CHÚA NHẬT LỄ LÁ
Với Chúa Nhật Lễ Lá, chúng ta bước vào cuộc tưởng niệm con đường Thương Khó của Đức Giê-su.
Is 50: 4-7
Bài đọc I được trích từ tác phẩm của ngôn sứ I-sai-a đệ nhị. Vị ngôn sứ hé mở cho chúng ta Người Công Chính đau khổ, dưới dung mạo của Người Tôi Trung của Gia-vê, dù bị nhạo báng, bị lăng nhục, nhưng không đả kích và đặt trọn niềm tin tưởng vào Thiên Chúa.
Pl 2: 6-11
Tiếp đó, chúng ta suy niệm mầu nhiệm của Đức Giê-su tự hạ mình và được tôn vinh mà thánh Phao-lô họa lại trong thư gởi cho các tín hữu Phi-líp-phê dưới hình thức một bài thánh thi Ki tô học, bằng chứng đáng chú ý của Giáo Hội tiên khởi.
Mc 14: 1-12; 15: 1-47
Sau cùng, chúng ta sống lại cuộc thương khó của Đức Giê-su theo Tin Mừng Mác-cô, nhắc nhở chúng ta qua những con đường đau khổ và chết nào Đức Giê-su dẫn chúng ta đến sự sống.
BÀI ĐỌC I (Is 50: 4-7)
Với đoạn trích nầy chúng ta dự phần vào những xác tín của vị ngôn sứ. Chính nhờ thường hằng chuyên tâm lắng nghe Lời Chúa, suy niệm Lời Chúa hằng ngày, nên ông không tránh né sứ mạng của mình và "biết lựa lời mà nâng đỡ ai mệt mỏi chán chường". Vị ngôn sứ đã không nhận được bất cứ lòng biết ơn nào, nhưng trái lại những lời lăng mạ và khổ nhục. Ông bị đánh đòn, tra tấn (giật râu là một hình phạt rất đau đớn và sĩ nhục), chịu những lời mắng nhiếc, phỉ nhổ vào mặt, khinh bĩ đến tột cùng.
Nhưng "người tôi trung nầy" đặt niềm tin tưởng của mình ở nơi Đức Chúa; ông "trơ mặt ra", có nghĩa "kiên vững không hề nao núng". Thánh Lu-ca nói với chúng ta rằng "Đức Giê-su đã trơ mặt ra" khi Ngài lên Giê-ru-sa-lem để chịu cuộc Tử Nạn của Ngài, nghĩa là Ngài thu hết mọi can đảm và khẳng định ý muốn của Ngài.
Đoạn trích này thuộc bài ca thứ ba trong số bốn bài ca mà chúng ta gọi "các bài ca về Người Tôi Tớ đau khổ", và được đưa vào trong tác phẩm của ngôn sứ I-sai-a đệ nhị, vị ngôn sứ của thời cuối cùng của cuộc lưu đày Ba-by-lon, vào giữa thế kỷ thứ sáu trước Công Nguyên.
Chân dung của "Người Tôi Tớ" nầy lúc thì gợi lên dân Ít-ra-en (ngôn sứ I-sai-a đệ nhị thường gọi dân Ít-ra-en "người tôi tớ của Đức Chúa") lúc thì một cá nhân biệt phân và đón nhận một sư mạng riêng biệt. Vả lại, cách giải thích tập thể và cách giải thích cá nhân không loại trừ nhau; cả hai đều chồng chéo lên nhau trong nhiều đoạn văn.
Người tôi trung nầy xử sự với một cung cách dịu dàng và khiêm tốn (bài ca thứ nhất); ông được giao phó giải phóng dân Ít-ra-en và hoán cải muôn dân (bài ca thứ hai), ông phải chịu những bách hại và những lăng nhục (bài ca thứ ba), ông bằng lòng chịu chết một cách ô nhục, đoạn được tôn vinh (bài ca thứ tư).
Ở đây chúng ta ở một khúc quanh rất quan trọng của Mặc Khải. Cho đến lúc đó những viễn cảnh Mê-si-a nhắm đến một dung mạo của một vị vua vinh quang, thuộc dòng dõi vua Đa-vít, Đấng sẽ thiết lập triều đại công lý và hòa bình. Ấy vậy, vào lúc nầy không còn vua; vương triều đa-vít đã bị nhận chìm vào trong phong ba bảo táp; Đền Thờ Sa-lô-mon bị thiêu hủy, dân thành Giê-ru-sa-lem phải chịu cảnh đời tôi mọi và một phần lớn dân cư bị lưu đày. Đây là thời điểm thuận tiện để loan báo một sứ điệp mới. Qua trực giác của vị ngôn sứ, khoa sư phạm của Thiên Chúa bước một bước vĩ đại. Những sấm ngôn thuở xưa không hề bị hủy bỏ (Đấng Mê-si-a vẫn sẽ thuộc vào dòng dõi Đa-vít), nhưng điều mà những viễn cảnh mới hé mở, chính là sự can thiệp của "một người Thiên Chúa tuyển chọn", "một người Đức Chúa xức dầu tấn phong", Đấng nầy sẽ âm thầm hành động, bên ngoài trông có vẻ thất bại, chịu nhiều đau khổ và bị giết chết trước khi được tôn vinh.
1. Vị ngôn sứ bị lăng nhục:
Tất cả sấm ngôn bao gồm một khía cạnh đầu tiên, có thể đạt được ngay tức khắc cho những ai mà sứ điệp gởi đến.
Ở nơi nhân vật nhục nhã ê chề nầy phải nhận ra chính vị ngôn sứ. Được Thiên Chúa trao phó sứ mạng an ủi những người lưu đày bất hạnh, mệt mỏi chán chường, ông không lẫn tránh công việc phụ bạc nầy; ông cố giúp cho họ hiểu ý nghĩa của sự thử thách của họ, kêu mời họ hoán cải, hứa với họ một cuộc cứu thoát; ông vấp phải sự vô tri, ngờ vực và nổi cáu của những người đã nếm mùi đắng cay của một cuộc lưu đày dài lâu.
3. Người Công Chính bị bách hại:
Bên kia dung mạo của một vị ngôn sứ hiện hình dung mạo của Người Công Chính thập toàn. Bản văn mang một cung giọng Mê-si-a. Cũng chính Đức Giê-su sẽ thực hiện sứ mạng được giao phó cho Ngài trong một thái độ hoàn toàn vâng phục. Cũng chính Ngài sẽ mang Tin Mừng cho những người nghèo hèn khốn khổ. Như vị ngôn sứ vô tội, thay vì lòng biết ơn, Ngài sẽ bị đánh đập, nhục mạ, khổ hình mà "chẳng hổ ngươi và trơ mặt ra như đá vì biết mình sẽ không phải thẹn thùng".
Bài ca thứ ba nầy cho chúng ta cảm thấy trước bài ca thứ tư bi thương về Người Tôi Trung sẽ được đọc vào Thứ Sáu Tuần Thánh.
BÀI ĐỌC II (Pl 2: 6-11)
Đoạn trích thư của thánh Phao-lô gởi cho các tín hữu Phi-líp-phê là một bài thơ sáu khổ, theo thể văn xuôi có vần có điệu. Ba khổ thơ đầu tiên họa lại việc Đức Giê-su tự nguyện hạ mình, và ba khổ thơ còn lại, theo một chiều hướng ngược lại, thuật lại ba giai đoạn Cha Ngài tôn vinh Ngài.
Trong bức thư với giọng nói nồng nàn, đúng hơn thân quen nầy, chẳng có gì phải ngạc nhiên khi chúng ta gặp thấy những câu thơ khôn sánh như tuôn trào từ ngòi bút nầy. Người ta không biết phải chăng thánh Phao-lô là tác giả hay chỉ là người trích dẫn bài thánh thi giàu hình tượng nầy. Dù sao chúng ta cũng vẫn có một chứng liệu đáng chú ý, một trong những bản văn cổ xưa nhất về thần học Đức Ki tô; nhất là bài thơ nầy mang đến một lời chứng quý báu đầu tiên (trước cả Tựa Ngôn của thánh Gio-an) về niềm tin nguyên khởi vào cuộc sống tiền hữu của Đức Giê-su.
1. Ba giai đoạn tự hạ:
1- Đức Giê-su, tuy vẫn là Thiên Chúa, từ bỏ không chỉ Thiên Tính nhưng còn cả vinh quang vốn dĩ nội tại ở nơi Ngài.
2- Ngài tự hủy mình ra hư không, mặc lấy thân nô lệ thấp hèn, sống kiếp phàm nhân, để chia sẻ tận cùng những cảnh đời cơ cực yếu hèn của con người (ngoại trừ tội lỗi).
3- Ngài còn tự hạ hơn nữa khi vâng lời chấp nhận chết ô nhục trên thập giá.
2- Ba giai đoạn vinh quang:
1- Thiên Chúa đã siêu tôn Ngài và tặng ban cho Ngài danh hiệu. Danh ở đây mang lấy một ý nghĩa tuyệt đối, nghĩa là chỉ dành riêng cho một mình Ngài. Đây là Danh của Đức Chúa, Danh mà trong truyền thống Do thái dành riêng để chỉ danh khôn tả của Thiên Chúa như phần tiếp theo chỉ cho thấy: "trổi vượt trên muôn ngàn danh hiệu", vì thế, "vừa nghe danh thánh Giê-su, cả trên trời dưới đất, vf trong cõi âm ty, muôn vật phải bái quỳ".
Diễn ngữ "cả trên trời dưới đất và trong cõi âm ty" chỉ toàn thể vũ trụ. Điều nầy muốn nói rằng không chỉ nhân loại, nhưng ngay cả toàn thể mọi tạo vật ddefu phải cung kính thờ lạy Ngài. Đó cũng là chủ đề được gặp thấy trong sách Khải Huyền: "Tôi lại nghe mọi tạo vật trên trời, dưới đất, trong lòng đất, ngoài biển khơi và vạn vật ở các nơi đó, tất cả đều tung hô: Xin kính dâng Đấng ngự trên ngai và Con Chiên lời chúc tụng cùng danh dự, vinh quang và quyền năng đến muôn thuở muôn đời" (Kh 5: 13).
