đồng sự.
(7) Khi kết thúc buổi làm việc cuối cùng của mỗi nhóm, tôi yêu cầu mọi người cho ý kiến phản hồi về cả tiến trình. Việc này diễn ra rất tích cực và rất hữu ích. Nói chung mọi người đều đồng ý rằng sự thành công hệ tại ở 3 yếu tố chính: (1) công việc phải có tính bắt buộc; (2) các băng ghi âm phải ghi những bài giảng thực tại giảng đài; (3) người hướng dẫn nhóm phải là một người giảng thuyết thường xuyên và phải nộp băng ghi âm của mình để được mổ xẻ như mọi thành viên khác.
(8) Nhóm giảng thuyết của chúng tôi làm việc tốt nhất khi mọi người ăn nói thẳng thắn với nhau. Quyển sách này là một câu chuyện nói thẳng dành cho những người giảng thuyết có kinh nghiệm. Những người lọc lõi có thể tự quyết định mình nhắm đến mục tiêu gì. Nếu có lúc nào tôi có vẻ như đang đề ra những nguyên tắc tuyệt đối, thì xin nhớ rằng chúng chỉ được đề ra như vậy để khẳng định giá trị của chúng. Sứ vụ giảng thuyết là một nghệ thuật, và không có nhiều nguyên tắc tuyệt đối trong nghệ thuật.
(9) Fulfilled in Your Hearing (1982), do Uỷ Ban về Đời Sống và Chức Vụ Linh Mục của NCCB xuất bản, tr. 10-11. Xin xem thêm “The Interpretation of the Bible in the Church,” xuất bản 1993, do Uỷ Ban Giáo Hoàng về Thánh Kinh. “Các môn đệ đầu tiên của Đức Giêsu biết rằng họ không có khả năng hiểu ngay lập tức toàn bộ thực tại của những gì mà họ nhận lãnh trong tất cả các khía cạnh của nó. Khi họ kiên trì trong đời sống cộng đoàn, họ kinh nghiệm một sự sáng tỏ ngày càng hơn về mạc khải mà họ nhận lãnh. Họ nhận ra ở đây ảnh hưởng và tác động của “Thần Khí sự thật” mà Đức Kitô đã hứa cho họ, để dẫn dắt họ đến sự thật toàn vẹn (Ga 16,12-13). Cũng vậy, Giáo Hội hôm nay tiến về phía trước, dựa trên lời hứa của Đức Kitô: “Đấng Bàu Chữa, là Thánh Thần mà Cha Thầy sẽ gửi đến nhân danh Thầy, sẽ dạy anh em mọi điều và sẽ làm cho anh em nhớ lại những gì Thầy đã nói với anh em.” (Ga 14,26)
(10) Cf. Brown, The Gospel According to John, Anchor Bible, vol. 29 (New York: Doubleday, 1966, tr. 1141-2).
(11) Các văn kiện của Giáo Hội nêu rất rõ về điều này. “Bài giảng lễ, vì thế, phải được trân trọng như một phần của chính phụng vụ.” (Hiến Chế về Phụng Vụ, 52) Đây không phải là một thông tin mới đối với đa số các nhà giảng thuyết. Điều mới mẻ có lẽ là tất cả những hàm ý của nó.
(12) Huấn Thị Tổng Quát về Sách Lễ Rôma nói như sau về Kinh Nguyện Thánh Thể: “Vị linh mục… hiệp nhất (dân chúng) với chính ngài trong lời nguyện mà ngài nhân danh họ để dâng lên Chúa Cha nhờ Đức Giêsu Kitô.” (54)
(13) Ý thức về sự khác biệt này sẽ giúp ích rất nhiều cho việc cử hành cả Kinh Nguyện Thánh Thể lẫn bài giảng.
(14) Trong quyển sách “bestseller” của mình mang tựa đề Inner Simplicity, Elaine St. James nói về việc tạo lập một cung thánh cho riêng mình: “Đó có thể là phòng riêng của bạn, hay thậm chí là một góc phòng… Đây sẽ là nơi để bạn suy niệm, chiêm ngắm, thinh lặng một mình, suy tư, đọc, chữa lành mình, viết nhật ký… Hãy làm bất cứ gì bạn cần làm để biến chỗ ấy trở thành đặc biệt và thiêng thánh.” (New York: Hyperion, 1995, tr. 65-66). Chúng ta nên có một không gian như vậy - và bài giảng cũng sẽ được dọn ở đó.
(15) Định nghĩa một bài giảng có thể trở nên rất trừu tượng và phức tạp. Tôi thấy có thể hiểu nó cách cụ thể hơn bằng cách hỏi: “Đâu là vai trò của người giảng lễ?”
(16) Những ai phụ trách việc tuyển chọn và cử hành các bài hát trong phụng vụ cũng thuộc số những người cần cẩn trọng lưu tâm đến điều này. Các giáo dân tham gia vào việc chọn lựa thánh nhạc (chẳng hạn, cho lễ cưới, lễ tang) thường cần học hỏi những điều căn bản này trước khi đi sâu vào những vấn đề chuyên môn.
(17) Đặc tính “sống động” của Lời Chúa trong phụng vụ được dạy rõ ràng trong Hiến Chế Phụng Vụ của Vatican II và trong Huấn Thị Tổng Quát về Sách Lễ Rôma:
“Đức Kitô hiện diện trong Lời của Ngài, vì chính Ngài lên tiếng khi Thánh Kinh được đọc trong Giáo Hội.” (PV 7)
“Khi Thánh Kinh được đọc trong Giáo Hội, chính Thiên Chúa nói với dân Ngài, và Đức Kitô, hiện diện trong Lời của Ngài, đang công bố Tin Mừng…” (Huấn Thị…, 9)
“Trong các bài đọc… Thiên Chúa đang nói với dân Ngài, mở ra cho họ mầu nhiệm cứu độ, và nuôi dưỡng tinh thần họ; Đức Kitô hiện diện với các tín hữu qua Lời của Ngài.” (Ibid., 33)
(18) Trong phần nói về Bánh Hằng Sống của Tin Mừng Gioan (chương 6), tiêu điểm đặt rất rõ trên Lời, và đó là một lời sống động. Đức Giêsu nói về chính Ngài là bánh “hằng sống” đến từ trời. (Cf. Brown, The Gospel According to John, Anchor Bible, vol. 29 [New York: Doubleday, 1966, tr. 255-304].)
(19) Người ta có thể hỏi “Tại sao cần có một bài giảng nhỉ? Tại sao không duy chỉ công bố Lời Chúa rồi ngồi xuống?” Bởi vì chúng ta tin rằng việc tiếp nhận Lời Chúa là một việc có thể được hỗ trợ. Chúng ta tin rằng Thiên Chúa hành động qua những người khác, trong trường hợp này thì đó là qua người giảng thuyết. Thừa tác vụ của người giảng thuyết là một phần quan trọng của truyền thống phụng vụ chúng ta.
(20) Bài giảng lễ là một cái gì còn hơn việc ứng dụng mặt ngoài một bản văn cổ vào khung cảnh hiện tại: Nó là một tác vụ trung thành của Lời Chúa nổi lên với ý nghĩa mới “cho chúng ta và cho ơn cứu độ của chúng ta”. Uỷ Ban Thánh Kinh Giáo Hoàng trong văn kiện năm 1993 mang tựa đề Giải Thích Thánh Kinh trong Giáo Hội đã nói về việc hiện tại hoá (nghĩa là khám phá điều mà bản văn nói trong hiện tại này) và hội nhập văn hoá (nghĩa là đặt bản văn vào bên trong một cộng đoàn cụ thể với nền văn hoá của nó).
Về hiện tại hoá: “Thật vậy, Giáo Hội không coi Thánh Kinh duy chỉ như một sưu tập các tài liệu lịch sử đề cập đến các nguồn gốc của mình; Giáo Hội đón nhận Thánh Kinh như Lời Thiên Chúa nói với chính mình và nói với thế giới tại thời điểm hiện tại này.” (số IV) “Việc hiện tại hoá rất cần thiết, bởi vì mặc dù sứ điệp của Thánh Kinh có giá trị trường cửu, các bản văn Thánh Kinh đã được biên soạn theo những hoàn cảnh của quá khứ và bằng loại ngôn ngữ rất hạn định bởi các thời kỳ. Để vén mở ý nghĩa của sứ điệp cho con người hôm nay, cần phải áp dụng sứ điệp ấy vào các hoàn cảnh hiện tại và trình bày nó bằng thứ ngôn ngữ của con người thời nay.” (số IV, A 1)
Về hội nhập văn hoá: “Hội nhập văn hoá không phải là một tiến trình một chiều; nó liên can đến việc “làm phong phú lẫn nhau”. Một đàng, các kho tàng chứa đựng trong các nền văn hoá khác nhau cho phép Lời Thiên Chúa sản sinh hoa trái mới, và đàng khác, ánh sáng của Lời Chúa giúp thực hiện một sự lựa lọc nào đó nơi các nền văn hoá: loại bỏ những yếu tố độc hại và thúc đẩy những yếu tố có giá trị.” (số IV B)
(21) Cf. chương 18, về nhu cầu phải có bản sắc riêng cho bài giảng
(22) Nhận xét về các cơ chế Kitô giáo trước thời Cải Cách, Pelikan nêu một ghi nhận mà tất cả các nhà giảng thuyết nên khắc cốt ghi tâm: “Thay vì làm những cửa sổ qua đó người ta có thể nhận được tia sáng nào đó của Vĩnh Cửu, chúng [tức các cơ chế Kitô giáo] đã trở thành mờ đục, và các tín hữu nhìn chúng hơn là nhìn xuyên qua chúng. Các cơ cấu của Giáo Hội được giả thiết phải hành động như những phương tiện thuộc linh- tức phương tiện cả của Thánh Thần Thiên Chúa lẫn của tinh thần con người… Bị kìm hãm trong các cơ chế Giáo Hội vốn không còn phục vụ như những kênh chuyển thông sự sống thần linh và như những phương tiện của ân sủng Thiên Chúa, năng lực thiêng liêng của Tin Mừng Kitô giáo phải được giải toả.” (J. Pelikan, Spirit Versus Structures: Luther and the Institutions of the Church [New York: Harper and Row, 1968, tr. 30])
(23) Một ý kiến phản hồi từ dân chúng.
(24) Nhưng hô hào “truyền giáo” không phải là ví dụ duy nhất. Còn có những bài giảng dự trữ sẵn cho lễ Thêm Sức, lễ cưới, vv. Đây thực sự không phải là những bài giảng, nếu chúng ta đồng ý rằng vai trò của người giảng thuyết là nhận định điều Chúa đang nói với cộng đoàn một cách sống động ở đây và lúc này, trong sự tương giao giữa các bài đọc Thánh Kinh và bối cảnh cụ thể.
(25) Có lần, trong tài liệu tôi nhận được cho ngày Chủ Nhật Tôn Trọng Sự Sống, có một bài giảng mẫu, kèm với lời chú thích rằng bài giảng ấy có thể được sử dụng bất cứ Chủ Nhật nào của tháng 10, vì người ta đã dọn sẵn 4 phần kết thúc khác nhau.
(26) Trong tác phẩm A Handful of Dust, Evelyn Waugh có một câu chuyện khôi hài về vị cha sở tại một làng người Anh - vị cha sở này vốn đã từng phục vụ nhiều năm ở Ấn Độ:
“Các bài giảng của cha đã được soạn vào thời trước, lúc cha còn trẻ trung, và đó là những bài giảng để giảng tại nhà nguyện của các binh lính; cha đã không làm gì để thích nghi chúng với các hoàn cảnh sứ vụ đã thay đổi của cha - và nói chung, bài giảng nào cũng kết thúc với sự qui chiếu về những “anh chị em thân mến” nào đó rất xa. Dân làng không ngạc nhiên mấy về điều này, bởi họ đã quen với sự kiện rằng ít có gì được nói trong nhà thờ là nhằm để nói riêng với họ.” (New York: Dell Publishing, 1965, tr. 33-35)
Về sau trong quyển sách, tác giả đề cập một trong các bài giảng lễ Giáng Sinh của vị cha sở: “Đó là một trong những bài giảng mà bổn đạo của cha gắn bó cách riêng. “Chúng tôi thật khó nhận ra rằng đấy là lễ Giáng Sinh. Thay vì những ánh lửa bập bùng của lò sưởi và những cửa sổ đóng chặt để chống lại những cơn gió tuyết, chúng tôi lại có ánh nắng chói chang của mặt trời ở xứ sở nào ấy; thay vì những khuôn mặt thân thương xúm xít nhau trong cuộc quây quần của gia đình, chúng tôi lại có những cái nhìn lạ lẫm của những thổ dân lầm lì, dù họ tốt bụng. Thay vì những con bò và những con lừa hiền lành của hang đá Bêlem, chúng tôi lại có con cọp đói và lạc đà, chó rừng, voi từ đâu đâu… Tony và đa số các vị khách của Tony cảm thấy rằng đó là một phần thiết yếu của lễ Giáng Sinh của mình. “Con cọp đói và con lạc đà xa xôi” kia từ lâu đã trở thành câu chuyện pha trò trong gia đình, trong các cuộc tụ tập vui chơi của họ.” (Op. cit., tr. 62-63)
(27) Một trong những dấu cho thấy chúng ta dùng bản văn theo cách này, đó là chúng ta ngừng đọc bài Tin Mừng ngay khi có được ý tưởng, chứ không đọc cho đến hết bài, cũng không cần xem các bài đọc khác.
(28) New Jerome Biblical Commentary, 71:79. Có thể nêu một ví dụ khác về “ý nghĩa được gán” rút từ Thông Điệp Redemptoris Mater của Đức Gioan Phaolô II khi ngài trích dẫn bản văn này từ Thư Côlôsê: “Sự sống của anh em được ẩn giấu với Đức Kitô trong Thiên Chúa.” (3,3) Ý nghĩa khách quan của bản văn là sự thông dự của các Kitô hữu với Đức Kitô Phục Sinh. Trong Thông Điệp nói trên, đức giáo hoàng trích bản văn ấy để khai triển suy tư của ngài về Đức Maria sống với Đức Giêsu trong những năm sống âm thầm tại Nadarét. Đây rõ ràng là một ý nghĩa được gán. Việc “gán” như vậy là điều được phép trong các suy tư, suy niệm, và trong văn mạch của Thông Điệp này, nhưng việc này không được phép trong các bài giảng lễ. (Cf. Fitzmyer, Louvain Studies 20 [1995, tr. 139-140].)
