CHÂN LÝ CỦA CHÚA JESUS KHÔNG THỂ BỊ CHINH PHỤC
Các thánh, các tiên tri và các nhà cải cách có thể kiên định đối với lời cam kết và sứ mệnh của họ như thế nào? Sự can đảm và bền chí của họ là gì? Thường họ phải chịu sự sỉ vả, giễu cợt, chê bai, bắt bớ, hành hạ, tra tấn và ngay cả cái chết. Những áp lực khủng khiếp này gây phương hại hoặc dẫn đến một hướng đi dễ dàng hơn.
Nhưng họ được chỉ bảo và hướng dẫn từ nguồn trợ giúp cao cả. Tri thức này đem đến cho họ dũng cảm và mạnh mẽ - và thậm chí vui mừng – trong những đấu tranh của họ. Nhiều tên tuổi nổi tiếng đã tự vấn trong lúc đau khổ, hoài nghi và cô đơn. Nhưng họ bền tâm vững chí và họ không thể làm gì khác. – yếu tính của Thiên Chúa đặt nơi trái tim nồng cháy của họ. Họ vẫn cưu mang sự sống loài người với tất cả những yếu đuối và sai lầm vốn luôn bám sát tính người của chúng ta. Sự khác nhau đó là họ biết nghe – và trong Kinh thánh cả hai “nghe” và “tuân phục” đều bắt đầu từ căn ngữ như nhau. Người ta phải lắng nghe nhiều hơn, và nhìn kỹ hơn để linh cảm bởi Thiên Chúa.
Điều này không chủ đích trực tiếp nói đến sự sống và “trong vẻ mặt bên ngoài của bạn” thuộc về những nhận xét, đánh giá, sự lên án và thành kiến cá nhân của riêng chúng ta và nó thường được che giấu trong ngôn ngữ tôn giáo. Nhận thức của chúng ta phải được tham gia với sự cởi mở và khôn ngoan, sáng suốt cũng như sự tư nguyện để được dẫn dắt. Gandhi đã nhấn mạnh rằng chân lý – khi sống cũng như khi biểu lộ - là một sức mạnh đặc trưng của nó mà không thể bị chinh phục, áp đảo. Thông điệp này từ Isaiah đã đem đến cuộc sống mới bởi thế hệ những người theo Chúa Jesus đầu tiên, vì họ đã được thuyết phục rằng điều này đã phô diễn một cách hoàn hảo qua cuộc đời của Người. Cuộc đời của Người là một điển hình về sự vâng lời, từ tốn và chấp nhận – cũng như hoàn toàn tuân phục về sự ngự trị Chúa Thánh Thần trong Người.
Sự mô tả tuyệt trần này về sự hy sinh hết thảy của chúa Ki-tô là một mô hình chuẩn mực đối với cuộc đời của một môn đệ Ki-tô giáo. Điều này có nghĩa từ chối và để cho đi tất cả (mọi thứ), nhất là đặc huệ, quyền năng, địa vị và sự thống trị. Nghe giọng nói của Cha, chúa Jesus đã vui lòng trước sự thử thách với tất cả những xuyên tạc của loài người về tôn giáo, xã hội và nhân loại. Người đã được đặt một cái tên và lòng tôn kính trên hết bất kỳ quyền lợi nào thuộc trái đất này – thậm chí đó là của Ceasar. Điều này là một thử thách trực tiếp đối với mọi người và mọi cách giễu cợt Thiên Chúa. Chúa Jesus cùng những thông điệp của Người là một lời răn đe để thiết lập trật tự và để rồi Người đã chết. Và khi thông điệp của Chúa Jesus được hòa hợp và nhuần nhuyễn với sự công khai của riêng mỗi chúng ta được giải phóng và cho phép để thực hiện việc làm của nó, một lần nữa nó là mối đe dọa tình trạng bị đổi trao.
Mỗi trong bốn người viết Kinh thánh trình bày sự chinh phục của Chúa Jesus khác với sự nhấn mạnh và trình bày theo quan điểm thần học. Với Mark, đó là sự từ biệt và buồn đau của Chúa Jesus khi Người phải đối mặt với những khổ hình trước cái chết của Người đã cướp đi những bạn bè, thân bằng quyến thuộc hoặc những môn đệ. Người hoàn toàn cô đơn. Đó là sự thất bại phàm nhân: có sự hèn nhát (Peter), phản bội (chủ yếu là Judas), và sự nhận định, giải thích sai lầm (hầu hết trong số họ). Khi chúa Jesus tiến dần đến số phận của Người một cách cương quyết. Hầu hết các môn đệ không có một manh mối về việc bắt giữ sắp xảy ra và việc xét xử, luận tội, mặc dù vài lần Người đã tỏ ra rõ số phận của Người cho họ. Thậm chí họ còn không hiểu mức độ sự tân tụy và tử tế của người phụ nữ vô danh khi nàng sức dầu thánh cho Chúa Jesus để mai táng Người.