3. Mẫu gương của Đức Giê-su:
Thánh Phao-lô rất mực yêu mến Giáo Đoàn Phi-líp-phê mà thánh nhân đã thiết lập vào năm 49-50 và là cộng đồng Ki tô hữu đầu tiên trên vùng đất Châu Âu. Phi-líp-phê là một thành phố quan trọng của miền Ma-xê-đoan; thành phố mang tên vua Phi-líp-phê, thân phụ của đại đế Alexandre, người đã xâm chiếm thành nầy vào năm 360 trước Công Nguyên.
Khi viết cho các tín hữu Phi-líp-phê, thánh Phao-lô đang bị giam cầm có thể ở Ê-phê-sô. Thánh nhân mong ước các tín hữu Phi-líp-phê thân yêu của ngài sống trong sự hiệp nhất và nhất là trong sự khiêm hạ sâu xa. Thánh nhân lấy Đức Ki tô làm mẫu gương cho họ noi theo.
TIN MỪNG (Mc 14: 1-15, 47)
Như các thánh ký khác, thánh Mác-cô dành một vị thế quan trọng cho bài tường thuật cuộc Tử Nạn của Đức Ki tô. Như vậy chúng ta có chứng từ làm chứng rằng Giáo Hội tiên khởi đã hiểu: biến cố đồi Can-vê không là một tình tiết xấu hổ và nhục nhã mà biến cố Phục Sinh đến để tẩy xóa đi, nhưng trái lại là tuyệt đỉnh công trình yêu thương của Thiên Chúa cho nhân loại, là nơi Đức Giê-su hoàn tất sứ mạng cứu độ. Các Ki tô hữu tiên khởi đảm nhận sự thách đố của Thập Giá, bất chấp Thập Giá gây nên sự kỳ chướng đối với lương dân.
Thánh Mác-cô đặc biệt dọi chiếu sự mâu thuẩn của những hoàn cảnh: dù bị nhạo báng, nhục mạ, bị kết án khổ hình ô nhục, nhưng Đức Giê-su vẫn khẳng định quyền năng và tính siêu việt của Ngài với một phẩm chất cao vời.
I. KHÚC DẠO ĐẦU (14: 1-11):
Trước khi bắt đầu bài tường thuật của mình, thánh Mác-cô gợi lên ba tình tiết dạo đầu: âm mưu của những thủ lãnh Do thái giáo, xức dầu tại Bê-ta-ni-a, cuộc phản bội của Giu-đa.
1. Âm mưu của các thủ lãnh Do thái giáo (14: 1-2):
Thánh ký định vị cuộc họp bàn của các thượng tế và các kinh sư hai ngày trước các ngày lễ. Thế nên, họ bàn tính với nhau phải dùng mưu bắt Đức Giê-su như thế nào để không làm dân chúng náo động. Điều nầy cho thấy Ngài rất được lòng dân chúng. Không phải đám đông tung hô Ngài khi Ngài vào Thành Thánh sao? Vì thế, tốt hơn nên đợi khi các ngày lễ chấm dứt, lúc đó không còn có dân chúng quy tụ đông đúc ở Giê-ru-sa-lem.
Ấy vậy, lễ Vượt Qua nói riêng kéo dài một ngày; lễ Bánh Không Men thêm bảy ngày nữa. Vì thế, các vị thủ lãnh đồng ý "hoãn lại thêm một tuần nữa trước khi ra tay hành động".
Nhưng những biến cố sắp xảy đến nhanh hơn người ta mong muốn; việc Giu-đa phản bội thúc bách mọi việc; đó là lý do tại sao họ ra sức xúi dục dân chúng chống lại Đức Giê-su vì họ lo sợ đám đông đổi ý.
Khi đặt vào đầu bài tường thuật của mình quyết định của giai cấp lãnh đạo Ít-ra-en: "Không nên làm vào chính ngày lễ" vì có nhiều trở ngại, thánh ký hàm ý nhấn mạnh rằng thực tế, chính Đức Giê-su dẫn dắt các biến cố bất chấp những sự kiện bên ngoài. Ngài sẽ chết, như Ngài đã loan báo, thậm chí vào chính lễ Vượt Qua; chính xác từ khung cảnh lễ Vượt Qua mà việc thiết lập bàn tiệc Thánh Thể và cuộc Tử Nạn nhận được ý nghĩa sâu xa của chúng: Đức Giê-su vừa con chiên chịu sát tế vừa tấm bánh hoàn toàn mới và tinh tuyền.
2. Xức dầu ở Bê-ta-ni-a (14: 3-9):
Bê-ta-ni-a là một ngôi làng được định vị ở phía đông Giê-ru-sa-lem, bên kia đồi Ô-liu. Chính ở nơi ngôi làng nầy mà ba chị em: La-da-rô, bà Ma-ri-a và bà Mát-ta, ở.
Chúng ta không biết ông Si-mon Cùi nầy là ai. Chắc chắn ông không còn bị bệnh cùi nữa, bởi vì ông đón tiếp khách vào nhà mình (thánh Giê-rôm đưa ra giả thuyết rằng ông đã được Đức Giê-su chữa lành).
Thánh Mác-cô không nêu tên người phụ nữ đổ dầu thơm đắt tiền trên đầu Đức Giê-su. Cử chỉ nầy giả sử rằng Đức Giê-su ngồi tựa vào gối dựa, trước một cái bàn thấp, theo cách đông phương. Trong số những nghi thức hiếu khách, xức dầu thơm trên đầu khách là một dấu hiệu tỏ bày lòng kính trọng và vinh dự. Những bình dầu thơm cổ dài cho phép chỉ đổ từng giọt dầu thơm quý giá nầy. Nhưng người phụ nữ nầy "đập vỡ bình ra, đổ dầu thơm trên đầu Ngài" để dầu thơm được chảy tràn đầu Ngài; cô muốn bày tỏ rằng cô nhận ra ở nơi Đức Giê-su một vị khách đặc biệt xứng với một hành vi quảng đại ngoại lệ.
Vài môn đệ (trong số đó có ông Giu-đa, theo Tin Mừng Gio-an) chỉ thấy quá phí của. Nhưng Đức Giê-su nhấn mạnh hai giá trị của cử chỉ người phụ nữ nầy: "giá trị hiện tại": một việc nghĩa ma cô ấy làm cho Ngài, bởi vì chẳng bao lâu nữa Ngài sẽ không còn hiện diện ở giữa họ; "ý nghĩa ngôn sứ": thân thể nầy mà người phụ nữ xức dầu thơm chẳng bao lâu sẽ bị giết chết, đoạn được mai táng hấp tấp nên không đón nhận những vinh dự khâm liệm như tập tục dành cho những người qua đời. Người phụ nữ đã tham dự trước nghi thức mai táng. Đây là cách thức mới, Đức Giê-su loan báo cái chết sắp đến của Ngài.
Ngầm chứa ở nơi lời nói của Đức Ki tô, chúng ta nhận ra hai loại "việc thiện" mà người Do thái thường phân biệt: bố thí cho người nghèo và lòng thành kính đối với những người qua đời.
3. Tên Giu-đa phản bội (14: 10-11):
Ông Giu-đa, một trong Nhóm Mười Hai. Qua những từ ngữ giản dị nầy, thánh Mác-cô làm nổi bật sự ghê tởm của hành động phản bội. Đây là một trong những đau khổ thấm thía nhất của Đức Giê-su, vào đêm bi thảm nầy: một trong các môn đệ thân yêu của Ngài, một trong những người đồng hành mà Ngài đã chọn, đã nộp Ngài cho quân thù Ngài. Nhiều lần Ngài để lộ nỗi đau khổ của Ngài – vào lúc rửa chân và vào lúc thiết lập Bàn Tiệc Thánh Thể.
Ông Giu-đa sắp ra đi gặp các vị thượng tế. Ông tìm đúng người đúng chỗ. Chính ở nơi nhóm nầy mà sự cuồng tín làm sôi sục lòng căm ghét. Chính xác họ vừa mới quyết định thủ tiêu Đức Giê-su. Họ gặp thấy ở nơi Giu-đa một kẻ cộng tác bất ngờ và hứa cho ông tiền, tiền làm sáng mắt tên phản bội, kẻ hám lợi. Thánh Gio-an đã phác họa Giu-đa là "một tên ăn cắp": y giữ túi tiền và thường lấy cho mình những gì người ta bỏ vào quỷ chung (Ga 12: 6). Thiên Chúa dùng những ti tiện của con người để thực hiện ý muốn của Ngài.
II. LỄ VƯỢT QUA VÀ BÀN TIỆC THÁNH THỂ (14: 12-25):
1. Chuẩn bị ăn lễ Vượt Qua (14: 12-16):
"Ngày thứ nhất trong tuần Bánh Không Men, là ngày giết chiên mừng lễ Vượt Qua". Hai ngày đại lễ nầy từ lâu được cử hành cùng một cặp song đôi với nhau: vào lễ Vượt Qua, lễ của những người chăn nuôi, họ giết một con chiên tơ, và lễ Bánh Không Men, lễ của những người trồng trọt, họ dâng hiến những sản phẩm đầu mùa và làm bánh không men với những hạt lúa mạch đầu tiên. Việc hiệp nhất hai lễ nầy đã trở nên dể dàng hơn vì bữa ăn lễ Vượt Qua cũng bao gồm bánh không men.
Lễ Vượt Qua buộc phải được cử hành ở Giê-ru-sa-lem; bữa ăn con chiên, bị sát tế trong khuôn viên Đền Thờ, "phải được ăn ở trong thành". Điều nầy khiến các môn đệ bận tâm. Đức Giê-su là một tôn sư lưu động không nơi cố định; thêm nữa, Ngài là người Ga-li-lê. Vì thế, họ hỏi Ngài: "Thầy muốn chúng con đi dọn cho Thầy ăn lễ Vượt Qua ở đâu?".
Hoạt cảnh theo sau giống đến kỳ lạ với hoạt cảnh trước đó khi Đức Giê-su vào thành Giê-ru-sa-lem với tư cách là Đấng Mê-si-a: Đức Giê-su sai hai môn đệ đi trước, họ sẽ gặp thấy mọi việc như Ngài đã mô tả cho họ. Trong trường hợp thứ nhất: một con lừa con đang cột sẳn ở đó; còn ở đây, một người mang vò nước đến gặp hai ông. Cả hai lần, những biến cố xảy ra đúng như Chúa Giê-su mong muốn: người ta để cho hai ông dắt con lừa đi; người mang vò nước dẫn hai môn đệ vào nhà và chỉ cho hai ông một phòng đã được chuẩn bị sẳn sàng cho Ngài với các môn đệ cử hành lễ Vượt Qua. Thánh ký muốn nói rằng Đức Giê-su đã dự liệu tất cả, chính Ngài tổ chức lễ Vượt Qua sau cùng nầy như trước đây Ngài đã tổ chức cuộc tiến vào thành Giê-ru-sa-lem.