(29) “… các thừa tác viên của Lời Chúa có bổn phận chính yếu của mình, không chỉ là chuyển trao giáo huấn nhưng còn là giúp các tín hữu hiểu và nhận định điều mà Lời Thiên Chúa đang nói với họ, trong tâm hồn họ, khi họ nghe và suy tư các bản văn Thánh Kinh.” (Uỷ Ban Giáo Hoàng về Thánh Kinh, Việc Giải Thích Thánh Kinh Trong Giáo Hội, 1993, III B 3)
(30) Để minh hoạ sự khác biệt giữa dạy học và giảng lễ, hãy tưởng tượng bạn được mời giảng lễ cho một nhóm thần học gia và học giả Thánh Kinh tên tuổi. Phản ứng tự nhiên có thể là van xin thoái thác, hay ít là nơm nớp lo lắng. Nhưng tại sao? Một người có khả năng giảng thì có khả năng giảng cho những con người này chứ. Bạn không đang dạy họ (bạn khó có khả năng này). Bạn không đang viết một bài nói chuyện để họ phải thán phục. Bạn có các bài đọc Thánh Kinh. Bạn là thừa tác viên của những gì được chuyên chở trong các bài đọc ấy. Bạn là một anh chạy bàn. Thế thì bạn còn lo lắng về điều gì nhỉ?
(31) Tại một bữa ăn tối, người chủ nhà đề cập với một khách mời rằng tôi đang viết một quyển sách về việc giảng lễ, và hỏi xem vị khách có ý kiến gì không. Vị khách ngẫm nghĩ một chút rồi nói gọn lỏn: “Hãy bảo họ đi thẳng vào trọng tâm.”
(32) Ý kiến này, hầu như đúng từng từ, được nghe đi nghe lại rất nhiều.
(33) Có lẽ việc phóng một hoả tiễn là một hình ảnh tốt hơn để minh hoạ việc bắt đầu một bài giảng.
(34) Hãy ghi nhận câu trả lời của Thánh Bộ Bí Tích và Phụng Tự: “CÂU HỎI: Có nên mời tín hữu làm dấu Thánh Giá trước hay sau bài giảng? Có nên có một công thức chào họ, chẳng hạn: “Ngợi khen Chúa Giêsu Kitô” không? TRẢ LỜI: Tất cả tuỳ thuộc vào tập quán hợp lệ của địa phương. Nhưng nói chung, không nên tiếp tục những thói quen ấy, bởi vì chúng có nguồn gốc từ việc giảng ngoài Thánh Lễ. Bài giảng là một phần của phụng vụ; dân chúng đã làm dấu Thánh Giá và đã nhận lời chào ở đầu Thánh Lễ rồi. Vì thế, tốt hơn không nên lặp lại việc đó trước hay sau bài giảng.” (Notitiae 9 [1973] 178; Cf. Fulfilled in Your Hearing, tr. 23)
(35) Khi viết chương 17, về việc dùng từ, tôi đã xem lại các bản văn ghi bài giảng để tìm những ví dụ tích cực về ngôn ngữ cụ thể, sát đời sống. Thật đáng lưu ý là ngôn ngữ cụ thể chiếm tỉ lệ cao nhất ở các phần mở đầu bài giảng.
(36) Có một số ngoại lệ - đó là những lúc bạn phải làm một điều gì đó để “phá băng” bởi vì đó là một trường hợp mà nhiều người còn xa lạ đối với nhau (hay đối với bạn). Lý tưởng là có vài lời “làm quen” với cộng đoàn ngay trước khi Thánh Lễ bắt đầu; nhưng điều này không luôn luôn ở trong vòng kiểm soát của chúng ta.
Những đề nghị thiết thực cho người giảng lễ
Lm. Lê Công Đức dịch và hiệu đính từ nguyên tác: PREACHING BETTER –
Practical Suggestions for Homilists
của: Ken Untener, Giám Mục Saginaw
do nhà Jesuit Communications Foundation, Inc. xuất bản, 1999.
Giảng lễ là ‘nghề’ số một của linh mục. Và bất cứ linh mục nào, dù đã giảng tốt đến mấy, cũng vẫn có thể trau giồi để giảng tốt hơn.
Quyển sách nhỏ này là kết tinh của một dự án lớn về giảng lễ được khởi xướng bởi Đức Cha Ken Untener, giám mục Saginaw (Michigan, USA) cách đây 16 năm – và được trung thành theo đuổi bởi chính ngài và các giáo sĩ trong giáo phận của ngài. Đối tượng trước hết của sách này không phải là các đại chủng sinh đang tập giảng ở những năm cuối thần học, dù chắc chắn cũng rất bổ ích cho họ. Sách nhắm trước hết các linh mục đang làm tác vụ Lời Chúa và đã có, ít hay nhiều, kinh nghiệm liên quan đến giảng lễ. Vì thế, hy vọng rằng quyển sách này có một giá trị thường huấn – thậm chí tự thường huấn – cho các linh mục.
Một số trang không chỉ được dịch mà còn được hiệu đính, để phù hợp với tiếng Việt.
Những ngày đầu năm Kỷ Sửu 2009
Người dịch
Nội Dung
- Giới thiệu: Quyển sách hình thành như thế nào?
1. Một “thái độ”
2. Bài giảng là gì?
3. Không phải là bài giảng
4. Phần mở đầu bài giảng
5. Phần kết bài giảng
6. Chuẩn bị bài giảng: Vài ý tưởng sơ khởi
7. Chuẩn bị bài giảng: Các bài đọc Thánh Kinh
8. Chuẩn bị bài giảng: Chỉ một hạt ngọc… nhưng đắt giá!
9. Chuẩn bị bài giảng: Viết ra
10. Chuẩn bị bài giảng: Sửa chữa
11. Chuẩn bị bài giảng: Nắm vững tư tưởng của mình
12. Chiều sâu
13. Nối kết với đời sống thực tế
14. Những câu chuyện
15. Nên giảng dài hay ngắn?
16. Thông tin bên lề
17. Dùng từ
18. Bài giảng của tôi! Nhưng không qui về “tôi”!
19. Trân trọng các đánh giá phản hồi
20. Rút kinh nghiệm từ những bài giảng lễ ngày thường
21. Dùng các vật minh hoạ
22. Đừng quá ôm đồm, đừng nói hết những gì phải nói
23. Sự tham dự của cộng đoàn vào bài giảng
24. Bài giảng đem lại niềm an ủi
25. Giảng về tội
26. Mười con quỉ
27. Một bài giảng cho các nhà giảng thuyết
Đôi dòng về tác giả
GIỚI THIỆU QUYỂN SÁCH NÀY HÌNH THÀNH NHƯ THẾ NÀO?
Quyển sách này bắt đầu từ sát đất. Tưởng nên nói qua về bối cảnh của nó.
Giai Đoạn I: Ghi lại ý kiến của dân chúng
Năm 1975, tôi bắt đầu nhận dạy môn Giảng Lễ tại Chủng Viện Saint John’s ở ngoại ô Detroit. Vốn liếng của tôi chỉ vỏn vẹn một tấm bằng thần học và … mười hai năm giảng lễ.
Tôi mua một quyển sổ tay và bắt đầu hỏi người ta về những gì liên quan tới các bài giảng lễ mà họ thích và không thích. Tôi chỉ hỏi các ‘giáo dân trơn’ thôi, nghĩa là những người không có vai trò chuyên biệt trong cộng đoàn và – có thể nói – họ hoàn toàn thuộc về ‘đại chúng’. Tôi hỏi bất cứ khi nào tôi có dịp: với người quen, với người lạ, tại bàn ăn tối, tại các đám tiệc, trên máy bay… Họ nói; tôi ghi chép.
Thật thú vị là người ta rất sẵn sàng nói chuyện về đề tài này. Có những người tình cờ nghe chuyện cũng xen vào.
Tôi tiếp tục làm thế. Và cho tới nay, tôi đã thu thập được hàng ngàn ý kiến. Bên cạnh đó, tôi cũng phân các ý kiến thành 25 loại căn bản. Sự trùng hợp giữa các ý kiến thật đáng ngạc nhiên.(1) (Chẳng mấy chốc, một trong số 25 loại ý kiến ấy bắt đầu vượt trội các loại kia, chiếm lĩnh vị trí ‘số một’. Tôi sẽ dành một chương của quyển sách để đề cập đến loại ý kiến này.)
Bộ sưu tập ý kiến nói trên, cộng với các suy tư của tôi về các ý kiến ấy, chính là cốt lõi của quyển sách này. Nhưng không phải tất cả chỉ có vậy.
Giai Đoạn II: Chương trình Saginaw
Năm 1993, rốt cục tôi triển khai được một kế hoạch vốn đã dự tính từ vài năm trước đó. Hội Đồng Linh Mục Saginaw nhất trí với kế hoạch này, ngay cả tình nguyện làm những người tiên phong.
Công việc như sau:
Tôi rà qua danh sách các linh mục và chọn bốn người, cộng với một phó tế hay một tác viên giáo dân. Rồi tôi gửi mỗi người một lá thư yêu cầu ghi âm trực tiếp bài giảng lễ Chủ Nhật của tuần ấy và gửi lại cho tôi.(2) Đây là việc bắt buộc chứ không tuỳ ý. Tôi cũng ghi âm một trong các bài giảng ngày Chủ Nhật ấy của mình và đặt vào chung với các băng ghi âm kia.
Nhận được mỗi băng ghi âm bài giảng, thư ký của tôi làm các băng bản sao, đánh thành văn bản, rồi gửi cho mỗi người tất cả các bản sao của các băng ghi âm cũng như tất cả các bản văn ghi lại các bài giảng. (Người thư ký của tôi phải cày đến nín thở!)
Một buổi hẹn được định ra cho mọi người gặp nhau tại văn phòng tôi trong hai tiếng đồng hồ. Để chuẩn bị cho buổi làm việc này, mỗi người nghe trước tất cả các băng và ghi chú.
Tại buổi gặp gỡ, chúng tôi làm cái công việc mà những người chơi gôn thường làm sau một trận đấu. Chúng tôi đưa ra những lời khen ngợi, khích lệ, những lời khuyên, và cố gắng nghĩ cách để cải thiện các bài giảng. Rồi chúng tôi cũng thảo luận rộng hơn về những vui buồn xung quanh việc giảng thuyết, về những cái đạt được và những bế tắc, và nhất là về câu hỏi: Bài giảng là gì trước hết? Tôi không phải là thầy dạy của nhóm. Tôi chỉ là người qui tụ các thành viên – và bài giảng của tôi cũng nằm trong số sáu bài giảng được mổ xẻ.(3)
Ở đây sự thành thật là chìa khoá. Tôi nhắc mọi người rằng đây là cơ hội ngàn năm một thuở để nghe được những đóng góp thẳng thắn của các đồng sự giàu kinh nghiệm của mình. Nói chung, mọi người đều chân thành phát biểu, và chúng tôi đã có những cuộc trao đổi tuyệt vời, nhiều khi chúng tôi chia sẻ thật sâu xa tận đáy lòng mình. Chúng tôi cũng chia sẻ về cốt lõi của sứ vụ chúng tôi, sứ vụ xây dựng cộng đoàn nhờ Lời Chúa.
Khi chúng tôi kết thúc buổi gặp gỡ hai tiếng đồng hồ đó, mỗi nguời nhận một băng (cassette) trắng để ghi âm bài giảng khác của mình vào Chủ Nhật kế tiếp. Mọi người ra về, và toàn bộ tiến trình lại bắt đầu một lần nữa. Mỗi nhóm làm bốn lần như vậy.(4)
Chúng tôi không hề tham vọng rằng sau mỗi buổi gặp gỡ mình sẽ có được ngay những sự cải thiện. Điều chúng tôi nhắm đến, đó là bốn buổi gặp gỡ ấy sẽ vạch một lộ trình theo đó chúng tôi sẽ tiếp tục hoàn thiện các bài giảng của mình trong tương lai.
Khi nhóm này sắp họp mặt buổi thứ tư (tức buổi cuối cùng), tôi gửi các thư mời để qui tụ một nhóm khác, rồi lại một nhóm khác, và cứ thế… Đến nay công việc đã đều đặn diễn ra được bốn năm. Khoảng hai năm nữa sẽ xong một lượt cho mọi linh mục trong giáo phận, khi ấy chúng tôi sẽ lại bắt đầu một lượt khác.
Trên đây chỉ là đại lược những nét chính của chương trình. Thật ra còn có sự đóng góp của vài khuôn mặt khác nữa.
Vị giám đốc truyền thông của chúng tôi, một nhà báo nữ kỳ cựu, cũng tham gia với chúng tôi trong một phần của mỗi buổi gặp gỡ. Trước mỗi buổi gặp, chị chọn ra hai bản văn bài giảng và biên tập chúng, dựa vào kinh nghiệm của chị vốn là biên tập viên của một tờ nhật báo. Tại buổi gặp, chị trao cho mọi người bản sao của những bản văn đã được biên tập trực tiếp trên bản gốc, và chị rà lại từ đầu đến cuối mỗi bài, giải thích lý do của những thay đổi.
Dĩ nhiên văn viết thì khác với văn nói. Chị lưu ý điều này, nên trước khi biên tập chị luôn nghe chính bài giảng ấy trên băng ghi âm. Chị không tự nhận mình là nhà giảng thuyết hay nhà thần học; chị là một nhà báo và chị áp dụng kỹ năng của một nhà báo để giúp cải thiện các bài giảng của chúng tôi ngần nào có thể.
Và chị đã giúp được rất nhiều. Thật đó. Quả là một kinh nghiệm khai trí khi bạn đọc bài giảng của chính mình đã được biên tập.(5)
Mỗi nhóm chúng tôi còn có sự tham dự của một phụ nữ vừa là một nhà thần học hệ thống vừa là một nhà linh hướng từng trải. Chị có đảm nhận việc giảng thuyết và phụ trách phụng vụ nhưng không thường xuyên; chị tự xem mình là một trong số những người nghe giảng và chị đóng góp cho các buổi thảo luận của chúng tôi bằng năng lực thần học và linh đạo của chị. Sự hiện diện của hai nữ chuyên viên ‘phi giảng thuyết’ này thật quí báu cho các nhóm chúng tôi.
Ngoài ra, chúng tôi còn có một đối tác nữa trong tiến trình. Một người ở giáo phận láng giềng vận động được một nhóm giáo dân sẵn lòng tham gia bằng thư tín. Trước mỗi buổi gặp của chúng tôi, sáu người trong số các giáo dân này sẽ nhận các băng ghi âm bài giảng, mỗi nguời một bài, để nghe và gửi các nhận xét phản hồi của mình trên một mẫu phiếu trả lời được cung cấp sẵn.