Nhưng giữa những nhân chứng sai lầm, sự mua chuộc bằng tiền và tính tàn bạo ấy còn hy vọng. Nó được ẩn giấu trong Psalm 22, mà nhà truyền giáo dùng để rao giảng ý nghĩa mô tả của mình. Ông đã xếp đặt lời ngỏ của Thánh vịnh được Chúa Jesus thốt lên từ trên Thập giá: “Lạy Cha, Cha của con ơi, sao Cha nỡ bỏ con?” Nhiều người ném đá cùng với lời sỉ nhục của những kẻ qua đường tìm thấy được trong hình thức tường thuật của cuốn sách. Nhưng cũng có những bộc lộ thành kính tôn vinh và sự hiến dâng đến Thiên Chúa hòa quyện lẫn nhau xuyên suốt trong Thánh vịnh vì lòng nhân từ cao cả của Thiên Chúa trong quá khứ được hồi tưởng, vọng về. Bài Thánh vịnh kết thúc với một tột đỉnh ngợi khen và niềm tin cậy mà Thiên Chúa cậy trông và có thể toại nguyện niềm mong đợi.
Cảm xúc của mỗi chúng ta đều được phản ánh trong bài tường thuật và Thánh vịnh: người ta có thể cảm thấy như bị bỏ rơi và đầy ắp tuyệt vọng khi họ đối diện với sự đau đớn, chiến đấu, bi thảm và thất bại. Nhưng chúng ta cũng nên nhớ lòng trung thành và từ tâm của Thiên Chúa – chúng ta có thể đương đầu trước những đau đớn và chiến đấu, nhưng không bao giờ chúng ta bị bỏ rơi, lạc lõng, cô đơn. Những ai hy vọng và tin tưởng vào Thiên Chúa vì chưng không phài một thực hiện hão huyền. Điều này là niềm tin của Chúa Jesus và đó cũng là của chúng ta.
Các thánh, các tiên tri và các nhà cải cách có thể kiên định đối với lời cam kết và sứ mệnh của họ như thế nào? Sự can đảm và bền chí của họ là gì? Thường họ phải chịu sự sỉ vả, giễu cợt, chê bai, bắt bớ, hành hạ, tra tấn và ngay cả cái chết. Những áp lực khủng khiếp này gây phương hại hoặc dẫn đến một hướng đi dễ dàng hơn.
Nhưng họ được chỉ bảo và hướng dẫn từ nguồn trợ giúp cao cả. Tri thức này đem đến cho họ dũng cảm và mạnh mẽ - và thậm chí vui mừng – trong những đấu tranh của họ. Nhiều tên tuổi nổi tiếng đã tự vấn trong lúc đau khổ, hoài nghi và cô đơn. Nhưng họ bền tâm vững chí và họ không thể làm gì khác. – yếu tính của Thiên Chúa đặt nơi trái tim nồng cháy của họ. Họ vẫn cưu mang sự sống loài người với tất cả những yếu đuối và sai lầm vốn luôn bám sát tính người của chúng ta. Sự khác nhau đó là họ biết nghe – và trong Kinh thánh cả hai “nghe” và “tuân phục” đều bắt đầu từ căn ngữ như nhau. Người ta phải lắng nghe nhiều hơn, và nhìn kỹ hơn để linh cảm bởi Thiên Chúa.
Điều này không chủ đích trực tiếp nói đến sự sống và “trong vẻ mặt bên ngoài của bạn” thuộc về những nhận xét, đánh giá, sự lên án và thành kiến cá nhân của riêng chúng ta và nó thường được che giấu trong ngôn ngữ tôn giáo. Nhận thức của chúng ta phải được tham gia với sự cởi mở và khôn ngoan, sáng suốt cũng như sự tư nguyện để được dẫn dắt. Gandhi đã nhấn mạnh rằng chân lý – khi sống cũng như khi biểu lộ - là một sức mạnh đặc trưng của nó mà không thể bị chinh phục, áp đảo. Thông điệp này từ Isaiah đã đem đến cuộc sống mới bởi thế hệ những người theo Chúa Jesus đầu tiên, vì họ đã được thuyết phục rằng điều này đã phô diễn một cách hoàn hảo qua cuộc đời của Người. Cuộc đời của Người là một điển hình về sự vâng lời, từ tốn và chấp nhận – cũng như hoàn toàn tuân phục về sự ngự trị Chúa Thánh Thần trong Người.