2. Loan báo Giu-đa phản bội (14: 17-21):
Cả bốn Tin Mừng đều thuật lại lời tiên báo nầy của Đức Giê-su: "Có người trong anh em sẽ nộp Thầy". Cả bốn đều nhấn mạnh Giu-đa cùng ngồi đồng bàn với Đức Giê-su (thánh Gio-an xác định: "chia sẻ cùng một miếng bánh"). Theo quan niệm xưa, "ngồi đồng bàn" đồng nghĩa "cùng chung một hội một thuyền" sống chết có nhau. Như thế, sự phản bội nêu bật thái độ vô liêm sỉ.
Đức Giê-su tế nhị không chỉ rõ ai hết. Những lời: "Chính là một trong Nhóm Mười Hai đây, mà là một người đang chấm chung một đĩa với Thầy" thật mơ hồ, vì theo tập quán, mọi người đều cùng chấm chung một đĩa.
Bầu khí trở nên ngột ngạt. Ấy vậy, trong những hoàn cảnh trang nghiêm, Đức Giê-su thích gợi lên tước hiệu "Con Người" để nói về sứ mạng của mình. Dưới tước hiệu nầy, Ngài ẩn dấu mầu nhiệm của mình: "Đã hẳn, Con Người ra đi theo như lời đã chép về Người".
Còn về những lời: "Nhưng khốn cho kẻ nào nộp Con Người: thà kẻ đó đừng sinh ra thì hơn!", không thể nào nghĩ là lời nguyền rủa từ miệng Đức Giê-su vào giờ Ngài sẽ đổ máu mình để xóa tội nhân loại; nhưng đúng hơn là một lời ghi nhận đượm nỗi buồn phiền. Giả như hắn đừng sinh ra, thì sẽ không phạm một tội ác tày trời như vậy. Đức Giê-su không bao giờ nguyền rủa. Quả thật, Ngài đã đe dọa khi loan báo những trừng phạt: "Khốn cho các ngươi…", nhưng đây không là những lời nguyền rủa.
3. Thiết lập Bàn Tiệc Thánh Thể (14: 22-25):
Lễ Vượt Qua Do thái, mà Đức Giê-su cử hành với các môn đệ thành bữa Tiệc Ly, được biến thành lễ Vượt Qua Ki tô giáo bởi việc thiết lập Bàn Tiệc Thánh Thể: vừa nối tiếp vừa đoạn tuyệt: song đối sâu xa và mới mẻ tận căn.
Lễ Vượt Qua Do thái tưởng niệm cuộc giải phóng dân Ít-ra-en khỏi cảnh đời nô lệ bên Ai-cập, nhờ vào máu con chiên được bôi trên cửa nhà của người Do-thái. Nhờ dấu hiệu nầy, Thiên Chúa đã nhận ra dân của Ngài nên đã tha chết cho họ.
Đức Giê-su loan báo cuộc giải phóng khỏi cảnh đời nô lệ tội lỗi nhờ máu Ngài "đổ ra vì muôn người". Về phương diện lịch sử, cuộc giải phóng khỏi Ai-cập đã hình thành nên dân Ít-ra-en như dân Chúa chọn và cuộc tuyển chọn nầy đã được hiến thánh trên núi thánh Xi-nai, bởi Giao Ước Cũ.
Nhờ ân ban thân thể của Ngài và máu của Ngài, được chia sẻ ở giữa mọi người, Đức Giê-su thiết lập một dân Chúa chọn mới; Giao Ước Mới được đóng dấu trong máu của Ngài. Ở nơi bàn tiệc Thánh Thể, Đức Giê-su tham dự trước vừa cuộc Tử Nạn của Ngài vừa cuộc Phục Sinh của Ngài.
Nếu khung cảnh lễ Vượt Qua soi sáng sự biến đổi kỳ diệu của việc cử hành xưa như vậy, thì bữa ăn nầy cũng là bữa tiệc ly, mặc khải tất cả khía cạnh thống thiết của nó: Đức Giê-su sắp từ biệt các môn đệ của mình, những người mà Ngài yêu thương, những người mà Ngài trao phó truyền đạt sứ điệp của Ngài; Ngài không muốn để họ lại một mình; Ngài gặp thấy phương tiện để ở lại với họ, bằng cách thiết lập quà tặng kỳ diệu này, quà tặng của chính bản thân mình, nhờ đó các Tông Đồ cũng như những người kế nghiệp các ngài có thể lưu truyền mãi mãi. Chỉ duy một mình Thiên Chúa mới có thể vừa ra đi vừa ở lại.
Thánh Mác-cô cũng nhấn mạnh "giá trị cánh chung" của "bàn tiệc Thánh Thể". Bàn tiệc này là một sự tiếp cận, một sự tham dự trước bàn tiệc Thiên Quốc: "Thầy bảo thật anh em: chẳng bao giờ Thầy còn uống sản phẩm của cây nho nữa, cho đến ngày Thầy uống thứ rượu mới trong Nước Thiên Chúa".
Cuộc sống tương lai thường thường được biểu thị như bàn tiệc; và rượu nho như một trong những dấu chỉ của "niềm vui thời Mê-si-a" và niềm vui muôn đời của thế giới sắp đến. Đây đã là một trong những ý nghĩa của phép lạ tiệc cưới Ca-na, tự nó là khúc dạo dầu của phép lạ bàn tiệc Thánh Thể. Nước biến thành rượu đáp ứng với rược biến thành máu.
4. Tiên báo mọi người sẽ vấp ngã và ông Phê-rô sẽ chối Thầy (14: 26-31):
Đoạn văn này chứa đựng một chi tiết quý báu: "Hát Thánh vịnh xong…" Đây chính là thánh thi tạ ơn được gọi "Hallel", mà người ta hát sau bữa ăn Vượt Qua. Bài thánh thi tạ ơn này được trích từ các thánh vịnh 113-118 (một trong những Thánh vịnh nầy đã được trích dẫn rồi trong bữa ăn); như vậy, bữa Tiệc Ly của Đức Giê-su đích thực là bữa ăn Vượt Qua, ít ra theo các Tin Mừng Nhất Lãm.
Đức Giê-su và các môn đệ của Ngài rời phòng tiệc; họ đi xuống thung lũng Xê-ron phân cách Giê-ru-sa-lem với núi Ô-liu. Trên đường, Đức Giê-su báo trước cho tất cả họ: "Tất cả anh em sẽ vấp ngã". Ngài nhắc lại cho họ sấm ngôn của ngôn sứ Da-ca-ri-a 13: 7-9: "Ta sẽ đánh người chăn chiên, và chiên sẽ tan tác". Vị ngôn sứ nầy đã loan báo rằng thời cứu độ sẽ được đi trước bởi một cơn thử thách lớn lao giáng xuống trên một phần dân Thiên Chúa để thanh tẩy họ; "nhóm còn lại" nầy bất ngờ không có người chăn dắt; vào lúc đó họ sẳn sàng đón nhận Giao Ước Mới…
Để an ủi các ông, Ngài loan báo cho các ông rằng Ngài sẽ gặp lại các ông ở Ga-li-lê, sau khi Ngài sống lại. Về việc các ông sẽ vấp ngã vì Ngài, với một giọng trìu mến, Ngài cho hiểu rằng Ngài sẽ không tính sổ với họ; Ngài cho họ một cuộc hẹn gặp rồi.
Thánh Phê-rô hăm hở cam đoan: "Dầu tất cả có vấp ngã đi nứa, thì con cũng nhất định là không". Đức Giê-su trả lời với ông là nội trong đêm nay ông sẽ chối Ngài ba lần. Nhưng thánh Phê-rô lại càng quả quyết hơn và tất cả mọi người cũng đều quả quyết như vậy.
Chúng ta ghi nhận rằng thánh Mác-cô nhắc lại tính tự phụ của các môn đệ, đặc biệt là thánh Phê-rô; chắc chắn đây là âm vang của vị lãnh tụ các Tông Đồ và… về sự khiêm hạ của ông. Cuối cùng, thánh ký nhiều lần nêu bật Đức Giê-su quán triệt mọi người và mọi việc: Ngài biết rõ những gì sắp xảy đến.
III. CON ĐƯỜNG THƯƠNG KHÓ (14: 32-15: 47):
1. Cơn hấp hối ở vườn Ghết-sê-ma-ni (14: 32-42):
Trên triền đồi Ô-liu có một khu vườn được gọi Ghết-sê-m-ni. Đức Giê-su với các môn đệ của Ngài rút vào trong khu vườn nầy. Khi cuộc khổ nạn của Ngài đến gần, Đức Giê-su cảm thấy hãi hùng và xao xuyến. Không thể nào chịu đựng nỗi một mình, Ngài dẫn theo với mình ba Tông đồ, họ đã là nhân chứng về cuộc Biến Hình của Ngài: thánh Phê-rô, thánh Gia-cô-bê và thánh Gio-an. Trước thân phận yếu nhược làm người của Ngài, sự hiện diện của họ là nguồn an ủi cho Ngài. Mác-cô là thánh ký duy nhất xác định rằng Đức Giê-su đi cách ba vị Tông Đồ "xa hơn một chút", vì thế, họ có thể nghe được những lời khẩn nguyện van xin của Ngài và thấy Ngài sấp mình xuống đất.
1.1- Đức Giê-su sấp mình xuống đất mà cầu nguyện:
Cử chỉ "sấp mình xuống đất" cho thấy thân xác yếu nhược của Đức Giê-su, nhưng cũng là thái độ cầu nguyện khiêm tốn và khẩn thiết. Không có nơi nào trong Tin Mừng mô tả Đức Giê-su cầu nguyện như thế cả.
Thánh Mác-cô nhấn mạnh sự mật thiết của Đức Giê-su như Người Con đối với Cha Mình khi Ngài cầu nguyện. Chính trong sự hiêp thông của Ngài với Cha Ngài mà Đức Giê-su lấy lại sức mạnh chế ngự nỗi sợ hãi và cõi lòng xao xuyến của Ngài, và hoàn toàn chấp nhận cuộc Tử Nạn sắp đến của Ngài.