Bởi vì họ chưa bao giờ nghe các vị giảng thuyết này trước đó, nên các ý kiến phản hồi của họ đặc biệt gây ấn tượng khi chúng âm vang một số ý kiến được nêu lên trong nhóm của chúng tôi.
Đó là “chương trình Saginaw” của chúng tôi. Đó không phải là một khoá vỡ lòng dành cho những kẻ mới nhập cuộc. Đó là một khoá thực hành của những nhà giảng thuyết dày kinh nghiệm muốn giúp nhau cải thiện nghệ thuật giảng thuyết của mình.
Giúp Nhau Ngay Trong Thực Hành
Không có ai giảng thuyết bằng tất cả tiềm năng của mình, và không ai trong chúng ta cải thiện bài giảng của mình duy chỉ bằng cách cứ lặp đi lặp lại hoài. Thực hành không làm cho người ta nên hoàn hảo, bởi vì ta vẫn luôn cần tập tành để có thể làm tốt hơn.
Những người chuyên nghiệp trong hầu như mọi lãnh vực đều có kinh nghiệm tương tự như vậy. Các nhạc công chuyên nghiệp vẫn luôn giúp nhau chơi tốt hơn; các tay chơi gôn cũng thế. Các tác giả luôn nhận sự phê bình về việc viết lách của mình, dù muốn hay không muốn. Sau mỗi trận cầu, Liên Đoàn Bóng Đá Quốc Gia sử dụng các băng video để xem lại cách làm việc của các trọng tài và các giám biên. Câu chuyện của các phi công dân sự là ví dụ thú vị nhất. Mỗi năm một lần, mỗi phi công tham gia với một số đồng nghiệp khác trong một chương trình ôn luyện và cải thiện khả năng bay của mình. Một phần của việc này là thực hành với một chuyến bay giả, nhưng trong năm, họ còn có một cuộc ôn tập khác mang ý nghĩa thực hành thật sự. Không hề được báo trước, một “phi công kiểm tra” sẽ leo vào buồng lái và nói: “Tôi sẽ cùng bay với cậu. Cậu cứ làm những gì bình thường cậu vẫn làm.”(6)
Một phi công dân sự lần kia cho tôi biết rằng còn có một động lực mạnh hơn thế nữa thúc đẩy sự cải thiện. Luôn luôn có hai phi công trong buồng lái, và thường hai người luân phiên thay nhau điều khiển chuyến bay. “Các phi công rất tự hào về khả năng bay của mình,” anh ta nói, “và sự hiện diện của một phi công khác sẽ làm cho bạn muốn thể hiện tốt nhất khả năng ấy. Hơn nữa, chúng tôi cố gắng giúp nhau.”
Vâng, đó cũng là điều chúng tôi cố gắng làm trong các nhóm của chúng tôi: giúp nhau giảng tốt hơn ngần nào có thể và không ngừng cải thiện.
Tôi không phản đối các khoá hội thảo về giảng thuyết. Mở càng nhiều khóa càng tốt. Nhưng bên cạnh đó, chúng ta cần việc trao đổi kinh nghiệm trong thực hành. Việc phê bình một bài giảng ‘diễn tập’ trên băng video có thể hữu ích; nhưng việc phê bình một bài giảng thực sự diễn ra tại giáo xứ trong những điều kiện thực tế thì lại là một chuyện hoàn toàn khác.(7)
Vì tôi là thành viên của tất cả các nhóm, nên tôi đã nghe rất nhiều bài giảng ghi âm và đã tham gia thảo luận rất nhiều về các bài giảng. (Cho tới nay, đã có đến 85 bài giảng của chính tôi được đem ra mổ xẻ.) Và tôi đã học hỏi được rất nhiều, đồng thời cũng cố gắng truyền đạt cho các nhóm những điều bổ ích nhất mà tôi thu lượm được trong tiến trình.
Đấy cũng chính là điều mà quyển sách này muốn làm với tất cả bạn đọc.(8)
Phần đông các nhà giảng thuyết rất cần mẫn làm công việc của mình, và điều này thật đáng khen ngợi. Chỉ những ai giảng mới biết công việc này khó khăn đến mức nào. Tôi hiểu rõ thách đố này từ những cuộc vật lộn và những va vấp của chính tôi. Chỉ mong sao những chương sách này, xuất phát từ kinh nghiệm của hàng trăm người cùng đi chung một chiếc thuyền, sẽ đem lại những ích lợi thiết thực nào đó.
CHƯƠNG I: MỘT THÁI ĐỘ
“Ta sẽ ban cho chúng quả tim mới
và sẽ đặt tinh thần mới vào lòng chúng” (Ed 11,19)
Soạn một bài giảng có thể giống như làm một bài tập về nhà mỗi tuần. Những công việc như thế ít khi đánh động trái tim chúng ta.
Bước đầu tiên, và có lẽ là bước quyết định nhất để cải thiện các bài giảng, chính là gạt bỏ cái thái độ ấy. Chúng ta cần một quả tim mới, một tinh thần mới.
Sự thay đổi quả tim này không phải là một mẹo lừa tâm lý. Đó là thực tại căn bản. Chỉ cần một vài khoảnh khắc suy tư là chúng ta có thể nhận ra mình thật sự đang làm gì khi chuẩn bị một bài giảng.
Bạn hãy xem xét những điều sau đây:
1. Khi chuẩn bị một bài giảng, chúng ta đang tham dự vào cùng loại hành động của Chúa Thánh Thần khi hình thành bản văn Thánh Kinh
Nói vậy nghe như phóng đại, nhưng Hội Đồng Giám Mục Hoa Kỳ đã xác nhận rõ ràng như vậy trong Tài Liệu Fulfilled in Your Hearing:
Nếu các lời của Thánh Kinh được Thiên Chúa linh hứng, như chúng ta vẫn tin chắc như thế, thì sự linh hứng của Thiên Chúa ắt hẳn phải hoạt động khi những lời ấy được làm cho sống động và được làm cho trở thành hiện thực đối với cộng đoàn đức tin xuyên qua sứ vụ của chúng ta.(9)
Raymond Brown cũng không ngần ngại xác quyết điều đó. Vị linh mục học giả Thánh Kinh này chỉ ra rằng khi các thị chứng nhân Tông Đồ diễn giải sứ điệp của Đức Giêsu cho những hoàn cảnh mới, các ngài đã không làm điều đó duy chỉ bằng việc nhớ lại những gì Đức Giêsu đã làm và đã nói. Nói cho cùng, các ngài vốn thuộc số những kẻ “thấy mà không hiểu.” Sau sự kiện Phục Sinh và Lên Trời, chính ân ban Thánh Thần đã dạy cho các ngài biết ý nghĩa của những gì các ngài đã nhìn thấy. Đây là sự ứng nghiệm điều mà Đức Giêsu đã nói với các ngài:
Thầy còn nhiều điều để nói với anh em, nhưng bây giờ anh em không thể hiểu. Nhưng khi Thần Chân Lý đến, Ngài sẽ dẫn anh em đến sự thật trọn vẹn. (Ga 16,13)
Brown lưu ý rằng Đấng Bàu Chữa được hứa ấy không chấm dứt hoạt động của Ngài khi thời đại các Tông Đồ chấm dứt. Các Kitô hữu chúng ta thuộc các thế hệ sau cũng không bị tách xa hơn khỏi sứ vụ của Đức Giêsu so với các Kitô hữu thuở ban đầu. Đấng Bàu Chữa cư ngụ trong chúng ta cũng y như Đấng Bàu Chữa đã cư ngụ trong các thị chứng nhân sau biến cố Phục Sinh và Lên Trời, để nhắc nhớ và để trao ý nghĩa mới mẻ cho những gì Đức Giêsu đã nói.(10)
2. Khi chuẩn bị một bài giảng, chúng ta đang soạn một phần của phụng vụ
Bài giảng là một phần của phụng vụ. Chúng ta biết thế qua sách vở, nhưng trong thực tế, chúng ta dễ dàng quên điều đó – bởi vì một bài giảng DƯỜNG NHƯ rất giống với một bài nói chuyện, một bài phát biểu hay một bài lên lớp được nhét vào trong một cuộc cử hành phụng vụ. Sự việc càng khó khăn hơn nữa khi mà cho đến nay đã nhiều thế hệ thường coi “các bài giảng” LÀ những bài nói chuyện, phát biểu hay lên lớp xảy ra trong khung cảnh phụng vụ.
Chúng ta đang dần dần trở về với ý thức rằng trong một bài giảng chúng ta chuẩn bị và công bố – dưới sự hướng dẫn của Chúa Thánh Thần – một cái gì đó thực sự là một phần của chính cuộc cử hành phụng vụ. Người ta nhớ lại cái cách mà những vị chủ toạ cử hành Thánh Thể thuở ban đầu chuẩn bị và cử hành lời nguyện Thánh Thể: Các vị ấy biết rõ rằng mình đang làm một việc rất thánh thiêng. Chúng ta cũng cần có thái độ tương tự khi chuẩn bị bài giảng và chính khi giảng lễ.(11)
3. Khi giảng lễ, chúng ta đứng cùng phía với Thiên Chúa và nói với dân chúng
Trong bài giảng, vị giảng thuyết được đặt vào một vị trí khác với vị trí của chủ tế khi đọc Kinh Nguyện Thánh Thể.
+ Trong Kinh Nguyện Thánh Thể, chủ tế “đứng đối diện với Thiên Chúa” và nhân danh dân chúng để nói với Thiên Chúa.(12)
+ Trong bài giảng, vị giảng thuyết “đứng đối diện với dân chúng” và nhân danh Thiên Chúa để nói với dân chúng.(13)
Với cái nhìn đối chiếu như thế, bạn thấy giữa hai đàng, đàng nào “khiếp đảm” hơn? À, đàng nào cũng “khiếp đảm” theo cách riêng của nó. Nhưng trong khi chúng ta nhận ra tính thiêng thánh của vị chủ tế trong Kinh Nguyện Thánh Thể, thì chúng ta còn chưa nhận ra bao nhiêu tính thánh thiêng của vị giảng thuyết trong bài giảng lễ. (Trong những năm gần đây, người ta ngày càng nhấn mạnh tầm quan trọng của bài giảng. Tôi ước mong nhìn thấy sự thánh thiêng của bài giảng cũng được nhấn mạnh như thế.)
Một Công Việc Đầy Tâm Tình Cầu Nguyện Và Niềm Vui
Chúng ta cần tìm cách để làm cho việc chuẩn bị bài giảng trở thành một công việc đầy ắp tâm tình cầu nguyện và niềm vui.
Phần lớn quá trình được đào tạo tu đức của tôi đã không nối kết hai từ: Cầu nguyện và niềm vui. Một số hình thức cầu nguyện mà tôi đã học xem ra không bao gồm niềm vui trong đó.
Nhưng ở đây thì hai từ trên được nối kết. Chúng ta đi vào trong một mối tương quan đặc biệt với Chúa Thánh Thần khi chuẩn bị một bài giảng, và điều này đặt chúng ta vào trong một bầu khí cầu nguyện. Chúng ta đang làm một trong những công việc trọng yếu bậc nhất thuộc sứ vụ của chúng ta, và đó là niềm vui.
Bạn hãy tìm cách để làm cho việc sửa soạn bài giảng thấm đẫm tâm tình cầu nguyện. Thắp một ngọn nến sẽ rất tốt. Còn mở tivi thì không tốt đâu. Rất thường, những tâm tình cầu nguyện bất chợt nảy ra trong tiến trình. Bạn cứ tạm dừng lại mà cầu nguyện. Không có gì phải vội vã. Hơn nữa, thời gian dùng để chuẩn bị bài giảng há chẳng phải là thời gian cầu nguyện đó sao? Chuẩn bị bài giảng có thể là một công việc khó nhọc, nhưng đó cũng là một công việc thánh thiện nữa đấy.
Bạn hãy tìm cách làm cho công việc này nên thú vị. Hãy xếp đặt nơi chốn và thời gian thuận tiện. Đừng để mình bị áp lực phải làm vội vã; cũng liệu sao cho các tài liệu tham khảo có sẵn trong tầm tay.(14) (Hãy lưu ý rằng việc bắt đầu soạn bài giảng ngay từ đầu tuần sẽ rất thuận tiện cho bạn cảm nghiệm cả những tâm tình cầu nguyện lẫn những niềm vui.)
—————————————–
Là những người dấn thân trong công việc mục vụ, chúng ta cần thời gian để thao luyện tâm linh, nhưng sẽ là sai lầm nếu xem việc thao luyện tâm linh như cái gì nằm ở bên ngoài các công tác mục vụ. Trong chính khung sinh hoạt đều đặn của chúng ta vốn đã có dự liệu những cơ hội để cầu nguyện, suy tư và lắng nghe Chúa Thánh Thần.
Soạn bài giảng là một trong những công việc thánh thiện và đầy tâm tình cầu nguyện như thế.
CHƯƠNG II: BÀI GIẢNG LÀ GÌ?
“Khi chúng tôi nói cho anh em nghe lời Thiên Chúa, anh em đã đón nhận, không phải như lời người phàm, nhưng… như lời Thiên Chúa. ” (1Tx 2,13)
Nhưng trước hết, thế nào là một bài giảng? Các nhóm thảo luận của chúng tôi đã vật lộn rất nhiều với câu hỏi này, và tôi nhận ra mình đã dần dần có một cái nhìn rất khác về bài giảng. Cho đến nay điều này đã có một ảnh hưởng thật lớn lao đối với tôi.(15)
Trước đây, tôi quan niệm nhà giảng thuyết như một anh đầu bếp nhìn xem trong tủ lạnh và trong tủ thức ăn có những thứ gì (= các bài đọc), anh suy nghĩ và quyết định một thực đơn (= ý tưởng chủ đạo của bài giảng), rồi anh tiến hành nấu nướng theo thực đơn đó và dọn ra bàn ăn (= bài giảng).
Điều tôi đã trở nên ý thức nhiều hơn trong những năm qua, đó là người giảng thuyết bước vào bếp vốn đã ngào ngạt hương vị của món gì đó đã được nấu sẵn, và chính Chúa đang tiến hành công việc nấu nướng này. Phụng vụ là bữa ăn của Chúa từ đầu tới cuối: chọn thực đơn, nấu món ăn, dọn ra bàn. Chúng ta là những người phụ giúp vào tiến trình ấy.