Sự mô tả tuyệt trần này về sự hy sinh hết thảy của chúa Ki-tô là một mô hình chuẩn mực đối với cuộc đời của một môn đệ Ki-tô giáo. Điều này có nghĩa từ chối và để cho đi tất cả (mọi thứ), nhất là đặc huệ, quyền năng, địa vị và sự thống trị. Nghe giọng nói của Cha, chúa Jesus đã vui lòng trước sự thử thách với tất cả những xuyên tạc của loài người về tôn giáo, xã hội và nhân loại. Người đã được đặt một cái tên và lòng tôn kính trên hết bất kỳ quyền lợi nào thuộc trái đất này – thậm chí đó là của Ceasar. Điều này là một thử thách trực tiếp đối với mọi người và mọi cách giễu cợt Thiên Chúa. Chúa Jesus cùng những thông điệp của Người là một lời răn đe để thiết lập trật tự và để rồi Người đã chết. Và khi thông điệp của Chúa Jesus được hòa hợp và nhuần nhuyễn với sự công khai của riêng mỗi chúng ta được giải phóng và cho phép để thực hiện việc làm của nó, một lần nữa nó là mối đe dọa tình trạng bị đổi trao.
Mỗi trong bốn người viết Kinh thánh trình bày sự chinh phục của Chúa Jesus khác với sự nhấn mạnh và trình bày theo quan điểm thần học. Với Mark, đó là sự từ biệt và buồn đau của Chúa Jesus khi Người phải đối mặt với những khổ hình trước cái chết của Người đã cướp đi những bạn bè, thân bằng quyến thuộc hoặc những môn đệ. Người hoàn toàn cô đơn. Đó là sự thất bại phàm nhân: có sự hèn nhát (Peter), phản bội (chủ yếu là Judas), và sự nhận định, giải thích sai lầm (hầu hết trong số họ). Khi chúa Jesus tiến dần đến số phận của Người một cách cương quyết. Hầu hết các môn đệ không có một manh mối về việc bắt giữ sắp xảy ra và việc xét xử, luận tội, mặc dù vài lần Người đã tỏ ra rõ số phận của Người cho họ. Thậm chí họ còn không hiểu mức độ sự tân tụy và tử tế của người phụ nữ vô danh khi nàng sức dầu thánh cho Chúa Jesus để mai táng Người.
Nhưng giữa những nhân chứng sai lầm, sự mua chuộc bằng tiền và tính tàn bạo ấy còn hy vọng. Nó được ẩn giấu trong Psalm 22, mà nhà truyền giáo dùng để rao giảng ý nghĩa mô tả của mình. Ông đã xếp đặt lời ngỏ của Thánh vịnh được Chúa Jesus thốt lên từ trên Thập giá: “Lạy Cha, Cha của con ơi, sao Cha nỡ bỏ con?” Nhiều người ném đá cùng với lời sỉ nhục của những kẻ qua đường tìm thấy được trong hình thức tường thuật của cuốn sách. Nhưng cũng có những bộc lộ thành kính tôn vinh và sự hiến dâng đến Thiên Chúa hòa quyện lẫn nhau xuyên suốt trong Thánh vịnh vì lòng nhân từ cao cả của Thiên Chúa trong quá khứ được hồi tưởng, vọng về. Bài Thánh vịnh kết thúc với một tột đỉnh ngợi khen và niềm tin cậy mà Thiên Chúa cậy trông và có thể toại nguyện niềm mong đợi.
Cảm xúc của mỗi chúng ta đều được phản ánh trong bài tường thuật và Thánh vịnh: người ta có thể cảm thấy như bị bỏ rơi và đầy ắp tuyệt vọng khi họ đối diện với sự đau đớn, chiến đấu, bi thảm và thất bại. Nhưng chúng ta cũng nên nhớ lòng trung thành và từ tâm của Thiên Chúa – chúng ta có thể đương đầu trước những đau đớn và chiến đấu, nhưng không bao giờ chúng ta bị bỏ rơi, lạc lõng, cô đơn. Những ai hy vọng và tin tưởng vào Thiên Chúa vì chưng không phài một thực hiện hão huyền. Điều này là niềm tin của Chúa Jesus và đó cũng là của chúng ta.