"Áp-ba, Cha ơi, xin cất chén nầy xa con!". Chén là hình ảnh kinh thánh để nói lên một sự thử thách, một vận mệnh đau thương; đồng thời nó cũng gợi lên chén máu của hy lễ.
"Nhưng xin đừng làm điều con muốn, mà làm điều cha muốn". Đức Giê-su không giao phó cuộc chiến nội tâm mà đối tượng sẽ là vâng lời hay không vâng lời cho ý muốn của Cha Ngài; Ngài là "một" với Cha Ngài; chỉ có một ý muốn duy nhất của Thiên Chúa, một kế hoạch duy nhất của Thiên Chúa. Nỗi xao xuyến của Đức Giê-su bàn về "phương tiện" nhờ đó ý muốn duy nhất nầy phải được thực hiện. Nỗi xao xuyến của vườn Ghết-sê-ma-ni không phải không nhắc lại sự thử thách ở sa mạc ở đó cuộc tranh luận nội tâm bàn về phương cách theo đó Đức Giê-su sẽ thực hiện sứ mạng của Ngài.
1.2- Các môn đệ:
Ba lần Đức Giê-su trở lại với ba người bạn của mình. Thật cảm động biết bao vị Thiên Chúa làm người toan tính dựa vào những anh em nhân loại của mình trong nỗi buồn phiền vô hạn của mình. Nhưng thất vọng biết bao! Những môn đệ rốt cuộc không thể cưỡng kháng được giấc ngủ. Qua bài tường thuật của thánh Mác-cô, chúng ta nhận thức những ân hận của Phê-rô. Những lời quở trách của Đức Giê-su vẫn hằn sâu trong tâm khảm của ông: "Si-mon, anh ngủ à ? Anh không thức nổi một giờ sao…!"
Lần thứ ba Đức Giê-su không còn mong chờ sự nâng đỡ nào từ họ: "Lúc nầy mà còn ngủ, còn nghỉ sao ? Thôi, đủ rồi. Giờ đã điểm…". Đức Giê-su hoàn toàn cô độc trong cơn hấp hối ở vườn Ghết-sê-ma-ni.
2. Đức Giê-su bị bắt (14: 43-47):
Thánh Mác-cô nhắc lại thêm một lần nữa rằng Giu-đa là một trong Nhóm Mười Hai để nêu bật cách hành xử ô nhục của hắn.
Tên phản bội biết nơi chốn; hắn biết rằng Đức Giê-su thường đến đây; hắn không lầm khi dẫn đến đây đội cận vệ Thượng Hội Đồng được trang bị gươm giáo được "các thượng tế, kinh sư và kỳ mục sai đến", và chắc chắn kéo theo những thành phần vô lại nhặt những gậy gộc trên đường.
Những kẻ lãnh nhiệm vụ bắt Đức Giê-su lại không biết Ngài, dù sao trong đêm tối có nguy cơ nhầm lẫn. Giu-đa đã ước định một ám hiệu: một nụ hôn. Cử chỉ thật ghê tởm nhưng không khác thường; một môn đệ thường chào thầy mình theo cách nầy; nhưng Giu-đa đã cho nó một ý nghĩa khác: dấu hiệu nộp Thầy mình: "Tôi hôn ai thì chính là người đó. Các anh bắt lấy và điệu đi cho cẩn thận !".
"Nhưng một trong những kẻ có mặt tại đó tuốt gươm ra, chém phải tên đầy tớ của thượng tế làm nó đứt tai". Nhờ Tin Mừng Gio-an, chúng ta biết rằng tác giả của hành động nầy là Phê-rô, và nhờ Tin Mừng Lu-ca, tai bị chém đứt là tai phải (những chi thể được định vị ở bên phải được xem như quý hơn những chi thể ở bên trái). Dường như một vết thương ở bên phải là dấu hiệu sỉ nhục.
3. Các môn đệ bỏ Ngài mà chạy trốn (14: 48-52):
Đức Giê-su phản đối việc bắt Ngài một cách vụng trộm, vào lúc đêm tối. Chắc chắn đây không là đám đông đã nghe Ngài khi Ngài giảng dạy trong Đền Thờ và vẫy cành lá tung hô Ngài vài ngày trước đây.
"Nhưng thế nầy là để lời Sách Thánh được ứng nghiệm". Đức Giê-su quy chiếu đến bài ca Người Tôi Tớ chịu đau khổ mà Ngài đã áp dụng nhiều lần vào vận mệnh của chính mình.
"Bấy giờ, các môn đệ bỏ Người mà chạy trốn hết". Trước những người xét xử Ngài, Đức Giê-su sẽ không có bất kỳ người bào chữa nào, bất kỳ nhân chứng nào bênh vực Ngài; Ngài một mình bước đi trên con đường Thương Khó của mình.
Tuy nhiên, hai Tông Đồ quay trở lại mà theo Ngài xa xa, vào tận bên trong dinh thượng tế Cai-pha; nhưng một trong hai người sẽ chối Ngài. Chỉ một mình thánh Gioan sẽ hiện diện dưới chân thập giá.
Thánh Mác-cô là vị thánh ký duy nhất đã ghi nhận một sự cố lạ thường: "Trong khi đó, có một cậu thanh niên theo Người, mình khoắc vỏn vẹn một tấm vải gai. Họ túm lấy anh. Anh liền trút tấm vải gòn lại, bỏ chạy trần truồng". Nhiều nhà chú giải nghĩ rằng chàng thanh niên nầy là thánh Mác-cô, thánh ký tương lai.
4. Đức Giê-su ra trước Thượng Hội Đồng (14: 53-65):
Đức Giê-su bị điệu đến dinh thượng tế. Thanh Mác-cô không nêu tên vị thượng tế nầy. Đây có lẽ là Cai-pha, vị thượng tế đương nhiệm (thánh Gioan là thánh ký duy nhất nêu lên việc Đức Giê-su bị điệu ra trước vị cựu thượng tế Kha-nan, bố vợ của Cai-pha). Dù thế nào, đây là dinh thượng tế nơi mà các thành viên của Thượng Hội Đồng nhóm họp, nghĩa là Công Nghị tối cao của người Do thái.
Như thánh Mác-cô cho biết, Thượng Hội Đồng bao gồm ba loại thành viên:
- Các lãnh tụ tư tế (thượng tế, các cựu thượng tế và các tư tế đảm trách chức vụ thường hằng ở Đên Thờ).
- Các Kỳ Mục là những bậc vị vọng, những chủ nhân giàu có, những nhà quý phái.
- Các kinh sư là những tiến sĩ Luật, đa số giáo dân, thuộc vào tầng lớp trung lưu hay thậm chí khiêm tốn. Phần lớn là những người Biệt Phái.
Thượng Hội Đồng gồm có bảy mươi thành viên không kể vị thượng tế đương nhiệm. Để có thể tiên hành phiên xử, cần phải có tối thiểu hai mươi ba thành viên. Chắc chắn có hơn nhiều vào đêm Đức Giê-su bị điệu đến.
Thượng Hội Đồng tiến hành sự thẩm cứu pháp lý cho qua chuyện, sự thẩm cứu được định hướng sẳn rồi, bởi vì thật ra bản án được quyết định rồi. Tuy nhiên, Đức Giê-su cần phải ra trước tòa án Do thái. Nếu Ngài bị nộp trức tiếp cho chính quyền Rô-ma, Ngài sẽ chung số phận với những người kháng khiến và hưởng được vinh quang tử vì đạo. Án tử cần phải trước hết đến từ giáo quyền Ít-ra-en, để làm mất uy tín Đức Giê-su.
Thánh Mác-cô nhấn mạnh những lời chứng lộn xộn và những chứng nhân không thể đưa ra chứng cớ buộc tội Ngài được. Đối mặt với họ, Đức Giê-su thật trầm tỉnh và uy nghi, khẳng định rõ ràng phẩm tính của Đấng Mê-si-a và Con Thiên Chúa của Ngài và nhận cho mình những đặc quyền của Con Người mà ngôn sứ Đa-ni-en thoáng thấy: "Rồi các ông sẽ thấy Con Người ngự bên hữu Đấng Toàn Năng và ngự giá mây tròi mà đến". Đức Giê-su quả quyết: "Rồi các ông sẽ thấy". Quả thật, trong ba ngày nữa Ngài sẽ sống lại và chẳng bao lâu sau Giáo Hội của Ngài sẽ chiến thắng và trong vài năm nữa kinh thành Giê-ru-sa-lem và Đền Thờ sẽ bị phá hủy…
Như vậy cho đến lúc đó Đức Giê-su bao phủ chung quanh con người của Ngài một mầu nhiệm nào đó, dù hiện giờ bị xiềng xích và bị sỉ nhục, Ngài vẫn lớn tiếng công bố sự siêu việt của Ngài.
Lúc đó vị thượng tế kêu mời tất cả thành viên Thượng Hội Đồng làm chứng. Cần phải có tối thiểu hai nhân chứng có đủ chứng cớ buộc tội để có thể công bố bản án. Chẳng cần nhân chứng nào nữa: tất cả họ vừa mới nghe lời phạm thượng và có thể làm chứng điều nầy!
Vị thượng tế làm trò xé áo mình. Theo tập tục chung, xé áo mình là dấu chỉ tang chế. Người ta gặp thấy nghi thức nầy tại dân Ba-by-lon cũng như tại dân Do thái. Nhưng vị thượng tế không có quyền xé áo mình cho một tang chế riêng tư (Lv 21: 10); ông phải dành riêng cử chỉ nầy cho những hoàn cảnh nghiêm trọng, công cộng, nhất là khi thi hành chức vụ thẩm phán của mình, ông phải công bố sự phẩn nộ của mình.
Làm thế nào người ta có thể biết được những chi tiết và những diễn biến của phiên họp Thượng Hội Đồng nầy ? Câu trả lời thật đơn giản. Trong số các thành viên Thượng Hội Đồng có những cảm tình viên của Đức Giê-su, như ông Giô-xếp thành A-ri-ma-thê và có lẽ ông Ni-cô-đê-mô. Vả lại sau nầy, theo lời chứng của sách Công Vụ (6: 7), có rất đông tư tế đón nhận đức tin.
Ngay từ phiên xử đầu tiên, Đức Giê-su chịu những nhục nhã ê chề: khạc nhổ vào mặt, lăng mạ, đánh đập. Thánh Mác-cô không bỏ qua những chi tiết tàn bạo nào.