Thật vậy, công việc của các thừa tác viên trong phụng vụ, kể cả người giảng thuyết, là giúp một tay vào công việc Chúa Kitô đang làm, vì Chúa Kitô chính là người dẫn dắt mọi kinh nguyện phụng vụ. Việc trước hết chúng ta phải làm khi chuẩn bị một bài giảng (hay khi lên kế hoạch một cử hành phụng vụ), đó là khiêm tốn đứng trước mặt Chúa.(16)
Người Giảng Thuyết Đảm Nhận Một Công Tác Ba Mặt
Vai trò của người giảng thuyết bao gồm ba mặt: (1) nhận định điều Chúa đang làm / đang nói xuyên qua khung cảnh cụ thể này, (2) giúp soi sáng cho cộng đoàn thấy rõ điều ấy, và (3) làm tất cả công việc này nhân danh Giáo Hội.
1. Nhận Định Điều Chúa Đang Làm / Đang Nói Xuyên Qua Khung Cảnh Cụ Thể Này
Lời Thiên Chúa không sống trong một quyển sách. Lời đó trở nên sống động trong cái khung cảnh toàn thể là giao điểm của:
• những bản văn Thánh Kinh cụ thể này (vào các ngày Chủ Nhật, có 4 bản văn: gồm 3 bài đọc và bài Thánh Vịnh đáp ca)
• bối cảnh phụng vụ cụ thể này (mùa phụng vụ gì? lễ gì? dịp gì?)
thời gian và nơi chốn lịch sử cụ thể này (tất cả những gì đang diễn ra trong thế giới và trong Giáo Hội lúc này)
• những con người cụ thể này (các hoàn cảnh sống thực của những con người đang nghe chúng ta giảng đây)
Ở đây có liên quan đến việc chú giải. Nhưng chú giải không phải là tất cả công việc phải làm. Chúng ta cố gắng nhận định xem bản văn này thi hành chức năng thế nào ở đây và bây giờ. Lần nọ có người nêu nhận xét với tôi rằng các nhà giảng thuyết dường như quá thường giảng về một “Đức Giêsu lịch sử”; nghĩa là các vị chỉ loay hoay giải thích Đức Giêsu của “ngày xưa” ấy. Nhưng Đức Giêsu đâu có thuộc về ngày xưa. Đức Giêsu đang sống hoạt thực sự hôm nay, chứ không phải sống như người đã về hưu. Ngài đang tác động trên chúng ta ở đây và bây giờ, cách riêng trong phụng vụ. Một cái gì đó đang “đốt cháy” khi phối hợp những bản văn Thánh Kinh này với khung cảnh thực tế này, và chúng ta, những người giảng thuyết, phải khám phá nó và khai mở nó ra cho dân Thiên Chúa.
Lời Thiên Chúa trong phụng vụ luôn luôn sống động, không bao giờ là thứ lời cũ được nhắc lại. Khi Thánh Kinh được công bố, chúng ta không đang nghe điều gì đó Thiên Chúa đã nói. Chúng ta đang nghe Thiên Chúa nói trực tiếp với chúng ta bây giờ. Đây là giáo lý Công Giáo,(17) nhưng tôi e rằng chúng ta không nghiêm chỉnh nhìn nhận điều này.
Đặc tính sống động của Lời Thiên Chúa không chỉ có nghĩa rằng Thiên Chúa đang nói với chúng ta, mà còn có nghĩa rằng Lời Thiên Chúa đang kích hoạt.(18) Đó là Lời ân phúc, có một năng lực tác động. Lời này không chỉ là một lời chân thực và chỉ cho chúng ta đường hướng đúng đắn. Lời này là một “dấu chỉ hữu hiệu” đem lại sự cứu độ vốn là đích nhắm của nó. Lời này định hình các cá nhân và định hình Giáo Hội.
Khi Đức Giêsu nói “chính Thần Khí mới làm cho sống,” Ngài cũng liền nói về những lời của Ngài: “Những lời Thầy nói với anh em là Thần Khí và là sự sống” (Ga 6,63). Vài câu sau đó, Phêrô thưa: “Lạy Thầy, chúng con sẽ đến với ai? Chính Thầy mới có những lời ban sự sống đời đời.”
Thánh Phaolô nói: “Tôi không xấu hổ vì Tin Mừng. Đó là quyền năng cứu độ của Thiên Chúa cho mọi người tin.” (Rm 1,16)
Sự tuôn chảy của Lời ân phúc và sống hoạt này là cái mà chúng ta, những người giảng thuyết, phải cố gắng nhận ra.
2. Giúp Soi Sáng Cho Cộng Đoàn
Sau khi đã cố gắng nhận ra điều Thiên Chúa nói với chúng ta xuyên qua khung cảnh cụ thể này, công việc thứ hai của người giảng thuyết là giúp soi sáng để cộng đoàn cũng nhận ra điều đó.(19)
Là người giảng thuyết, chúng ta cần nhớ rằng rất nhiều điều đã xảy ra trước bài giảng lễ. Các bài thánh ca, các biểu tượng, các lời nguyện, và Lời Chúa đã tuôn chảy trên tất cả cộng đoàn. Công việc của chúng ta là giúp cho dòng chảy vốn đang diễn ra ấy. Chúng ta không đang làm cho nó xảy ra; đúng hơn chúng ta phụ giúp tiến trình của nó.
Như mưa tuyết từ trời rơi xuống
và không quay trở lại
cho tới khi đã thấm đẫm vào đất,
làm cho đất phì nhiêu và sản sinh hoa quả…
Lời của Ta cũng thế;
sau khi rời khỏi miệng Ta,
Lời sẽ không trở lại mà không sinh hoa kết quả,
nhưng sẽ thi hành ý muốn của Ta,
sẽ đạt được điều mà Ta nhắm đến. (Is 55,10-11)
Chúng ta trao những ân huệ không phải của chính chúng ta, những ân huệ này có sức tác động lớn lao hơn khiếu hùng biện của ta rất nhiều.(20)
3. Làm Tất Cả Những Việc Này Nhân Danh Giáo Hội
Khi giảng lễ, chúng ta hành động nhân danh Giáo Hội. Chúng ta không phải là những người nhận được các mạc khải tư, cũng không phải do tự ý mình mà chúng ta làm phát ngôn viên của Thiên Chúa.
Chúng ta tham dự vào trong ân huệ Thánh Thần được trao ban cho Giáo Hội. Chúng ta đang chia sẻ không chỉ đức tin của chúng ta, nhưng là đức tin của toàn thể Giáo Hội. Vì thế, giảng một bài giảng thì khác với trao một chứng từ cá nhân. Có những nơi và lúc khác cho việc đó, nhưng một bài giảng thì phải có kích thước rộng hơn một chứng từ cá nhân.
Người giảng thuyết phải gắn bó với đức tin của toàn Giáo Hội khi nhận định đâu là điều Chúa đang nói trong khung cảnh thực tế này. Chúng ta phải trình bày điều ấy bằng một cách thức của riêng mình (nghiã là từ tâm hồn mình), nhưng không phải bằng một cách thế nắn ép sứ điệp của Thiên Chúa đến chỉ còn là kinh nghiệm riêng của chúng ta.(21)
Một Vài Hệ Quả
Nếu tác vụ Lời Chúa thực sự được làm theo cách mà chúng ta mô tả trên kia, thì có một số hệ quả cần ghi nhận.
+ Quá trình chuẩn bị có thể rất thú vị
Ta sẽ có một cảm thức tự do. Đó không còn là một công tác hàng tuần trong đó ta phải hoàn toàn tự mình làm một bài “diễn thuyết.” Đúng hơn, chúng ta tham dự vào và phụ giúp một điều gì đó rất tốt đang diễn ra. Các bản văn Thánh Kinh được công bố đang tuôn chảy, và chúng ta đang cố gắng giúp khai thông dòng chảy này. Việc nhận định điều gì đang tuôn chảy sẽ đòi sự nghiên cứu, cầu nguyện, diễn dịch; việc trình bày nó sẽ đòi một khả năng sáng tạo mức nào đó. Nhưng không có gì nhiều phụ thuộc vào tôi.
+ Chúng ta không bao giờ phải lo lắng về sự cạn kiệt
Những câu chuyện và những kho tư liệu của riêng chúng ta thì giống như trữ lượng dầu với khối lượng nhất định, nhưng Thánh Kinh là mạch nước hằng sống không bao giờ khô cạn, và đời sống của cộng đoàn thì không bao giờ tĩnh tại. Khi Lời hằng sống chảy vào đời sống thì những kho tàng vô tận sẽ không ngừng mở ra.
+ Chúng ta không phải cố tìm ra một đề tài mới cho mỗi Chủ Nhật
Chúng ta có thể cảm thấy thoải mái để giảng cùng một ý tưởng nòng cốt trong vài ba tuần liên tiếp; chẳng hạn, trong Mùa Phục Sinh, sự nhấn mạnh dành cho Chúa Thánh Thần, một chủ đề thường ít được lưu tâm đúng mức trong các bài giảng của chúng ta. (Chúng ta có xu hướng nhấn mạnh sứ vụ tại thế của Chúa Giêsu.) Nếu chúng ta đã giảng về Chúa Thánh Thần vào Chủ Nhật trước, thì Chủ Nhật này chúng ta thường nghĩ: “Chúa Thánh Thần ư? Mình đã giảng tuần trước rồi. Tuần này phải giảng về một chủ đề khác vậy.” Như vậy không đúng đâu. Tôi có thể nói về cùng một chủ đề và thậm chí lặp đi lặp lại cùng một chân lý căn bản, nhưng mỗi lần vẫn bằng một cách mới mẻ. Các bài giảng của các Chủ Nhật liên tiếp không phải là những bài nói chuyện tách rời nhau; chúng là những sự soi rọi từ các bản văn Thánh Kinh sống động diễn ra mỗi Chủ Nhật.
+ Những bài giảng tuyệt vời nằm trong khả năng của những người giảng thuyết vốn không phải là những diễn giả trứ danh
Sự chú ý ít được đặt trên người giảng, mà đặt trên Lời Chúa nhiều hơn. Tình yêu và sự tôn kính của chúng ta đối với Lời Chúa sẽ được người ta nhận thấy và sẽ phát huy hiệu quả. Tiêu điểm sẽ đặt trên sự soi sáng mà Thiên Chúa ban cho hơn là trên bài giảng hay người giảng. Điều quan trọng không phải là chuyện dân chúng có ấn tượng với bài giảng hay người giảng. Dân chúng có ấn tượng hay không với điều Chúa đang nói với họ, đấy mới là điều quan trọng hơn. Một bài giảng tốt sẽ đòi phải có những kỹ năng diễn thuyết căn bản, nhưng đây không phải là điều quá khó với nhiều người. Chúng ta không cần phải là những người có biệt tài kể chuyện hay những nhà hùng biện lỗi lạc.
+ Các bài giảng của chúng ta phải có thể được mở rộng
Khi chúng ta dùng bản văn Thánh Kinh như một ‘cái cớ’ cho điều gì đó chúng ta muốn nói, hay cho điều gì đó đánh động chúng ta trong cầu nguyện, thì mỗi người giảng thuyết – tuỳ vào tính khí, sở thích của mình – có khuynh hướng thiên về những đề tài mà mình tự nhiên thích: các mối tương quan liên vị, vấn đề công bằng xã hội, các giáo huấn giáo thuyết.
Đàng khác, nếu chúng ta khiêm tốn đứng trước bản văn và lắng nghe những gì Thiên Chúa nói với chúng ta xuyên qua khung cảnh này, chúng ta sẽ ít chọn những bài giảng mà sự giống nhau của chúng trong chủ đề là do xu hướng riêng của mình. Có những lúc, Chúa sẽ dẫn chúng ta đi đến những nơi mà chúng ta không muốn đi. (cf. Ga 21,19)
+ Chúng ta sẽ giảng trực tiếp hơn về Thiên Chúa, vềChúa Kitô, về Chúa Thánh Thần
Tôi thấy người ta thường nghĩ rằng trong các bài giảng, chúng ta tập chú tới Giáo Hội hơn là tập chú vào Chúa Giêsu Kitô và vào giáo huấn của Ngài. Chẳng hạn, hãy nhớ lại rằng rất thường người ta đặt câu hỏi kiểu như “Giáo Hội dạy về điều này điều nọ thế nào?” Ít khi người ta nói “Chúa dạy gì về điều này điều nọ?”(22)
+ Chúng ta sẽ giảng các chân lý căn bản của đức tinchúng ta
Thánh Kinh sẽ là người hướng dẫn của chúng ta (chứ không phải là một bàn đạp cho các ý tưởng riêng của mình). Thánh Kinh sẽ đưa ta vào những chiều sâu của các chân lý mạc khải, và tới những đáy sâu của đời sống con người. Nếu cứ để mặc ta chọn đề tài bài giảng theo ý riêng mình, thì một số chân lý nền tảng sẽ bị phớt lờ, hoặc bởi vì chúng quá rõ ràng hoặc bởi vì chúng quá khó.
Tôi tin rằng điều nói trên vẫn diễn ra đó đây và lúc này lúc khác. Chúng ta không giảng các chân lý nền tảng như về Thiên Chúa, Chúa Thánh Thần, ơn cứu chuộc, ơn sủng. Cách đây không lâu, tôi yêu cầu một nhóm học sinh tiểu học kể cho tôi nghe về Đức Giêsu. Các cô cậu ấy kể về sự kiện Giáng Sinh, về các phép lạ của Đức Giêsu, và về việc Ngài giúp đỡ người ta. Khi tôi thúc giục các em trả lời phải chăng Đức Giêsu là Thiên Chúa, tôi hết sức ngạc nhiên khi thấy đa số các em lắc đầu và nói “Không!” Phản ứng đầu tiên của chúng ta về chuyện này có lẽ là phiền trách các chương trình giáo lý. Nhưng còn việc giảng lễ của chúng ta thì không đáng bị phiền trách sao?
Một trong những vấn đề của Giáo Hội ngày nay, đó là chúng ta quá bận rộn tranh cãi về chuyện cho các em gái làm lễ sinh, chuyện sử dụng thứ ngôn ngữ bao hàm (bình đẳng giới), chuyện ai được gọi là một thừa tác viên mục vụ… trong khi đó chúng ta lại quên lãng các chân lý cốt yếu mà tất cả chúng ta đều nhất trí. (Đây là một lỗi mà các nhà giảng thuyết thuộc khuynh hướng quá khích – ‘fundamentalists’ – đã không mắc phải.)
+ Những bài giảng như thế thường sẽ đem lại hiệu quả về lâu về dài
Nói chung, những bài giảng loại này sẽ không gây ‘giật gân,’ khiến người ta phải trầm trồ. Chúng sẽ không nghe có vẻ thật độc đáo hay thật lưu loát. Hiệu quả của chúng sẽ đến từ từ, nhưng rất nền tảng, và nó đến từ việc không ngừng cởi mở đón nhận Lời Thiên Chúa - cũng khá giống với việc chuyên cần cầu nguyện bằng Thánh Kinh trong lectio divina. Và hiệu quả ấy sẽ rất mạnh mẽ, vì Lời Thiên Chúa đầy sức mạnh. Người ta sẽ bắt đầu lắng nghe các bài đọc một cách ân cần hơn. Người ta sẽ bớt bị cuốn vào bài giảng, thay vào đó họ bị cuốn nhiều hơn vào những tia sáng chiếu soi sâu xa trong linh hồn họ. Sự trân trọng của họ (đối với bài giảng) sẽ thường bộc lộ cách nhẹ nhàng nhưng bền lâu chứ không theo kiểu cuồng nhiệt nhất thời.
Hiệu quả của việc ăn uống đúng bài bản sẽ không được thấy rõ cách ấn tượng ngay sau ngày hay tuần lễ đầu tiên. Chỉ về lâu về dài ta mới cảm nhận được hiệu quả của chế độ ăn uống ấy. Điều tương tự cũng đúng với các bài giảng.
Một Ý Tưởng Cuối Cùng
Không phải khả năng của người giảng thuyết mà chính năng lực của Lời Thiên Chúa mới đem lại sức sống cho Giáo Hội và cho mỗi người tin. Kỹ năng của người giảng thuyết có dự phần, nhưng đó là một kỹ năng được sử dụng để trao Lời Chúa, chứ không phải để trao các ý tưởng của riêng mình.
Các vị hướng dẫn mục vụ mong muốn tác động và thay đổi cộng đoàn sẽ không cố gắng đạt điều đó bằng chính khả năng thuyết phục hay tài khéo của mình, cũng không bằng các chương trình, các qui chế, hay khả năng tổ chức, nhưng là qua việc thi hành cách đích thực tác vụ Lời hằng sống của Thiên Chúa – cho phép “bí tích” này dọi ánh sáng trên cộng đoàn và khơi trào sức sống.
Hãy tưởng tượng điều gì sẽ xảy ra nếu trong các nhà thờ trên khắp thế giới, năng lực tác động của Lời Thiên Chúa được buông lỏng để hành động với hết công suất.
Tại hội đường Capharnaum, Đức Giêsu đương đầu với một thần ô uế đang kêu la, và Ngài ra lệnh cho nó phải rời người kia. Nó rời đi. Dân chúng “hết thảy đều kinh ngạc và nói với nhau: ‘Lời ấy là thế nào?’”
Lời của Đức Giêsu là thế nào? Là tất cả. Đó là một Lời ân phúc có sức hoàn thành vượt trên mọi cố gắng riêng của chúng ta.
CHƯƠNG III: KHÔNG PHẢI LÀ BÀI GIẢNG
“Ông ấy giảng có duyên, thậm chí lôi cuốn,
nhưng mọi sự không đến từ ông ấy.
Tất cả đều là cắt và dán.”(23)
Một cách để nắm những gì chúng ta đã đề cập trên kia là đối chiếu nó với những phương pháp khác. Ở đây sẽ biếm hoạ 5 loại bài giảng dùng cách tiếp cận khác với việc “đi vào Lời hằng sống trong Thánh Kinh để nhận định điều Thiên Chúa đang nói với chúng ta ở đây và lúc này.”
1. Những bài giảng cũ được ‘hâm nóng’ lại trong lò vi ba
Tất cả chúng ta đều làm chuyện này. Chúng ta lấy một bài giảng cũ và không làm gì khác ngoài việc hâm nóng nó lại cho lần này.
Ở đây không có ý nói rằng ta không thể dùng bất cứ gì mình đã dùng trước đây, nhưng có một sự khác biệt giữa việc vận dụng những tia sáng trước đây và việc đơn thuần lặp lại một ‘show’ cũ.
Những lời hô hào ‘truyền giáo’ là một ví dụ. Không phải tất cả, song một số nhà giảng thuyết về ‘truyền giáo’ vẫn thường dùng cùng một số bài giảng trong nhiều tháng (ngay cả nhiều năm), và nối kết một cách nhân tạo với các bài đọc của ngày Chủ Nhật.(24) Sự lặp lại như vậy không phải là những bài giảng đúng nghĩa, nếu nhìn nhận rằng giảng là thi hành tác vụ Lời hằng sống của Thiên Chúa, Lời vốn luôn mới mẻ không chỉ cho dân chúng mà cả cho người giảng thuyết nữa.
2. Những câu chuyện bị ép vào bài giảng
Một số bài giảng không phải là bổn cũ soạn lại, nhưng chúng ví như món ăn được nấu không phải tại chính bếp này. Chúng đến từ nơi nào đó khác và được nối kết cách gượng ép với các bài đọc Thánh Kinh. Đó có thể là một chuyện phim hay mà chúng ta mới xem và có ý định dùng làm cốt cho bài giảng tuần này, ngay cả dù chúng ta chưa hề đọc qua các bản văn Thánh Kinh. Hay đó có thể là một bài nói chuyện được chọn trước mà không cần xem xét nội dung cụ thể của Lời Chúa.(25)
Dù kiểu gì đi nữa, những bài giảng như thế không đến từ “nhà bếp” này, nghĩa là, chúng không đến từ món ăn mà chính Chúa nấu trong các bài đọc Thánh Kinh này và trong khung cảnh cụ thể này. (26)
3. Những bài giảng chỉ bám hờ vào - chứ không thực sự tuôn chảy từ - các bài đọc Thánh Kinh
Có nhiều cách để các bài giảng chỉ bám hờ vào các bài đọc Thánh Kinh.
Chẳng hạn, điều này có thể xảy ra khi chúng ta cầu nguyện với bản văn Thánh Kinh của Chủ Nhật sắp tới. Việc cầu nguyện với Thánh Kinh cho phép người ta có nhiều tự do hơn để sử dụng một bản văn, nghĩa là có thể vượt xa khỏi ý nghĩa khách quan của bản văn ấy. Chúng ta đọc với tất cả tự do, chúng ta cho phép Chúa Thánh Thần hướng dẫn mình tới những ý tưởng được cảm hứng từ bản văn nhưng không nhất thiết nằm trong bản văn. Một từ hay một cụm từ nào đó ‘tóm’ lấy sự chú ý của chúng ta và làm nảy ra những ý tưởng kéo chúng ta đi theo một mạch cầu nguyện nào đó. Đây là một cách tốt để cầu nguyện, nhưng chúng ta cần nhớ sự khác biệt giữa việc cầu nguyện này và công việc của một người giảng thuyết là nhận định điều Thiên Chúa đang nói với tất cả cộng đoàn xuyên qua các bài đọc Thánh Kinh này.
Một cách khác để bài giảng bám hờ vào một bản văn Thánh Kinh, đó là khi chúng ta nhìn lướt qua các bài đọc (không nhất thiết là cầu nguyện bằng các bài đọc ấy) và bỗng chú ý cách riêng một điều gì đó có thể trao cho mình một ý chính để làm một bài giảng. Chẳng hạn, bài Tin Mừng có đoạn văn này:
Đức Giêsu bảo họ: “Hãy đến và xem.” Vậy họ đến và xem nơi Ngài ở… và họ ở lại với Ngài ngày hôm ấy. Lúc đó vào khoảng bốn giờ chiều. (Ga 1,38-39)
Chúng ta bỗng bị thu hút bởi chi tiết “bốn giờ chiều” này, và quyết định nói về cách người ta sử dụng thời gian trong thế giới bận rộn hôm nay. Mặc dầu sự đề cập về thời gian quả thực có trong bản văn này, ta vẫn không có cơ sở để nói rằng đó là chủ điểm của bản văn.(27)
4. Những bài giảng xây dựng trên một ý nghĩa được gán cho bản văn Thánh Kinh
Ý nghĩa “được gán” là một ý nghĩa được ta trao cho bản văn chứ không phải ý nghĩa hàm chứa trong bản văn một cách khách quan. Xét nhiều khía cạnh thì trường hợp này có liên hệ rất gần với trường hợp ở số 3 trên kia.
Chúng ta đọc trong Mác-cô: “Khi Đức Giêsu đi dọc biển hồ Galilê, Ngài trông thấy Simon và anh của ông là Anrê đang quăng lưới xuống biển” (Mc 1,16). Người ta có thể chợt nghĩ rằng từ “quăng” ở đây gợi liên tưởng đến việc quăng chính mình cho Chúa – thế là quyết định giảng một bài về thái độ tín thác và lòng trông cậy vào Chúa!
Trong khi loại “ý nghĩa được gán” ấy có thể có chỗ trong suy tư, suy niệm, thì người giảng thuyết không thể coi nó như điều Thiên Chúa đang muốn nói với toàn thể cộng đoàn. Trong một bài báo viết về ý nghĩa “được gán,” Raymond Brown liên hệ đến việc giảng thuyết như sau:
Các nhà giảng thuyết có thể gán ghép ý nghĩa một cách dễ dàng và muốn vận dụng sự gán ghép ấy thay vì cố gắng rút ra một sứ điệp thích hợp từ ý nghĩa của bản văn Thánh Kinh. Và như vậy là họ đang liều lĩnh thay thế lời của Thiên Chúa bằng sự khôn khéo của mình… Nhưng nói chung, một khi chúng ta đã nhận ra sự phong phú vô cùng của ý nghĩa bản văn Thánh Kinh, chúng ta sẽ tìm cách trung thành trình bày ý nghĩa ấy chứ không tìm cách gán ghép theo ý ta.(28)
5. Bài giảng lễ khác với một bài dạy ở lớp
Mọi bài giảng tốt đều có chức năng ‘dạy học’ trong đó, theo nghĩa rằng người ta có thể học được điều gì đó. Tuy nhiên, ở đây, chúng ta đang nói về các bài giảng lễ mà mục đích chính của chúng là chuyển đạt thôngtin về Thánh Kinh, về giáo thuyết hay về các thực hành của Giáo Hội.(29) Các bài đọc được chỉ định sẵn cung cấp những cơ hội tuyệt vời để lên lớp, và nếu chúng ta có ‘máu’ của một ông thầy, chúng ta thường muốn lợi dụng cơ hội để dạy người ta.
Chẳng hạn, vào Chủ Nhật 29 năm C, Bài Đọc II có câu “Tất cả sách thánh đều được linh hứng bởi Thiên Chúa” (2Tm 3,16). Câu này, nền tảng Thánh Kinh của giáo lý về linh hứng, có thể dễ dàng dẫn tới một bài nói chuyện giải thích về thế nào là linh hứng và thế nào là không phải linh hứng.
Tuy nhiên, nếu giảng lễ là thi hành tác vụ giúp cho điều Thiên Chúa đang nói chảy vào cộng đoàn ở đây và lúc này, thì chúng ta phải chống lại cái cám dỗ sử dụng bài giảng để dạy về Thánh Kinh, hay về giáo lý. Dù chúng ta có ‘dạy’ hay đến mấy đi nữa, thì cũng không thể đem lại hiệu quả bằng việc cho phép Lời ân phúc của Thiên Chúa hiện diện và tác động thực sự trên cộng đoàn.(30)
——————————————-
Cần ghi nhận rằng các kiểu giảng lễ nói trên không phải luôn luôn đưa tới một sứ điệp “dở” - sứ điệp, xét tự thân nó, có thể rất tuyệt vời. Vấn đề là những bài giảng như thế không rút năng lực từ Lời ân phúc của Thiên Chúa đang diễn ra bây giờ, Lời thật mới mẻ và dành cho mọi người. Những bài giảng như thế trở thành lời của chính chúng ta được nối kết với một phần của bản văn, chứ không phải là Lời của Thiên Chúa được lắng nghe từ toàn bộ khung cảnh thực tại.
CHƯƠNG IV: PHẦN MỞ ĐẦU BÀI GIẢNG
“Hãy bảo họ đi thẳng vào trọng tâm.” (31)
Điều đầu tiên phải nói về phần mở đầu (nếu hiểu phần mở đầu là mấy câu nói chuyên biệt dùng để bắt đầu), đó là các bài giảng lễ không cần phần mở đầu chi cả. Một số bài nói chuyện sẽ cần, nhưng các bài giảng lễ thì không cần. Hãy nhớ rằng cơ cấu phụng vụ Thánh Lễ vốn đã có một phần mở đầu rồi (nghi thức tập trung).
Trong các khoá học nói trước công chúng, người ta vẫn thường đề nghị việc lôi kéo sự chú ý, chẳng hạn kể một giai thoại nào đó…
Trong một bài giảng, lôi kéo sự chú ý là việc ít cần nhất. Mọi sự xảy ra trước bài giảng vốn đã lôi kéo sự chú ý rồi: người ta đứng lên, hát Allêluia, lắng nghe bài Tin Mừng, rồi người ta ngồi xuống, chờ nghe những tiếng đầu tiên của bài giảng. Như vậy, điều cần làm không phải là lôi kéo sự chú ý của người ta, mà đúng hơn là giữ cho được sự chú ý đang có sẵn.
Cách tốt nhất để giữ sự chú ý của người nghe là “đi thẳng vào trọng tâm.” Chúng ta thường chần chừ không đi thẳng vào trọng tâm, có lẽ bởi vì sợ rằng mình sẽ không còn gì để nói tiếp. Chúng ta cảm thấy mình nên đi vào trọng tâm cách nhẩn nha, từ từ. Nhưng nhiều người cho biết rằng họ muốn chúng ta đi nhanh hơn vào cốt lõi của bài giảng. Đây là một số ý kiến của họ:
• “Tôi thích cái cách vị linh mục ấy đi thẳng vào điểm chính của bài giảng.”
• “Tôi chán những kiểu nhập đề dông dài.”
• “Hãy vào thẳng.”(32)
• “Đừng dẫn chúng tôi đi lòng vòng.”
• “Cha sở thường mở đầu bằng một câu chuyện dài dòng, với những chi tiết không cần thiết.”
• “Ngài thường bắt đầu rất hay, dù ít khi có nối kết chặt chẽ với bài Phúc Âm. Rồi sau đó thì nghe chán phè.”
• “Ông cha đó luôn bắt đầu bài giảng bằng cách kể lại câu chuyện mà mọi người vừa mới nghe trong bài Tin Mừng. Thật là chán!”