5. Phê-rô chối Thầy và hối hận ăn năn (14: 66-72):
Vào lúc Đức Giê-su bị bắt, ông Phê-rô trốn chạy, như tất cả các môn đệ khác. Đoạn ông trấn tĩnh, cũng như một "người môn đệ khác", có lẽ là thánh Gioan, và cả hai theo xa xa đội cảnh vệ đang áp tải Đức Giê-su đi.
Trong khi thánh Gioan quen biết vị thượng tế (Ga 18: 15) nên được đi vào bên trong dinh thượng tế, còn thánh Phê-rô đứng ở sân ngoài gần cổng ở đó những người túc trực đã nhóm một lò lửa để sưởi ấm.
Cả bốn Tin Mừng đều tường thuật hoạt cảnh thánh Phê-rô chối Thầy. Đáng lưu ý là vị lãnh tụ Giáo Hội đã để lưu truyền cho thế hệ sau tình tiết nầy làm mất thể diện của ông và chỉ mình ông mới có thể cung cấp những chi tiết. Thánh Mác-cô là cộng tác viên thân cận của thánh nhân, chính xác là một trong các tác giả Tin Mừng nhấn mạnh nhất khuyết điểm nầy.
Sự khiêm hạ của vị lãnh tụ các Tông Đồ, những hối hận sâu xa của thánh nhân trước sự vấp ngã nầy được bày lộ ngay tức thời bởi những dòng nước mắt ăn ăn của ông, đã thắng thế. Mẫu gương của thánh nhân không phải là một bài học cho các Ki tô hữu trong cơn bách hại vào thời điểm thánh Mác-cô soạn thảo những dòng nầy sao? Thánh Phê-rô làm cho chúng ta xúc động vì ngài là một vị thánh rất người.
6. Thượng Hội Đồng họp bàn lần thứ hai (15: 1):
Cuộc họp bàn của Thượng Hội Đồng lần thứ hai đã xảy ra sau cuộc họp bàn trong đêm. Thánh Mác-cô nói: "Vừa tảng sáng". Theo Luật, cuộc họp bàn nầy cần thiết. Khi một hình phạt nghiêm trọng được công bố, các thành viên Thượng Hội Đồng cần một kỳ hạn để suy nghĩ. Đúng luật, kỳ hạn nầy phải là hai mươi bốn tiếng: một phiên họp thứ hai phải xác nhận hay hủy bỏ quyết định.
Thật ra, Thượng Hội Đồng đã công bố án tử: "Tất cả đều kết án Người phải chết". Kể từ thời Rô-ma chiếm đóng, người Do thái không còn quyền tiến hành cuộc xử tử nữa. Vì thế, họ trói Đức Giê-su lại và giải đi nộp cho quan tổng trấn Phi-la-tô. Nhưng kể từ lúc đó, phiên tòa được chuyển sang bình diện chính trị. Từ tội phạm thượng nghịch với Thiên Chúa Ít-ra-en đến tội phản nghịch với cuộc chiếm đóng Rô-ma.
7. Đức Giê-su ra trước tổng trấn Phi-la-tô (15: 2-5):
Quan tổng trấn Phi-la-tô, đại diện chính quyền Rô-ma, cai trị trực tiếp miền Giu-đê. Thật ra, từ khi vua Hê-rô-đê Archilaüs, con và người kế vị vua Hê-rô-đê Cả, băng hà, Rô-ma đã không còn cử người của mình đến chính quyền địa phương nữa, vì họ sợ những phong trào phản loạn nổi lên ở Giê-ru-sa-lem hay trong miền. Khác với trường hợp miền Ga-li-lê, một người con khác của vua Hê-rô-đê Cả là vua Hê-rô-đê An-ti-pát cai trị, vì thế, Đức Giê-su, người Ga-li-lê, bị điệu ra trước vua nầy (cf. Lc 3: 1).
Nơi cư ngụ quen thuộc của các vị tổng trấn Rô-ma là thành Xê-da-rê duyên hải, nhưng vào những ngày đại lễ, đặc biệt vào lễ Vượt Qua, dân chúng quy tụ lại rất đông ở Giê-ru-sa-lem, thế nên, quan tổng trấn lên Giê-ru-sa-lem. Đó là lý do tại sao tổng trấn Phi-la-tô lúc đó có mặt trong Thành Thánh.
Quan tổng trấn Phi-la-tô chất vấn Đức Giê-su trên bình diện chính trị: "Ông là vua dân Do thái sao?" Chính vì tội danh nầy mà sau nầy Phi-la-tô truyền ghi bản án xử tội Ngài trên thập giá: "Giê-su, vua người Do thái". Đức Giê-su trả lời: "Đúng như ngài nói đó", hay một cách tinh tế hơn, nếu đại danh từ được nhấn mạnh: "Chính ngài nói đó". Đức Giê-su lãng tránh trả lời trực tiếp, nhưng câu trả lời nầy không phải kém khẳng định. Đây cũng là câu trả lời của Đức Giê-su cho Giu-đa khi hắn hỏi Ngài: "Thưa Thầy, chẳng lẽ là con sao?" – "Chính anh nói đó" (Mt 26: 25).
"Các thượng tế tố cáo Ngài nhiều tội". Quả thật, qua các Tin Mừng khác, chúng ta biết rằng hoạt cảnh diễn ra bên ngoài. Các thành viên Thượng Hội Đồng, các cận vệ của họ, và đám đông dân chúng càng lúc càng đông, ở bên ngoài dinh quan tổng trấn.
Đức Giê-su im lặng. Phi-la-tô ngạc nhiên. Chung chung, không có luật sư biện hộ, những bị cáo tự biện hộ cho mình.
8. Ân xá vào dịp lễ Vượt Qua (15: 6-15):
Theo phong tục của người Do thái, vào mỗi lễ Vượt Qua một tù nhân được phóng thích, chắc chắn để kỷ niệm cuộc giải phóng khỏi Ai-cập mà người ta tưởng niệm vào ngày đại lễ nầy. Phi-la-tô biết tập tục nầy; ông đề nghị đám đông chọn một kẻ giết người khét tiếng và Đức Giê-su. Việc cho dân chúng có quyền chọn lựa làm ngạc nhiên; không phải là không có những ví dụ khác. Ở kinh thành Rô-ma, trong những cuộc đấu ở hý trường, dân chúng quyết định tha hay giết chết, vua phải tuân theo ý muốn của dân.
Theo truyền thống Do thái, việc dân chúng dự phần vào việc xét xử được kể ra nhiều lần như phiên xử bà Su-dan-na.
Việc yêu cầu phóng thích tên Ba-ra-ba nêu bật những trách nhiệm khác nhau:
- trách nhiệm của các thành viên Thượng Hội Đồng, họ sách động dân chúng chống lại Đức Giê-su.
- trách nhiệm của đám đông, họ để cho mình bị xỏ mũi dẫn đi và thích tên phản loạn hơn. Tội ác của hắn không phải là không có hậu ý chính trị, chống lại chính quyền chiếm đóng.
- sau cùng, trách nhiệm của Phi-la-tô, ông đã tính sai một nước cờ khi nghĩ rằng phong trào quần chúng ủng hộ Đức Giê-su. Ông thích thú muốn thấy cuộc vận động của các thượng tế thất bại, bởi ông thừa biết chỉ vì ghen tỵ mà các thượng tế nộp Đức Giê-su. Nhưng Phi-la-tô nhượng bộ đám đông; ông muốn vừa lòng dân chúng bản địa, và đồng thời cũng muốn tránh bị tố cáo ở Rô-ma và bị coi là nhu nhược trước một toan tính chính trị của kẻ mạo danh "vua dân Do thái nầy".
Như vậy, quyết định chung cuộc chính do bởi tổng trấn Rô-ma, và chính bởi thập giá, khổ hình Rô-ma, mà Đức Giê-su bị kết án. Khổ hình Do thái là ném đá.
9. Đức Giê-su chịu đánh đòn (15: 15):
Đánh đòn tự nó là một khổ hình. Án phạt nầy cũng là một biện pháp mở đầu cho khổ hình thập giá; nó làm cho tội nhân kiệt quệ vì mất nhiều máu và như vậy rút ngắn cơn hấp hối rất đau đớn của tội nhân trên thập giá. Có nhiều loại hình phạt bị đánh đòn: người ta dùng gậy nếu tội nhân là công dân Rô-ma; dây da phủ có gắn những hạt chì đối với tội nhân có địa vị thấp kém, huống gì hạng nô lệ. Chắc chắn loại hình phạt đánh đòn thứ hai mà Đức Giê-su chịu.
10. Đức Giê-su chịu đội mão gai (15: 16-20):
Phi-la-tô giao cho quân lính thi hành án. Ấy vậy, dân chúng bị trị chẳng ưa gì quân lính Rô-ma chiếm đóng, vì thế, những người lính nuôi dưỡng sự căm ghét đối với dân tộc nầy. Đây là dịp họ đổ hết sự căm ghét của mình trên đầu tên Do thái nầy được giao vào trong tay họ. Tất cả lính cận vệ dinh tổng trấn tụ tập lại để chế giễu Đức Giê-su. Hoạt cảnh thật thâm hiểm.
Họ kết một vòng gai làm vương niệm đội lên đầu Đức Giê-su và khoắc cho Ngài một tấm áo điều; chắc chắn là tấm áo khoắc của quân đội Rô-ma, nhưng áo khoắc màu đỏ là dấu chỉ của sự chiến thắng. Thế nên, khoắc cho Đức Giê-su một áo khoắc màu đỏ trở thành trò nhạo báng của họ.
11. Con đường khổ giá (15: 21-27):
Người Rô-ma không tạo ra khổ hình thập giá; họ mượn ở nơi những dân tộc Đông Phương, người ta không biết đích xác nguồn gốc của nó. Xi-xê-ron mô tả khổ hình thập giá như "một cái chết kinh khiếp nhất và tàn bạo nhất". Người Rô-ma có nhiều hình thức khổ hình tùy theo các tầng lớp xã hội, khổ hình thập giá dành cho tầng lớp thấp kém nhất: tầng lớp nô lệ.
Việc hành hình xảy ra chỉ ở bên ngoài thành. Lãnh địa của thành là vùng đất thánh vì thế không thể nào bị nhiễm uế bởi xác chết của tội nhân. Đồi Gôn-gô-tha sát với bức tường thành Giê-ru-sa-lem. Chữ Gôn-gô-tha theo tiếng A-ram có nghĩa "Sọ", vì ngọn núi trơ trọi không có bóng dáng của cây cối.