Điều Chúng Tôi Đã Rút Tỉa Được
Trong các buổi làm việc về bài giảng của chúng tôi, chúng tôi ghi nhận 3 vấn đề liên quan tới cách bắt đầu bài giảng:
1. Quá luộm thuộm
Nhiều khi mấy câu đầu tiên của chúng ta yếu xìu, mềm nhũn, và đầy những yếu tố rườm rà không cần thiết. Người ta đang chăm chú chờ nghe những tiếng đầu tiên của bài giảng, thế mà chúng ta lại vật vờ…
Một số bài giảng giống như các ‘thủ tục’ cất cánh của một máy bay: chạy một hồi lâu trên đường băng, dần dần tăng tốc, rồi cuối cùng mới lao lên khỏi mặt đất. Hình ảnh cất cánh này nên áp dụng không phải cho bài giảng, mà cho nghi thức tập trung lúc đầu lễ: người ta lần lượt đến, dần dần qui tụ với nhau, rồi nâng hồn lên với Chúa trong bài hát nhập lễ.(33)
2. Quá dài
Tán chuyện lúc bắt đầu là điều dễ; và chúng ta thường làm thế. Nếu đó là một câu chuyện, chúng ta thường đắm chìm trong các chi tiết. Việc bắt đầu một cách dông dài sẽ làm mờ nhạt cái cốt yếu của sứ điệp và phung phí sự chú ý của người nghe vào lúc mà họ tập trung cao độ nhất. Điều quan trọng không phải là chiều dài của bài giảng, mà là sự sắc bén của nó.
3. Phần bắt đầu tách rời hẳn khỏi bài giảng
Nhiều khi phần bắt đầu được nối kết với phần còn lại của bài giảng một cách gượng ép; nó chẳng soi sáng gì cho ý tưởng chính của chúng ta. Nó không cần phần còn lại của bài giảng, và phần còn lại của bài giảng cũng chẳng cần đến nó. Cần xét xem cách ta bắt đầu có thực sự gắn khớp với bài giảng hay không. Nếu không, hẳn là nên loại bỏ nó.
Một Số Ví Dụ
Đây là một số trích dẫn từ phần bắt đầu của một số bài giảng thực:
Như anh chị em biết, cuối tuần rồi tôi vắng nhà. Tôi đã dành ít ngày viếng thăm mấy người bạn tốt của tôi ở Chicago. Có người gợi ý với tôi về chuyện chơi đánh gôn. À, thực ra chuyện này không có chi đáng nói; tôi sẽ cho thấy tại sao tôi lại nhắc đến ở đây. Không phải tôi muốn khoe khoang về điều gì đâu. Nhưng tôi thấy rằng một trong những điều chúng tôi đã làm chắc chắn phản ảnh bài Phúc Aâm mà chúng ta nghe tuần này, và tôi hy vọng có thể chuyển đạt cái ấn tượng đó cho anh chị em. Số là, vào tối Chủ Nhật, ba anh em chúng tôi lái xe tới …
Bản văn đã được biên tập:
Vào tối Chủ Nhật, ba anh em chúng tôi lái xe tới. ..
Ví dụ khác:
Chủ Nhật vừa rồi, và gần trọn hai ngày Thứ Hai và Thứ Ba, tôi đi lên miền bắc với vài người bạn mà tôi đã quen biết từ nhiều năm; và mặc dù băng đóng không dày, vẫn có những người đi câu cá dưới băng. Thật thú vị. Tôi bước ra ngoài cửa, lúc bấy giờ là chiều tối, tôi gặp thấy vài người đàn ông và mấy đứa trẻ đi câu về. Tôi lên tiếng: “Chào các bạn. Câu được nhiều cá không?” Họ trả lời: “Không khá lắm. Chúng tôi chỉ bắt được vài con cá nhỏ.” Cách đây ít tuần, một số người ở miệt dưới – gồm hai cha con và một người đàn ông khác nữa, tôi không nhớ rõ là còn ai khác nữa không – đã đi câu cá suốt cả tuần, và hầu như đã chẳng bắt được gì ngoại trừ vài con cá nhỏ xíu. Những người đánh cá trong bài Phúc Âm hôm nay cũng vậy…
Bản văn đã được biên tập:
Vừa rồi tôi lên miền bắc, và người ta ở đó đang đi câu cá dưới băng. Chiều tối hôm ấy, mấy người câu cá đang trở về nhà, ngang qua chỗ tôi, tôi hỏi họ: “Câu được nhiều không?” Họ đáp: “Tệ lắm. Chỉ vài con cá nhỏ.” Những người đánh cá trong bài Phúc Âm hôm nay cũng vậy…
Ví dụ khác:
Tất cả chúng ta đều biết rằng thay đổi là điều rất khó. Và tôi nhận ra rằng càng cao tuổi thì dường như càng khó thay đổi hơn, nhưng đó là sự thực. Tôi nghĩ rằng ai cũng có khuynh hướng nhận thấy rằng sự thay đổi – ít nhất là nhiều loại thay đổi – thật là khó. Thế mà, thật là lạ bởi vì trong quãng đời của mình, trong thời đại này, chúng ta đã phải trải qua nhiều thay đổi hơn toàn thể nhân loại đã từng trải qua trong cả lịch sử. Vì thế thay đổi là một điều thường hằng đối với chúng ta, dù nó có thể khó khăn. Các bài đọc hôm nay nói với chúng ta rằng sự thay đổi…
Bản văn đã được biên tập:
Thay đổi là điều khó. Càng cao tuổi, dường như tôi càng khó thay đổi hơn. Thế nhưng thật lạ là trong đời mình chúng ta đã trải qua nhiều thay đổi hơn bất cứ ai đã từng trải qua trong lịch sử. Các bài đọc hôm nay nói với chúng ta rằng sự thay đổi…
Ví dụ khác:
Thật vui được trở lại với anh chị em hôm nay. Cha Bill đã quảng đại cho phép các phó tế chúng tôi nghỉ tháng bảy này, vì thế tôi được gặp lại anh chị em ở đây. Mà này, vào Thánh Lễ 5 giờ chiều hôm qua, tôi bất chợt nhận ra Cha Bob, người cao nghều, và tôi chắc chắn biết Mutt và Jeff thích cái gì trên đời này, cả Cha Bill nữa. Thật vui có mặt lại với anh chị em mặt đối mặt hôm nay. Và mặc dù chúng tôi đã hứa với Cha Bob rằng chúng tôi sẽ giúp ngài trong bất cứ việc gì chúng tôi có thể giúp… nhưng chính anh chị em sẽ giúp ngài cải thiện khả năng đánh gôn của ngài đấy nhé.
Trong các bài đọc hôm nay chúng ta nghe về tính đại đồng của tình yêu, lòng thương xót, và sự săn sóc của Thiên Chúa đối với mọi người. Điều này nhắc tôi nhớ lại hai tuần lễ diễn ra Olympic cách đây ít tuần: Thật tuyệt vời biết bao tính đại đồng của tinh thần thượng võ…
Bản văn đã được biên tập:
Tôi nhớ những cuộc thi đấu Olympic cách đây ít tuần, thật tuyệt vời biết bao tính đại đồng của tinh thần thượng võ…
Mấy Điều Cần Nhớ
1. Khi soạn một bài giảng, đừng bắt đầu với phần mở đầu
Phần gay go nhất của việc soạn một bài giảng chính là việc viết những chữ đầu tiên. Đừng phí thời gian để cố viết phần mở đầu. Làm thế chẳng khác chi một tác giả bắt đầu viết một quyển sách bằng phần Lời Tựa.
Tốt hơn hãy bắt đầu ở giữa bài giảng, bằng cách phác hoạ ý tưởng chính. Bạn sẽ nói gì ở đầu bài giảng, điều này sẽ từ từ tính sau; nhưng đừng quên rằng… phúc cho nhà giảng thuyết nào đi thẳng vào chủ đề ngay từ đầu bài giảng.
2. Đừng dùng những lối bắt đầu trịnh trọng
Ở đây tôi muốn nói đến dấu Thánh Giá, hay kiểu mở đầu như “Anh chị em thân mến trong Chúa Kitô,” hay “Trọng kính Đức Hồng Y, Đức Tổng Giám Mục, Đức Cha XYZ, quí Đức Ông, quí Cha,” vv.
Những kiểu mở đầu như thế cho thấy người giảng lễ không ý thức sự kiện rằng Thánh Lễ vốn đã có một nghi thức mở đầu rồi. Chúng cũng in đậm ấn tượng rằng bài giảng là một bài nói chuyện tách biệt chứ không phải là một phần của dòng chảy phụng vụ.(34)
3. Đừng làm cho phần bắt đầu hay hơn phần còn lại của bài giảng
Phát biểu như vậy là có pha trò. Điều tôi thực sự muốn nói là: “Bạn hãy làm cho phần còn lại của bài giảng cũng hay như phần mở đầu.” (Điều này trở nên rất khó nếu phần mở đầu thuộc loại chuyện giật gân lôi kéo chú ý và không thực sự có mối nối kết với phần còn lại của bài giảng. Khi chúng ta thực sự bước qua bài giảng, thì người nghe vẫn còn đang thưởng thức cái dư vị của phần mở đầu vốn không có mối liên lạc kia.)
Sẽ là tai hoạ cách riêng, nếu sau một sự bắt đầu có vẻ hấp dẫn, chúng ta nói: “Như chúng ta vừa nghe trong Bài Đọc I / bài Tin Mừng …” Người ta hiểu đây là tín hiệu cho biết bài giảng đã chuyển sang phần buồn chán của nó.(35)
4. Đừng bắt đầu bằng cách kể lại câu chuyện của bài Phúc Âm
Lặp lại câu chuyện của bài Phúc Âm là một điều được thấy khá phổ biến. Và việc này không hay ho gì, thậm chí gây chán nản. Cần dứt khoát tránh sự lặp lại này, không chỉ ở lúc bắt đầu mà ở bất cứ chỗ nào trong bài giảng. (Chúng ta sẽ nói kỹ hơn về chuyện này ở Chương 26, khi đề cập đến “Mười Con Quỉ.”)
5. Đừng bắt đầu bằng cách kể lòng vòng những gì xảy ra chung quanh việc bạn chuẩn bị bài giảng này
Lòng vòng như vậy là kiểu ‘cà lăm’ của những người quá bối rối hay quá vụng về khi nói trước công chúng. Hãy tưởng tượng Tom Brokaw (người dẫn chương trình thời sự truyền hình nổi tiếng) đi nghỉ hè, và một anh chàng không chuyên tạm thay chỗ của Tom. Anh chàng này bắt đầu bản tin bằng những lời như sau: “Thưa quí vị, khi tôi được đề nghị phụ trách giới thiệu bản tin thời sự tối hôm nay, ý nghĩ đầu tiên của tôi là nên chọn câu truyện gì để mở đầu. Rồi khi tôi bắt đầu xem qua các nội dung của chương trình, tôi bỗng nghĩ rằng mình nên bắt đầu bằng loại truyện ít được vận dụng nhất. Thế nhưng, rồi tôi lại suy nghĩ thêm và cuối cùng quyết định rằng cách tốt nhất để bắt đầu chương trình là…”
Thế đấy! Và điều tương tự cũng thường xảy ra với các bài giảng. Những người nghe giảng lẩm bẩm: “Chúng tôi đến đây không phải để tìm hiểu xem ngài cảm thấy thế nào khi ngài nhận được lời mời giảng, cũng không phải để tìm hiểu xem điều gì xảy ra khi ngài đang chuẩn bị bài giảng. Điều chúng tôi muốn nghe đó là chính bài giảng.”
—————————————–
Có thể tóm lại thế này: Bài giảng là một sự nối tiếp dòng chảy Lời ân phúc của Thiên Chúa. Sự bắt đầu bài giảng không được làm nghẽn dòng chảy này. Một câu chuyện tếu, một lời pha trò, những kể lể về cách tôi phản ứng khi được yêu cầu giảng, hay một công thức “kính thưa” trịnh trọng nhắc đến đủ mọi loại người đang có mặt – tất cả đều làm khựng dòng chảy đang diễn ra. Lời Chúa đang chảy, và cần được giữ để tiếp tục tuôn chảy.(36)
CHƯƠNG V: PHẦN KẾT BÀI GIẢNG
Kết thúc một bài giảng cũng giống như bước ra khỏi một chiếc ca-nô.
Trong đa số các bài giảng, phần kết là phần thường ít được chuẩn bị nhất, đến nỗi tôi thấy cần phải nhấn mạnh qui tắc này: “Đừng bắt đầu một bài giảng nếu bạn chưa biết mình sẽ nói gì trong hai câu cuối cùng.”
Chúng ta thường ảo tưởng rằng bài giảng sẽ tự nó kết thúc. Nói cho cùng, chúng ta biết các ý tưởng của mình sẽ chấm dứt ở chỗ nào, và chúng ta nghĩ rằng khi đến chỗ ấy thì mình chỉ cần làm một việc đơn giản là “chấm dứt,” thế thôi. Nhưng thực tế thì không đơn giản như vậy. Kết thúc một bài giảng là một công việc đầy cạm bẫy, giống như việc bước ra khỏi một chiếc ca nô vậy.
Một lớp học sẽ tự động chấm dứt khi hết giờ. Chúng ta chỉ cần gấp giáo trình lại và nói: “Thôi, hôm nay ta dừng ở đây nhé. Ngày mai sẽ tiếp.”
Nhưng chúng ta không thể kết thúc một bài giảng lễ kiểu đó, vì bài giảng là một phần của phụng vụ và nó thuộc một cơ cấu nghi lễ. Chúng ta phải kết thúc bài giảng một cách êm xuôi; khổ nỗi, nhiều khi loay hoay tìm cách kết thúc êm xuôi, ta lại kéo bài giảng đi lòng vòng!
Một kết thúc tồi tệ có thể làm hỏng cả một bài giảng hay. Điều này thật đáng trách, bởi vì nếu ta không khinh suất, thì điều tệ hại ấy đã không xảy ra.
Chắp Cánh Cho Phần Kết?
Mày mò xoay xở một phần kết thúc không được chuẩn bị trước thì cũng giống như đi vào trong một căn nhà ma mà không có đèn rọi. Những con ma ẩn núp ở đó sẽ sẵn sàng nhảy bổ ra: con ma nói lặp đi lặp lại, con ma nói lãng xẹt, con ma nói một ý mới…
Nói ‘cương’ ở phần kết thúc là điều đáng sợ nhất trong nhiều bài giảng. Như một giáo dân nhận xét: “Thật là khổ sở khi nhìn ông ấy loay hoay để chấm dứt.”(37)
Ý Kiến Phản Hồi Từ Dân Chúng
Ý kiến thu thập được về phần kết thúc thì nhiều hơn cả về phần mở đầu, và những ý kiến này tập trung vào cùng một số mối quan tâm:
• “Điều tôi thích nhất nơi cách giảng của cha sở là ngài kết thúc bài giảng rất gọn gàng chứ không vòng vo tam quốc.”
• “Nhiều khi chúng tôi biết ông ấy đã nói hết các ý rồi, nhưng điều đó không có nghĩa rằng ông ấy ngừng. Mọi người đã ngừng lắng nghe, nhưng ông ấy thì cứ tiếp tục đi lòng vòng.”
• “Ồ, tôi ước chi các bài giảng được kết thúc một cách gọn gàng.”
• “Tôi bực nhất với những kết thúc giả. Cha sở cứ nói ‘Tóm lại’ nhưng rồi ngài lại lấy hơi để nói tiếp những điều gì đó khác nữa.”
Mấy Điều Cần Nhớ
1. Viết ra phần kết của bài giảng không phải là việc quá khó
Viết phần kết không khó như khai triển ý tưởng chính (thế mà việc khai triển này chúng ta đã làm rồi). Chúng ta không phải bắt đầu từ một mớ lộn xộn và không phải sáng tạo ra một phần kết thúc như thể từ trên trời rơi xuống. Tất cả điều chúng ta phải làm là đúc kết một cách rõ ràng điều mình đã nói.
2. Phần kết có thể rất ngắn
Nói chung, càng ngắn càng tốt: Những kết thúc tốt nhất là những kết thúc gọn gàng và dứt khoát. Mới đây tôi có tham dự một Thánh Lễ dành cho một nhóm tu sĩ. Vị linh mục giảng thuyết đã có một ý tưởng chủ đạo và đã trình bày rất tốt. Rồi ngài ngừng lại, đưa hai tay về phía cộng đoàn, và nói: “Đó là chứng tá đời sống của các bạn, và chúng tôi rất biết ơn các bạn.”
Chỉ có một câu thôi. Và đó là một kết thúc tuyệt vời.
3. Đừng nói rằng bạn sắp kết thúc khi bạn không đang kết thúc
Hồi tôi 15 tuổi, tôi là người chỉ huy của một đội chèo thuyền gồm 8 tay chèo trên sông Detroit. (Người ta muốn một ai đó nhẹ cân, giống như một nài ngựa trong môn đua ngựa, vì thế đôi khi người chỉ huy trẻ tuổi hơn nhiều so với đội chèo.) Chúng tôi tập luyện bằng cách mỗi ngày chèo khoảng 4 hay 5 dặm. Lần nọ, chúng tôi đang chèo ngon trớn thì cần dừng lại để nghỉ giải lao; nhưng trước khi dừng tôi muốn cả đội dồn sức để chèo 10 sải mạnh nhất, như làm một cú nước rút. Tôi bắt đầu hét để ra hiệu lệnh: “Chèo thật đều, MỘT. Chèo thật đều, HAI…” Mọi người làm tốt đến nỗi tôi cao hứng quyết định kéo dài quá số 10: “Chèo thật đều, MƯỜI MỘT. Chèo thật đều, MƯỜI HAI…”
Bạn biết đó, một đội chèo không thể dừng trừ phi tất cả họ dừng cùng một lúc. Do chiếc thuyền đang lao đi rất nhanh, do tất cả họ đang nhịp nhàng bật ngửa người ra sau rồi đổ rạp người tới trước theo mỗi nhịp chèo, và do những mái chèo ấy rất dài, sẽ chắc chắn xảy ra tai nạn nếu tất cả họ không dừng cùng một lúc. Vì thế, họ phải tiếp tục chèo cho đến khi tôi cho mệnh lệnh dừng.
Mọi người đều rất mệt, như không còn hơi để nói. Nhưng họ cũng gắng vừa thở vừa nói với tôi: “Này, chú nhóc. Chú mày bảo sẽ làm 10 sải nước rút, và bọn này vắt hết sức để chèo 10 sải ấy, nhưng rồi chú mày lại cho chèo tiếp. Cứ thử lặp lại cái trò lừa này lần nữa đi, bọn này sẽ quăng chú mày xuống sông đấy.”
Tôi cố ghi nhớ điều này trong liên hệ với các bài giảng: Đừng bao giờ nói rằng (hay tỏ vẻ rằng) bạn sắp chấm dứt và rồi bạn không chấm dứt.
4. Bước vào phần kết, nếu bạn chợt có ý muốn ghi nhận thêm hay làm sáng tỏ thêm điều gì đó, hãy dứt khoát xua đuổi nó khỏi tâm trí bạn
Khi bạn đang ‘hạ cánh’, nếu có bất cứ ý tưởng nào nảy ra thêm, bạn đừng cố ‘móc’ nó vào. Người ta sẽ cảm nhận được điều gì đang diễn ra và họ sẽ khó chịu, họ sợ rằng ý tưởng này sẽ dẫn tới một ý khác, rồi một ý khác nữa… như một phản ứng hạt nhân.
Có lần để kết thúc bài giảng của mình về sự cần thiết phải sống triệt để Phép Rửa, tôi đã nói như sau:
Tất cả chúng ta cần có can đảm để thực thi cái quyết định mà mình đã đưa ra khi lãnh nhận Phép Rửa… hay cái quyết định mà ai đó đã đưa ra thay cho chúng ta.
Mệnh đề cuối cùng trên đây đã không được chuẩn bị trước – và nó mở ra một ý tưởng hoàn toàn mới. Tôi muốn làm sáng tỏ nó bằng một sự giải thích, chẳng hạn nói thêm rằng “Vâng, dĩ nhiên những ai trong chúng ta lãnh Phép Rửa khi còn bé thì chúng ta đã xác nhận cái quyết định ấy trong Bí Tích Thêm Sức của mình, và chúng ta cũng xác nhận như thế mỗi lần tiến lên rước lễ.” Nhưng rồi cuối cùng tôi đã tự kiềm chế, quyết định không sửa chữa một lỗi này bằng một lỗi khác; tôi cứ để bài giảng kết thúc như vậy, và ước giá chi mình đã không thêm cái ‘đuôi’ thừa như thế.
5. Một trong những cách tốt nhất để kết thúc là dùng một câu trích dẫn ngắn
Một câu trích ngắn có cái lợi là nó không cần nói thêm bất cứ gì nữa cả. Chính nó là câu kết thúc. Câu trích dẫn làm cho bài giảng kết thúc một cách gọn gàng và có duyên.(38)
6. Đừng kết thúc bằng cách áp đặt cho người ta một ứng dụng thực tiễn
Tôi rất bất ngờ khi nghe một người nhận xét như sau:
Các vị giảng thuyết sau khi đã trao cho chúng tôi món quà là một ý tưởng hay thì đừng gói món quà đó lại. Hãy để chúng tôi tự gói bằng giấy gói quà của mình – nghĩa là, hãy để chúng tôi áp dụng vào hoàn cảnh thực tế đời thường của mỗi chúng tôi.
Mục đích của bài giảng là trao cho người ta một cái gì đó, là cung cấp cho người ta chất liệu để suy tư, chứ không phải cung cấp một dự án để hành động. Một trong những điều tốt đẹp nhất mà chúng ta có thể làm là trao cho người ta một ý tưởng mở – như Đức Giêsu vẫn thường làm với các dụ ngôn của Ngài.(39)
7. Vì bài giảng là một phần của phụng vụ (chứ không phải một bài nói chuyện chen vào lúc phụng vụ tạm nghỉ giải lao!) nên nó phải dẫn vào phần phụng vụ tiếp theo sau nó
Nếu ta không nên bắt đầu bài giảng kiểu như một máy bay cất cánh, thì ta cũng không nên kết thúc bài giảng theo kiểu một máy bay hạ cánh. Phần ‘hạ cánh’ là lời “Chúc anh chị em ra về bình an” ở cuối Thánh Lễ. Còn bài giảng của chúng ta là một giai đoạn ở giữa ‘chuyến bay’; sau bài giảng, ‘chuyến bay’ vẫn còn tiếp tục.
Cha Jerry Broccolo luôn nhấn mạnh rằng một bài giảng phải dẫn vào lời kinh ca ngợi. Cha John Melloh dùng cách diễn tả khác, ngài nói rằng bài giảng phải luôn luôn để lại cho người ta “một tâm tình Thánh Thể,” nghĩa là đưa dẫn người ta một cách tự nhiên vào phần phụng vụ dâng lễ. Bài giảng của chúng ta rốt cục phải gợi cho người ta tâm tình tạ ơn Thiên Chúa. Ngay cả khi đó là một bài giảng nhấn vào việc hoán cải, nó cũng phải bao hàm tin mừng rằng Thiên Chúa ban cho ta ơn sủng giúp ta thay đổi.
————————————–
Phần kết thúc bài giảng là phần dễ vướng trục trặc nhất so với các phần khác. Vì thế bạn hãy luôn tâm niệm điều này: “Đừng bao giờ bắt đầu một bài giảng nếu bạn chưa biết mình sẽ nói gì trong hai câu cuối cùng.”
———————
(1) Bạn đọc có thể muốn tự mình thí nghiệm việc này. Rất dễ làm trong bất cứ khung cảnh thân mật nào. Chỉ cần hỏi “Nè, cậu thích nhất hay ghét nhất điều gì về bài giảng lễ?” Câu hỏi ấy có thể mở ra cả một cuộc chuyện…
(2) Các linh mục được lấy phiên theo thứ tự A,B,C… với một vài điều chỉnh để có được tính hỗn hợp trong các nhóm.
(3) Chúng tôi không nghe lại các băng ghi âm trong 2 tiếng đồng hồ này. Vì điều đó sẽ tốn nhiều thời gian. Chúng tôi đã có các ghi chú khi nghe các băng ấy trước đó, và chúng tôi cũng có sẵn các bản văn của mỗi bài giảng.
(4) Có người sẽ thắc mắc tại sao chúng tôi không dùng băng vidéo thay vì băng audio. Vidéo có một số lợi điểm, nhưng việc thực hiện, việc nhân bản và việc xem băng vidéo sẽ trở thành phức tạp. Chúng tôi không muốn điều tốt nhất trở thành địch thủ của điều tốt. Như Chesterton nói: “Nếu một việc gì đó đáng làm, thì nó đáng làm một cách không hoàn hảo.”
(5) Ở buổi gặp đầu tiên của mỗi nhóm, bài giảng của tôi luôn luôn là “nạn nhân” đầu tiên. Nhà biên tập và tôi hiểu ngầm với nhau rằng bài giảng của tôi sẽ được mổ xẻ cách “tàn bạo” nhất. Điều này thường giúp đánh tan mọi ức chế trong nhóm để có được bầu khí chân thành, thẳng thắn.
(6) Cũng nên nhớ rằng viên phi công kiểm tra này được bầu chọn vào vai trò của mình do chính các phi công đồng sự.
(7) Khi kết thúc buổi làm việc cuối cùng của mỗi nhóm, tôi yêu cầu mọi người cho ý kiến phản hồi về cả tiến trình. Việc này diễn ra rất tích cực và rất hữu ích. Nói chung mọi người đều đồng ý rằng sự thành công hệ tại ở 3 yếu tố chính: (1) công việc phải có tính bắt buộc; (2) các băng ghi âm phải ghi những bài giảng thực tại giảng đài; (3) người hướng dẫn nhóm phải là một người giảng thuyết thường xuyên và phải nộp băng ghi âm của mình để được mổ xẻ như mọi thành viên khác.
(8) Nhóm giảng thuyết của chúng tôi làm việc tốt nhất khi mọi người ăn nói thẳng thắn với nhau. Quyển sách này là một câu chuyện nói thẳng dành cho những người giảng thuyết có kinh nghiệm. Những người lọc lõi có thể tự quyết định mình nhắm đến mục tiêu gì. Nếu có lúc nào tôi có vẻ như đang đề ra những nguyên tắc tuyệt đối, thì xin nhớ rằng chúng chỉ được đề ra như vậy để khẳng định giá trị của chúng. Sứ vụ giảng thuyết là một nghệ thuật, và không có nhiều nguyên tắc tuyệt đối trong nghệ thuật.
(9) Fulfilled in Your Hearing (1982), do Uỷ Ban về Đời Sống và Chức Vụ Linh Mục của NCCB xuất bản, tr. 10-11. Xin xem thêm “The Interpretation of the Bible in the Church,” xuất bản 1993, do Uỷ Ban Giáo Hoàng về Thánh Kinh. “Các môn đệ đầu tiên của Đức Giêsu biết rằng họ không có khả năng hiểu ngay lập tức toàn bộ thực tại của những gì mà họ nhận lãnh trong tất cả các khía cạnh của nó. Khi họ kiên trì trong đời sống cộng đoàn, họ kinh nghiệm một sự sáng tỏ ngày càng hơn về mạc khải mà họ nhận lãnh. Họ nhận ra ở đây ảnh hưởng và tác động của “Thần Khí sự thật” mà Đức Kitô đã hứa cho họ, để dẫn dắt họ đến sự thật toàn vẹn (Ga 16,12-13). Cũng vậy, Giáo Hội hôm nay tiến về phía trước, dựa trên lời hứa của Đức Kitô: “Đấng Bàu Chữa, là Thánh Thần mà Cha Thầy sẽ gửi đến nhân danh Thầy, sẽ dạy anh em mọi điều và sẽ làm cho anh em nhớ lại những gì Thầy đã nói với anh em.” (Ga 14,26)
(10) Cf. Brown, The Gospel According to John, Anchor Bible, vol. 29 (New York: Doubleday, 1966, tr. 1141-2).
(11) Các văn kiện của Giáo Hội nêu rất rõ về điều này. “Bài giảng lễ, vì thế, phải được trân trọng như một phần của chính phụng vụ.” (Hiến Chế về Phụng Vụ, 52) Đây không phải là một thông tin mới đối với đa số các nhà giảng thuyết. Điều mới mẻ có lẽ là tất cả những hàm ý của nó.
(12) Huấn Thị Tổng Quát về Sách Lễ Rôma nói như sau về Kinh Nguyện Thánh Thể: “Vị linh mục… hiệp nhất (dân chúng) với chính ngài trong lời nguyện mà ngài nhân danh họ để dâng lên Chúa Cha nhờ Đức Giêsu Kitô.” (54)
(13) Ý thức về sự khác biệt này sẽ giúp ích rất nhiều cho việc cử hành cả Kinh Nguyện Thánh Thể lẫn bài giảng.