Chi dù đoạn đường mà Đức Giê-su phải vác thập giá đi ngang qua tương đối ngắn, nhưng vì đã phải chịu những hành xử tồi tệ nên Ngài kiệt sức bước đi không vững. Vì thế, quân lính bắt một người qua đường vác thập giá giúp Ngài. Đó là "ông Si-môn, gốc Ky-rê-nê, thân phụ của hai ông A-lê-xan đê và Ru-phô". Sở dĩ thánh Mác-cô nêu tên hai người nầy, vì họ không xa lạ gì với các Ki tô hữu.
Quân lính điệu Đức Giê-su đi đến đồi Gôn-gô-tha. Nhóm lính nầy gồm bốn người, bởi vì họ chia áo xống của Ngài thành bốn phần, mỗi người mỗi phần (Ga 19: 23), được một viên đại đội trưởng chi huy, ông chịu trách nhiệm thi hành bản án và sẽ túc trực bên cạnh thập giá.
"Chúng trao rượu pha mộc dược cho Người uống". Đây không là tập quán của người Rô-ma, nhưng của người Do thái: rượu pha mộc dược giúp cho tội nhân giảm cơn đau. Nhưng Đức Giê-su từ chối ân huệ nầy; Ngài muốn đảm nhận cho đến cùng toàn bộ những đau đớn hàm chứa ở nơi cái chết tàn bạo mà Ngài phải chịu với một sự ý thức tròn đầy.
Sau khi đã đóng đinh Ngài vào thập giá, quân lính đem áo Ngài ra bắt thăm mà chia nhau. Khía cạnh nầy phù hợp với luật Rô-ma: áo của tội nhân thuộc về tên lý hình. Đồng thời, sấm ngôn của Thánh vịnh 22 được ứng nghiệm: "Áo mặc ngoài chúng đem chia nhau. Còn áo trong chúng cũng bắt thăm luôn" (Tv 22: 19).
"Lúc chúng đóng đinh Người là giờ thứ ba", tức chín giở sáng. Thánh Gioan định vị việc đóng đinh vào giữa trưa. Đây là một trong những tiểu dị giữa các thánh ký. "Bên cạnh Người, chúng còn đóng đinh hai tên cướp", đối với Đức Giê-su, điều nầy là một sỉ nhục thêm nữa.
12. Trên đồi Can-vê (15: 29-32):
Chỗ hành hình được định vị ở bên vệ đường dẫn đến Giê-ru-sa-lem. Đây là chỗ chính quyền muốn: cảnh tượng những tội nhân hấp hối trong đau đớn quằn quại phải có hiệu quả răn đe đối với những người qua đường. Chính đó là lý do tại sao thánh ký nêu lên việc "kẻ qua người lại đều nhục mạ Người".
Đức Giê-su trên thập giá chịu những lời nhục mạ của ba hạng người.
- Những người Do thái qua đường và nhận ra Ngài.
- Các thành viên Thượng Hội Đồng (các thượng tế và các kinh sư) đến tham dự vào cuộc hành hình và buông những lời chế giễu Ngài cho đến tận lúc đó.
- Sau cùng, hai tên cướp. Thánh Mác-cô không nói về "tên trộm lành" như Lu-ca.
Như vậy, Đức Giê-su thật sự bị bỏ rơi và thật sự bị nộp vào trong tay của những kẻ thù Ngài.
Chính ở nơi đây theo bài tường thuật của thánh Mác-cô mà phải đọc Thánh vịnh 22 mô tả những đau khổ của Người Công Chính và niềm hy vọng đầy tin tưởng của ông. Chính những câu đầu tiên của Thánh vịnh nầy mà Đức Giê-su sắp thốt lên: "Lạy Thiên Chúa, lạy Thiên Chúa con, sao Ngài bỏ rơi con !". Xin được trích dẫn những câu 7, 8, và 9:
"Thân sâu bọ chứ người đâu phải,
con bị đời mắng chửi dể duôi,
thấy con ai cũng chê cười,
lắc đầu bĩu mõ buông lời mĩa mai:
Nó cậy Chúa, mặc Người cứu nó !
Người có thương, giải gỡ đi nào !"
13. Đức Giê-su chết trên thập giá (15: 33-37).
"Vào giờ thứ sáu (tức giữa trưa), bóng tối bao phủ khắp mặt đất, mãi đến giờ thứ chín (tức ba giờ chiều)". Chúng ta nhận thấy thánh Mác-cô phân phối những biến cố thành ba giai đoạn, mỗi giai đoạn gồm ba giờ: đóng đinh vào lúc chín giờ, bóng tối vào lúc giữa trưa và chết vào lúc ba giờ. "Bóng tối bao phủ khắp mặt đất", thánh ký đọc thấy ở đây một dấu chỉ: cái chết của Đức Giê-su trên thập giá có một tầm mức hoàn vũ.
Chúng ta không thể bỏ qua sấm ngôn của ngôn sứ A-mốt gợi lên Ngày của Chúa như ngày chịu tang đứa con một:
"Ta sẽ truyền cho mặt trời lặn giữa trưa,
và khiến cho mặt đất tối sẩm giữa lúc ngày đang sáng.
….
Ta sẽ làm cho đất nầy chịu tang
như người ta chịu tang đứa con một"
Những sấm ngôn khác (Giô-en, Xô-phô-ni, vân vân) loan báo rằng ngày Xử Án được đi kèm theo những dấu chỉ vũ trụ (mặt trời tối sầm…). Tuy nhiên, những sấm ngôn nầy phác họa "Ngày của Chúa" như ngày thịnh nộ. Ngay cả nếu giờ Đức Giê-su chết, trong một mức độ nào đó rồi, là giờ xử án đi nữa, thì cũng không là giờ thịnh nộ, nhưng trái lại, giờ của lòng xót thương vô hạn của Thiên Chúa, giờ tha thứ, giờ của tình yêu Thiên Chúa cho đến tận cùng.
"Lạy Thiên Chúa, lạy Thiên Chúa con, sao Ngài bỏ rơi con ?" Đây là tiếng kêu bi thương trong cảnh khốn quẫn mà Người Công Chính thốt lên trong Thánh vịnh 22. Đức Giê-su trích dẫn. Sau khi biết con người, bạn bè Ngài, những môn đệ thân thiết nhất của Ngài đã bỏ rơi Ngài, Đức Giê-su cảm nhận một sự chơ vơ cô quạnh tuyệt mức, ngay cả chính Chúa Cha dường như cũng bỏ mặc Ngài. Đức Giê-su chết trong nỗi cô đơn tuyệt mức. Đây thật sự là một sự dâng hiến trọn vẹn bản thân mình, một sự quên mình tuyệt đối cho đến mức nó mang dấu ấn của Thiên Chúa.
"Ê-lô-I, Ê-lô-i…" Những từ được trích dẫn bằng tiến A-ram, tiếng mẹ đẻ của Đức Giê-su. Những người tham dự xem ra nghe hình thức tiếng Hy bá (Mát-thêu phiên âm: Ê-li, Ê-li). Ấy vậy, chúng ta biết rằng, theo truyền thống Do thái, ngôn sứ Ê-li phải trở lại trên cõi đời nầy để giới thiệu cho các tín hữu Đấng Mê-si-a. Lời cười cợt thật độc địa: Hắn đang hấp hối, bị đóng đinh trên thập giá, mà vẫn còn tin mình là Đấng Mê-si-a khi cầu cứu ông Ê-li !
"Rồi có kẻ chạy đi lấy một miếng bọt biển, thấm đầy giấm". Cử chỉ nầy được hiểu tốt hơn ở nơi bản văn của thánh Gioan ở đó Đức Giê-su vừa mới nói: "Ta khát". Thánh Mác-cô dường như nói bóng gió rằng một trong những người tham dự - hay một trong những người lính – thử làm Đức Giê-su tỉnh lại để xem Ê-li có đáp trả lời cầu cứu của Ngài hay không ! Nhưng Đức Giê-su không nếm; Ngài tắt thở.
Cả bốn Tin Mừng đều giữ lại sự cố nầy vì nhiều bản văn Kinh Thánh soi sáng cho nó. Chúng ta đọc ở Thánh vịnh 69 những tiếng rên rỉ của một người tôi trung, nạn nhân của lòng nhiệt thành đối với Đức Chúa.
14. Tiên báo một thế giới mới (15: 38-39).
Đức Giê-su vừa tắt thở. Thánh Mác-cô dẫn chứng hai sự kiện, cả hai đều giàu có ý nghĩa và bổ túc cho nhau:
1- "Bức màn trướng trong Đền Thờ bổng xé ra làm hai từ trên xuống dưới". Hoặc là bức màn cửa được giăng trong tiền sảnh; hay bức màn phân cách nơi thánh với nơi cực thánh ở đó chỉ vị thượng tế mới có thể bước vào, một năm một lần, để thực hiện nghi thức Xá Tội. Dù bức màn nào bị xé ra làm hai, ý nghĩa vẫn như nhau: "con đường đến với Thiên Chúa từ đây được mở rộng cho tất cả mọi người", việc Thiên Chúa tuyển chọn không còn quyền ưu tiên của dân Ít-ra-en: cái chết của Đức Giê-su trương rộng ra cho hết mọi người. Đền Thờ Giê-ru-sa-lem, biểu tượng của sự hiện diện của Thiên Chúa, đã không còn đóng vai trò của mình nữa; đền thờ thực sự của Thiên Chúa sẽ là "Thân Thể Phục Sinh" của Đức Ki tô – như chính Ngài đã công bố.
2- Viên đại đội trưởng đứng đối diện với Đức Giê-su, thấy Ngài tắt thở như vậy liền nói: "Quả thật, Người nầy là Con Thiên Chúa". Viên đội trưởng đã nghe nhiều lần những giọng nói ở giữa đám đông: "Người nầy tự xưng mình là Con Thiên Chúa". Ông lập lại diễn ngữ nầy, dù không hiểu hết mức độ của nó, nhưng bị thuyết phục, bởi những gì ông đã chứng kiến, rằng tội nhân nầy là một người Công Chính đặc biệt. Lời tuyên xưng nầy của viên đội trưởng là "dấu chỉ tiên báo cuộc hoán cải của thế giới lương dân"; đây là lời chứng đầu tiên về ơn cứu độ phổ quát mà việc bức màn của Đền Thờ bị xé ra làm hai loan báo.
15. Các người phụ nữ (15: 40-41).
Thánh ký trích dẫn đích danh ba người phụ nữ tín trung và đạo đức đứng xa xa, nhưng không xa lắm cảnh tượng Đức Giê-su đang hấp hối.
1- Trước tiên, "bà Ma-ri-a Mác-đa-la" (nghĩa là bà Ma-ri-a quê quán Mác-đa-la), người phụ nữ mà Đức Giê-su đã trừ bảy và từ đó bà luôn theo Đức Giê-su và phục vụ Ngài. Đừng lẫn lộn với người phụ nữ tội lỗi vô danh khóc sướt mướt về tội lỗi của mình (Lc 7: 36-50).
2- "Bà Ma-ri-a, mẹ các ông Gia-cô-bê thứ và Giô-sê". Chính hai ông nầy mà trước đây thánh Mác-cô gọi "anh em của Đức Giê-su" (Mc 6: 3). Quả thật, dường như bà Ma-ri-a, mẹ của hai ông, là bà con gần của Đức Trinh Nữ Ma-ri-a. Sự hiện diện của hai người phụ nữ nầy rất gần với bản văn của thánh Gio-an: "Đứng gần thập giá Đức Giê-su, có thân mẫu Người, chị của thân mẫu, bà Ma-ri-a vợ ông Cơ-lô-pát, cùng với bà Ma-ri-a Mác-đa-la" (Ga 19: 25). Danh xưng "chị" có thể chỉ chị họ. Có một truyền thống luôn luôn muốn rằng Tông Đồ Gia-cô-bê thứ là anh họ của Đức Giê-su – truyền thống nầy đã gặp thấy những âm vang trong nghệ thuật thánh.
3- Người phụ nữ thứ ba mà thánh Mác-cô nêu tên là "bà Sa-lô-mê" chung chung được nhận dạng là vợ ông Dê-bê-đê, mẹ của hai Tông Đồ Gioan và Gia-cô-bê (Một Gia-cô-bê khác, được gọi Gia-cô-bê trưởng). Chúng ta biết rằng thánh Gioan là vị Tông Đồ duy nhát hiện diện dưới chân thập giá. Mẹ của ông cũng vậy.
Vả lại, thánh ký xác định rằng có nhiều phụ nữ khác đến từ Ga-li-lê. Điều nầy xác minh những lo lắng của các thượng tế, họ sợ rằng trong đám người hành hương có những cảm tình viên của Đức Giê-su. Có lẽ những người phụ nữ nầy không đến một mình, nhưng với gia đình của họ, chồng, con vân vân. Những người Ga-li-lê nầy không thể hay không dám tỏ mình ra.
16. Mai táng Đức Giê-su (15: 42-47).
Theo tập tập Rô-ma, để có hiệu quả răn đe, xác của tội nhân phải bị bêu rếu trong nhiều ngày; nhưng luật Do thái hoàn toàn khác: hoàng hôn không được phủ bóng trên xác chết của tội nhân; sách Đệ Nhị Luật xác định rằng thi hài tội nhân phải được mai táng trước khi đêm xuống (Đnl 21: 22).
Mặt khác, nếu không có ai can thiệp, thi hài của Đức Giê-su có nguy cơ bị ném vào trong một hố chung cùng với thi hài của hai tử tội khác, và chỉ có quan tòa mới có thể quyết định cho nhận thi hài lại.
Cuối cùng, theo cách tính của người Do thái, chiều bắt đầu ngày sa-bát, ngày người ta phải kiêng tất cả mọi việc làm. Vì thế, việc mai táng phải gấp rút. Ấy vậy, có một ngôi mộ trống ở gần bên cuộc hành hình: một giải pháp nhanh và tạm thời. Chính đây là điều mà chủ nhân của ngôi mộ nầy nghĩ đến, ông là một môn đệ bí mật; ông chưa bao giờ dám bày tỏ sự thiện cảm của mình khi Đức Giê-su còn sống, vì ông là một thành viên Thượng Hội Đồng; ông là một trong những người giàu có thế giá chủ trì công nghị tối cao với các Kỳ Mục. Lúc đó, thu hết can đảm, ông mạnh dạn đến gặp tổng trấn Phi-la-tô xin thi hài Đức Giê-su. Viên tổng trấn chấp nhận luật Do thái bởi vì ông nghĩ rằng việc bêu xấu như tập tục Rô-ma là vô ích. Theo luật, tổng trấn phải giao lại thi hài cho gia đình của nạn nhân, nhưng có lẽ cuộc vận động của ông Giô-xếp, uy tín của một thành viên Thượng Hội Đồng, đã gây ấn tượng trên quan tổng trấn; mặt khác, ông Giô-xếp không thể nào hành động mà không có sự đồng ý của Đức Nữ Trinh.
Những biến cố sau cùng nầy khiến chúng ta không thể không nghĩ đến những lời của Đức Ki tô: "Nếu hạt lúa gieo vào lòng đất, mà không chết đi, thì nó vẫn trơ trọi một mình; còn nếu chết đi, nó mới sinh được nhiều hạt khác" (Ga 12: 24). Ngay khi Đức Giê-su vừa trút hơi thở cuối cùng, nhiều dấu hiệu cho thấy lời loan báo nầy xác thực: một viên đội trưởng công bố sự siêu việt của người tử tội nầy, đám đông ra về vừa đấm ngực ăn năn (thánh Lu-ca nói với chúng ta), một môn đệ bí mật vượt thắng nỗi sợ hãi của mình, viên tổng trấn Rô-ma chấp nhận lời thỉnh cầu ngoại lệ.
Vì thế, Đức Giê-su, sứ giả nghèo khổ nầy, vài ngày trước đây đã chấp nhận cho một người phụ nữ tội lỗi có lòng hối cải xức dầu thơm đắt tiền cho thân thể mình, nay được nghỉ yên trong ngôi mộ của một nhân vật giàu có, ngôi mộ hoàn toàn mới (những sản phẩm đầu mùa nầy không phải thuộc vào Thiên Chúa ư ?), như thử những dấu chỉ danh dự mai táng nầy là những dấu chỉ báo trước việc Ngài bước vào trong vinh quang!
Ngôi mộ thực tế là một phòng tang ở giữa có một băng ghế dài để đặt thi thể; ở phía trước là tiền sảnh; lối vào thì hẹp và thấp. Để lấp cửa mộ, người ta lăn một phiến đá lớn.
Thi hài Đức Giê-su được đặt ở trên băng ghế dài. Thánh Mác-cô nói với chúng ta bà Ma-ri-a Mác-đa-la và bà Ma-ri-a, mẹ ông Giô-sê quan sát cẩn thận những chi tiết của việc mai táng. Thế nên, chính hai bà vào sáng tinh sương ngày hôm sau sẽ là hai người đầu tiên chứng nhận ngôi mộ trống. Lời chứng của họ chẳng có giá trị gì.
Như vậy ngày đau thương được hoàn tất giữa những dấu ấn của lòng trung thành và tình yêu mến.
KẾT LUẬN:
Bài tường thuật của Mác-cô – như bài tường thuật của các thánh ký khác – được diển tả một cách rất đơn giản. Không một chi tiết bi thương nào được thêm vào cho bài tường thuật đơn giản nầy; những sự kiện tự nó đủ để nẩy sinh tình cảm.
Ba tấn thảm kịch được chồng chéo nhau trong cuộc thương khó của Đức Giê-su:
- tấn thảm kịch của việc dân Ít-ra-en từ chối;
- tấn thảm kịch của vị Thiên Chúa làm người;
- tấn thảm kịch của tội lỗi.
1. Tấn thảm kịch của việc dân Ít-ra-en từ chối:
Đức Giê-su đã công bố sứ điệp khó khăn, tuy nhiên không nhượng bộ và thỏa hiệp; Ngài đã lật đổ những ý tưởng cố hữu, kết án câu nệ luật và thói giả hình. Sự ghen tuông, rồi sự thù hận liên kết với nhau tấn công Ngài. Những vị lãnh đạo tôn giáo Ít-ra-en đã không chấp nhận nhận ra ở nơi Ngài Đấng Mê-si-a vì Ngài không đáp ứng đúng hình ảnh mà họ tự tạo nên. Việc họ quyết tâm ăn thua đủ với Ngài đã dẫn đến cái chết, nhưng không đến cái chết như họ nghĩ tưởng: Đức Giê-su đã chiến thắng cái chết, nhưng Ít-ra-en với tư cách dân thừa hưởng Lời Hứa, không còn hiện hữu nữa.
2. Tấn thảm kịch của vị Thiên Chúa làm người:
Khi đón nhận kiếp người, Đức Giê-su chấp nhận thân phận "sinh ly tử biệt". Vì thế, Ngài muốn đảm nhận cái chết trong tất cả sự khiếp sợ cùng với những đau khổ của nó. Những hoàn cảnh lịch sử đã khiến cho Ngài phải chịu khổ hình tàn bạo nhất được sử dụng vào thời Ngài. Số phận nầy nằm trong kế hoạch của Thiên Chúa: "Sở dĩ Chúa Cha yêu mến tôi, là vì tôi hy sinh mạng sống mình để rồi lấy lại. Mạng sống của tôi, không ai lấy đi được, nhưng chính tôi tự ý hy sinh mạng sống mình. Tôi có quyền hy sinh và có quyền lấy lại mạng sống ấy. Đó là mệnh lệnh của Cha tôi mà tôi nhận được" (Ga 10: 17-18). Đây là cử chỉ bác ái tột cùng: Đức Giê-su đã muốn chia sẻ số phận của những kẻ bị tra tấn, bị khổ hình, những người chết vì đạo, để tất cả những ai phải chết trong những khốn khổ thậm tệ nhất, và tất cả những ai phải chịu đau đớn về thể xác cũng như luân lý, gặp thấy trong cuộc thương khó của Ngài niềm an ủi tuyệt vời. Chúng ta nên lưu ý rằng ở đâu có sự hiện diện của Thiên Chúa ở đó có sự sung mãn: sự sung mãn của sự sống, sung mãn của những điều thiện hảo, sung mãn của ân sủng.