(14) Trong quyển sách “bestseller” của mình mang tựa đề Inner Simplicity, Elaine St. James nói về việc tạo lập một cung thánh cho riêng mình: “Đó có thể là phòng riêng của bạn, hay thậm chí là một góc phòng… Đây sẽ là nơi để bạn suy niệm, chiêm ngắm, thinh lặng một mình, suy tư, đọc, chữa lành mình, viết nhật ký… Hãy làm bất cứ gì bạn cần làm để biến chỗ ấy trở thành đặc biệt và thiêng thánh.” (New York: Hyperion, 1995, tr. 65-66). Chúng ta nên có một không gian như vậy - và bài giảng cũng sẽ được dọn ở đó.
(15) Định nghĩa một bài giảng có thể trở nên rất trừu tượng và phức tạp. Tôi thấy có thể hiểu nó cách cụ thể hơn bằng cách hỏi: “Đâu là vai trò của người giảng lễ?”
(16) Những ai phụ trách việc tuyển chọn và cử hành các bài hát trong phụng vụ cũng thuộc số những người cần cẩn trọng lưu tâm đến điều này. Các giáo dân tham gia vào việc chọn lựa thánh nhạc (chẳng hạn, cho lễ cưới, lễ tang) thường cần học hỏi những điều căn bản này trước khi đi sâu vào những vấn đề chuyên môn.
(17) Đặc tính “sống động” của Lời Chúa trong phụng vụ được dạy rõ ràng trong Hiến Chế Phụng Vụ của Vatican II và trong Huấn Thị Tổng Quát về Sách Lễ Rôma:
“Đức Kitô hiện diện trong Lời của Ngài, vì chính Ngài lên tiếng khi Thánh Kinh được đọc trong Giáo Hội.” (PV 7)
“Khi Thánh Kinh được đọc trong Giáo Hội, chính Thiên Chúa nói với dân Ngài, và Đức Kitô, hiện diện trong Lời của Ngài, đang công bố Tin Mừng…” (Huấn Thị…, 9)
“Trong các bài đọc… Thiên Chúa đang nói với dân Ngài, mở ra cho họ mầu nhiệm cứu độ, và nuôi dưỡng tinh thần họ; Đức Kitô hiện diện với các tín hữu qua Lời của Ngài.” (Ibid., 33)
(18) Trong phần nói về Bánh Hằng Sống của Tin Mừng Gioan (chương 6), tiêu điểm đặt rất rõ trên Lời, và đó là một lời sống động. Đức Giêsu nói về chính Ngài là bánh “hằng sống” đến từ trời. (Cf. Brown, The Gospel According to John, Anchor Bible, vol. 29 [New York: Doubleday, 1966, tr. 255-304].)
(19) Người ta có thể hỏi “Tại sao cần có một bài giảng nhỉ? Tại sao không duy chỉ công bố Lời Chúa rồi ngồi xuống?” Bởi vì chúng ta tin rằng việc tiếp nhận Lời Chúa là một việc có thể được hỗ trợ. Chúng ta tin rằng Thiên Chúa hành động qua những người khác, trong trường hợp này thì đó là qua người giảng thuyết. Thừa tác vụ của người giảng thuyết là một phần quan trọng của truyền thống phụng vụ chúng ta.
(20) Bài giảng lễ là một cái gì còn hơn việc ứng dụng mặt ngoài một bản văn cổ vào khung cảnh hiện tại: Nó là một tác vụ trung thành của Lời Chúa nổi lên với ý nghĩa mới “cho chúng ta và cho ơn cứu độ của chúng ta”. Uỷ Ban Thánh Kinh Giáo Hoàng trong văn kiện năm 1993 mang tựa đề Giải Thích Thánh Kinh trong Giáo Hội đã nói về việc hiện tại hoá (nghĩa là khám phá điều mà bản văn nói trong hiện tại này) và hội nhập văn hoá (nghĩa là đặt bản văn vào bên trong một cộng đoàn cụ thể với nền văn hoá của nó).
Về hiện tại hoá: “Thật vậy, Giáo Hội không coi Thánh Kinh duy chỉ như một sưu tập các tài liệu lịch sử đề cập đến các nguồn gốc của mình; Giáo Hội đón nhận Thánh Kinh như Lời Thiên Chúa nói với chính mình và nói với thế giới tại thời điểm hiện tại này.” (số IV) “Việc hiện tại hoá rất cần thiết, bởi vì mặc dù sứ điệp của Thánh Kinh có giá trị trường cửu, các bản văn Thánh Kinh đã được biên soạn theo những hoàn cảnh của quá khứ và bằng loại ngôn ngữ rất hạn định bởi các thời kỳ. Để vén mở ý nghĩa của sứ điệp cho con người hôm nay, cần phải áp dụng sứ điệp ấy vào các hoàn cảnh hiện tại và trình bày nó bằng thứ ngôn ngữ của con người thời nay.” (số IV, A 1)
Về hội nhập văn hoá: “Hội nhập văn hoá không phải là một tiến trình một chiều; nó liên can đến việc “làm phong phú lẫn nhau”. Một đàng, các kho tàng chứa đựng trong các nền văn hoá khác nhau cho phép Lời Thiên Chúa sản sinh hoa trái mới, và đàng khác, ánh sáng của Lời Chúa giúp thực hiện một sự lựa lọc nào đó nơi các nền văn hoá: loại bỏ những yếu tố độc hại và thúc đẩy những yếu tố có giá trị.” (số IV B)
(21) Cf. chương 18, về nhu cầu phải có bản sắc riêng cho bài giảng
(22) Nhận xét về các cơ chế Kitô giáo trước thời Cải Cách, Pelikan nêu một ghi nhận mà tất cả các nhà giảng thuyết nên khắc cốt ghi tâm: “Thay vì làm những cửa sổ qua đó người ta có thể nhận được tia sáng nào đó của Vĩnh Cửu, chúng [tức các cơ chế Kitô giáo] đã trở thành mờ đục, và các tín hữu nhìn chúng hơn là nhìn xuyên qua chúng. Các cơ cấu của Giáo Hội được giả thiết phải hành động như những phương tiện thuộc linh- tức phương tiện cả của Thánh Thần Thiên Chúa lẫn của tinh thần con người… Bị kìm hãm trong các cơ chế Giáo Hội vốn không còn phục vụ như những kênh chuyển thông sự sống thần linh và như những phương tiện của ân sủng Thiên Chúa, năng lực thiêng liêng của Tin Mừng Kitô giáo phải được giải toả.” (J. Pelikan, Spirit Versus Structures: Luther and the Institutions of the Church [New York: Harper and Row, 1968, tr. 30])
(23) Một ý kiến phản hồi từ dân chúng.
(24) Nhưng hô hào “truyền giáo” không phải là ví dụ duy nhất. Còn có những bài giảng dự trữ sẵn cho lễ Thêm Sức, lễ cưới, vv. Đây thực sự không phải là những bài giảng, nếu chúng ta đồng ý rằng vai trò của người giảng thuyết là nhận định điều Chúa đang nói với cộng đoàn một cách sống động ở đây và lúc này, trong sự tương giao giữa các bài đọc Thánh Kinh và bối cảnh cụ thể.
(25) Có lần, trong tài liệu tôi nhận được cho ngày Chủ Nhật Tôn Trọng Sự Sống, có một bài giảng mẫu, kèm với lời chú thích rằng bài giảng ấy có thể được sử dụng bất cứ Chủ Nhật nào của tháng 10, vì người ta đã dọn sẵn 4 phần kết thúc khác nhau.
(26) Trong tác phẩm A Handful of Dust, Evelyn Waugh có một câu chuyện khôi hài về vị cha sở tại một làng người Anh - vị cha sở này vốn đã từng phục vụ nhiều năm ở Ấn Độ:
“Các bài giảng của cha đã được soạn vào thời trước, lúc cha còn trẻ trung, và đó là những bài giảng để giảng tại nhà nguyện của các binh lính; cha đã không làm gì để thích nghi chúng với các hoàn cảnh sứ vụ đã thay đổi của cha - và nói chung, bài giảng nào cũng kết thúc với sự qui chiếu về những “anh chị em thân mến” nào đó rất xa. Dân làng không ngạc nhiên mấy về điều này, bởi họ đã quen với sự kiện rằng ít có gì được nói trong nhà thờ là nhằm để nói riêng với họ.” (New York: Dell Publishing, 1965, tr. 33-35)
Về sau trong quyển sách, tác giả đề cập một trong các bài giảng lễ Giáng Sinh của vị cha sở: “Đó là một trong những bài giảng mà bổn đạo của cha gắn bó cách riêng. “Chúng tôi thật khó nhận ra rằng đấy là lễ Giáng Sinh. Thay vì những ánh lửa bập bùng của lò sưởi và những cửa sổ đóng chặt để chống lại những cơn gió tuyết, chúng tôi lại có ánh nắng chói chang của mặt trời ở xứ sở nào ấy; thay vì những khuôn mặt thân thương xúm xít nhau trong cuộc quây quần của gia đình, chúng tôi lại có những cái nhìn lạ lẫm của những thổ dân lầm lì, dù họ tốt bụng. Thay vì những con bò và những con lừa hiền lành của hang đá Bêlem, chúng tôi lại có con cọp đói và lạc đà, chó rừng, voi từ đâu đâu… Tony và đa số các vị khách của Tony cảm thấy rằng đó là một phần thiết yếu của lễ Giáng Sinh của mình. “Con cọp đói và con lạc đà xa xôi” kia từ lâu đã trở thành câu chuyện pha trò trong gia đình, trong các cuộc tụ tập vui chơi của họ.” (Op. cit., tr. 62-63)
(27) Một trong những dấu cho thấy chúng ta dùng bản văn theo cách này, đó là chúng ta ngừng đọc bài Tin Mừng ngay khi có được ý tưởng, chứ không đọc cho đến hết bài, cũng không cần xem các bài đọc khác.
(28) New Jerome Biblical Commentary, 71:79. Có thể nêu một ví dụ khác về “ý nghĩa được gán” rút từ Thông Điệp Redemptoris Mater của Đức Gioan Phaolô II khi ngài trích dẫn bản văn này từ Thư Côlôsê: “Sự sống của anh em được ẩn giấu với Đức Kitô trong Thiên Chúa.” (3,3) Ý nghĩa khách quan của bản văn là sự thông dự của các Kitô hữu với Đức Kitô Phục Sinh. Trong Thông Điệp nói trên, đức giáo hoàng trích bản văn ấy để khai triển suy tư của ngài về Đức Maria sống với Đức Giêsu trong những năm sống âm thầm tại Nadarét. Đây rõ ràng là một ý nghĩa được gán. Việc “gán” như vậy là điều được phép trong các suy tư, suy niệm, và trong văn mạch của Thông Điệp này, nhưng việc này không được phép trong các bài giảng lễ. (Cf. Fitzmyer, Louvain Studies 20 [1995, tr. 139-140].)
(29) “… các thừa tác viên của Lời Chúa có bổn phận chính yếu của mình, không chỉ là chuyển trao giáo huấn nhưng còn là giúp các tín hữu hiểu và nhận định điều mà Lời Thiên Chúa đang nói với họ, trong tâm hồn họ, khi họ nghe và suy tư các bản văn Thánh Kinh.” (Uỷ Ban Giáo Hoàng về Thánh Kinh, Việc Giải Thích Thánh Kinh Trong Giáo Hội, 1993, III B 3)
(30) Để minh hoạ sự khác biệt giữa dạy học và giảng lễ, hãy tưởng tượng bạn được mời giảng lễ cho một nhóm thần học gia và học giả Thánh Kinh tên tuổi. Phản ứng tự nhiên có thể là van xin thoái thác, hay ít là nơm nớp lo lắng. Nhưng tại sao? Một người có khả năng giảng thì có khả năng giảng cho những con người này chứ. Bạn không đang dạy họ (bạn khó có khả năng này). Bạn không đang viết một bài nói chuyện để họ phải thán phục. Bạn có các bài đọc Thánh Kinh. Bạn là thừa tác viên của những gì được chuyên chở trong các bài đọc ấy. Bạn là một anh chạy bàn. Thế thì bạn còn lo lắng về điều gì nhỉ?
(31) Tại một bữa ăn tối, người chủ nhà đề cập với một khách mời rằng tôi đang viết một quyển sách về việc giảng lễ, và hỏi xem vị khách có ý kiến gì không. Vị khách ngẫm nghĩ một chút rồi nói gọn lỏn: “Hãy bảo họ đi thẳng vào trọng tâm.”
(32) Ý kiến này, hầu như đúng từng từ, được nghe đi nghe lại rất nhiều.
(33) Có lẽ việc phóng một hoả tiễn là một hình ảnh tốt hơn để minh hoạ việc bắt đầu một bài giảng.
(34) Hãy ghi nhận câu trả lời của Thánh Bộ Bí Tích và Phụng Tự: “CÂU HỎI: Có nên mời tín hữu làm dấu Thánh Giá trước hay sau bài giảng? Có nên có một công thức chào họ, chẳng hạn: “Ngợi khen Chúa Giêsu Kitô” không? TRẢ LỜI: Tất cả tuỳ thuộc vào tập quán hợp lệ của địa phương. Nhưng nói chung, không nên tiếp tục những thói quen ấy, bởi vì chúng có nguồn gốc từ việc giảng ngoài Thánh Lễ. Bài giảng là một phần của phụng vụ; dân chúng đã làm dấu Thánh Giá và đã nhận lời chào ở đầu Thánh Lễ rồi. Vì thế, tốt hơn không nên lặp lại việc đó trước hay sau bài giảng.” (Notitiae 9 [1973] 178; Cf. Fulfilled in Your Hearing, tr. 23)
(35) Khi viết chương 17, về việc dùng từ, tôi đã xem lại các bản văn ghi bài giảng để tìm những ví dụ tích cực về ngôn ngữ cụ thể, sát đời sống. Thật đáng lưu ý là ngôn ngữ cụ thể chiếm tỉ lệ cao nhất ở các phần mở đầu bài giảng.
(36) Có một số ngoại lệ - đó là những lúc bạn phải làm một điều gì đó để “phá băng” bởi vì đó là một trường hợp mà nhiều người còn xa lạ đối với nhau (hay đối với bạn). Lý tưởng là có vài lời “làm quen” với cộng đoàn ngay trước khi Thánh Lễ bắt đầu; nhưng điều này không luôn luôn ở trong vòng kiểm soát của chúng ta.