3. Tấm thảm kịch của tội lỗi:
"Nầy là Mình Thầy bị nộp vì anh em. Vì nầy là máu Thầy đổ ra để muôn người được tha tội". Đức Giê-su đã giải thích rõ cái chết của Ngài. Tuy nhiên, điều này chẳng là gì cả nếu chúng ta không để mình vào trong mầu nhiệm. Mầu nhiệm của "ơn Cứu Chuộc". Người cứu chuộc (gô-en), chính là người phục hồi nhân phẩm cho thành viên của gia đình bị hoạn nạn, và chuộc lại, nếu phải chịu cảnh đời nô lệ vì nợ nần. Chính đó là ý nghĩa đặc thù của từ ngữ Hy bá mà chúng ta dịch "Đấng cứu chuộc".
Bất chấp sự soi sáng thánh kinh nầy, biết bao câu hỏi nẩy sinh trong tâm trí chúng ta. Tội lỗi là gì? Một sự xúc phạm đến Sự Thiện. Ấy vậy, Sự Thiện, chính là Thiên Chúa hằng sống, Thiên Chúa chan chứa tình yêu, Đấng đã không muốn con người một mình gánh chịu những hậu quả của tội lỗi mình. Ngài đã sai Con Một Ngài để chia sẻ tận mức gánh nặng tội lỗi và xóa đi những vết nhơ của chúng ta. Đó là lý do tại sao Thập Giá là "vinh quang" của Thiên Chúa như thánh Gioan phát biểu.
Với Chúa Nhật Lễ Lá, chúng ta bước vào cuộc tưởng niệm con đường Thương Khó của Đức Giê-su.
Is 50: 4-7
Bài đọc I được trích từ tác phẩm của ngôn sứ I-sai-a đệ nhị. Vị ngôn sứ hé mở cho chúng ta Người Công Chính đau khổ, dưới dung mạo của Người Tôi Trung của Gia-vê, dù bị nhạo báng, bị lăng nhục, nhưng không đả kích và đặt trọn niềm tin tưởng vào Thiên Chúa.
Pl 2: 6-11
Tiếp đó, chúng ta suy niệm mầu nhiệm của Đức Giê-su tự hạ mình và được tôn vinh mà thánh Phao-lô họa lại trong thư gởi cho các tín hữu Phi-líp-phê dưới hình thức một bài thánh thi Ki tô học, bằng chứng đáng chú ý của Giáo Hội tiên khởi.
Mc 14: 1-12; 15: 1-47
Sau cùng, chúng ta sống lại cuộc thương khó của Đức Giê-su theo Tin Mừng Mác-cô, nhắc nhở chúng ta qua những con đường đau khổ và chết nào Đức Giê-su dẫn chúng ta đến sự sống.
BÀI ĐỌC I (Is 50: 4-7)
Với đoạn trích nầy chúng ta dự phần vào những xác tín của vị ngôn sứ. Chính nhờ thường hằng chuyên tâm lắng nghe Lời Chúa, suy niệm Lời Chúa hằng ngày, nên ông không tránh né sứ mạng của mình và "biết lựa lời mà nâng đỡ ai mệt mỏi chán chường". Vị ngôn sứ đã không nhận được bất cứ lòng biết ơn nào, nhưng trái lại những lời lăng mạ và khổ nhục. Ông bị đánh đòn, tra tấn (giật râu là một hình phạt rất đau đớn và sĩ nhục), chịu những lời mắng nhiếc, phỉ nhổ vào mặt, khinh bĩ đến tột cùng.
Nhưng "người tôi trung nầy" đặt niềm tin tưởng của mình ở nơi Đức Chúa; ông "trơ mặt ra", có nghĩa "kiên vững không hề nao núng". Thánh Lu-ca nói với chúng ta rằng "Đức Giê-su đã trơ mặt ra" khi Ngài lên Giê-ru-sa-lem để chịu cuộc Tử Nạn của Ngài, nghĩa là Ngài thu hết mọi can đảm và khẳng định ý muốn của Ngài.
Đoạn trích này thuộc bài ca thứ ba trong số bốn bài ca mà chúng ta gọi "các bài ca về Người Tôi Tớ đau khổ", và được đưa vào trong tác phẩm của ngôn sứ I-sai-a đệ nhị, vị ngôn sứ của thời cuối cùng của cuộc lưu đày Ba-by-lon, vào giữa thế kỷ thứ sáu trước Công Nguyên.
Chân dung của "Người Tôi Tớ" nầy lúc thì gợi lên dân Ít-ra-en (ngôn sứ I-sai-a đệ nhị thường gọi dân Ít-ra-en "người tôi tớ của Đức Chúa") lúc thì một cá nhân biệt phân và đón nhận một sư mạng riêng biệt. Vả lại, cách giải thích tập thể và cách giải thích cá nhân không loại trừ nhau; cả hai đều chồng chéo lên nhau trong nhiều đoạn văn.
Người tôi trung nầy xử sự với một cung cách dịu dàng và khiêm tốn (bài ca thứ nhất); ông được giao phó giải phóng dân Ít-ra-en và hoán cải muôn dân (bài ca thứ hai), ông phải chịu những bách hại và những lăng nhục (bài ca thứ ba), ông bằng lòng chịu chết một cách ô nhục, đoạn được tôn vinh (bài ca thứ tư).
Ở đây chúng ta ở một khúc quanh rất quan trọng của Mặc Khải. Cho đến lúc đó những viễn cảnh Mê-si-a nhắm đến một dung mạo của một vị vua vinh quang, thuộc dòng dõi vua Đa-vít, Đấng sẽ thiết lập triều đại công lý và hòa bình. Ấy vậy, vào lúc nầy không còn vua; vương triều đa-vít đã bị nhận chìm vào trong phong ba bảo táp; Đền Thờ Sa-lô-mon bị thiêu hủy, dân thành Giê-ru-sa-lem phải chịu cảnh đời tôi mọi và một phần lớn dân cư bị lưu đày. Đây là thời điểm thuận tiện để loan báo một sứ điệp mới. Qua trực giác của vị ngôn sứ, khoa sư phạm của Thiên Chúa bước một bước vĩ đại. Những sấm ngôn thuở xưa không hề bị hủy bỏ (Đấng Mê-si-a vẫn sẽ thuộc vào dòng dõi Đa-vít), nhưng điều mà những viễn cảnh mới hé mở, chính là sự can thiệp của "một người Thiên Chúa tuyển chọn", "một người Đức Chúa xức dầu tấn phong", Đấng nầy sẽ âm thầm hành động, bên ngoài trông có vẻ thất bại, chịu nhiều đau khổ và bị giết chết trước khi được tôn vinh.
1. Vị ngôn sứ bị lăng nhục:
Tất cả sấm ngôn bao gồm một khía cạnh đầu tiên, có thể đạt được ngay tức khắc cho những ai mà sứ điệp gởi đến.
Ở nơi nhân vật nhục nhã ê chề nầy phải nhận ra chính vị ngôn sứ. Được Thiên Chúa trao phó sứ mạng an ủi những người lưu đày bất hạnh, mệt mỏi chán chường, ông không lẫn tránh công việc phụ bạc nầy; ông cố giúp cho họ hiểu ý nghĩa của sự thử thách của họ, kêu mời họ hoán cải, hứa với họ một cuộc cứu thoát; ông vấp phải sự vô tri, ngờ vực và nổi cáu của những người đã nếm mùi đắng cay của một cuộc lưu đày dài lâu.
3. Người Công Chính bị bách hại:
Bên kia dung mạo của một vị ngôn sứ hiện hình dung mạo của Người Công Chính thập toàn. Bản văn mang một cung giọng Mê-si-a. Cũng chính Đức Giê-su sẽ thực hiện sứ mạng được giao phó cho Ngài trong một thái độ hoàn toàn vâng phục. Cũng chính Ngài sẽ mang Tin Mừng cho những người nghèo hèn khốn khổ. Như vị ngôn sứ vô tội, thay vì lòng biết ơn, Ngài sẽ bị đánh đập, nhục mạ, khổ hình mà "chẳng hổ ngươi và trơ mặt ra như đá vì biết mình sẽ không phải thẹn thùng".
Bài ca thứ ba nầy cho chúng ta cảm thấy trước bài ca thứ tư bi thương về Người Tôi Trung sẽ được đọc vào Thứ Sáu Tuần Thánh.
BÀI ĐỌC II (Pl 2: 6-11)
Đoạn trích thư của thánh Phao-lô gởi cho các tín hữu Phi-líp-phê là một bài thơ sáu khổ, theo thể văn xuôi có vần có điệu. Ba khổ thơ đầu tiên họa lại việc Đức Giê-su tự nguyện hạ mình, và ba khổ thơ còn lại, theo một chiều hướng ngược lại, thuật lại ba giai đoạn Cha Ngài tôn vinh Ngài.
Trong bức thư với giọng nói nồng nàn, đúng hơn thân quen nầy, chẳng có gì phải ngạc nhiên khi chúng ta gặp thấy những câu thơ khôn sánh như tuôn trào từ ngòi bút nầy. Người ta không biết phải chăng thánh Phao-lô là tác giả hay chỉ là người trích dẫn bài thánh thi giàu hình tượng nầy. Dù sao chúng ta cũng vẫn có một chứng liệu đáng chú ý, một trong những bản văn cổ xưa nhất về thần học Đức Ki tô; nhất là bài thơ nầy mang đến một lời chứng quý báu đầu tiên (trước cả Tựa Ngôn của thánh Gio-an) về niềm tin nguyên khởi vào cuộc sống tiền hữu của Đức Giê-su.
1. Ba giai đoạn tự hạ:
1- Đức Giê-su, tuy vẫn là Thiên Chúa, từ bỏ không chỉ Thiên Tính nhưng còn cả vinh quang vốn dĩ nội tại ở nơi Ngài.
2- Ngài tự hủy mình ra hư không, mặc lấy thân nô lệ thấp hèn, sống kiếp phàm nhân, để chia sẻ tận cùng những cảnh đời cơ cực yếu hèn của con người (ngoại trừ tội lỗi).
3- Ngài còn tự hạ hơn nữa khi vâng lời chấp nhận chết ô nhục trên thập giá.
2- Ba giai đoạn vinh quang:
1- Thiên Chúa đã siêu tôn Ngài và tặng ban cho Ngài danh hiệu. Danh ở đây mang lấy một ý nghĩa tuyệt đối, nghĩa là chỉ dành riêng cho một mình Ngài. Đây là Danh của Đức Chúa, Danh mà trong truyền thống Do thái dành riêng để chỉ danh khôn tả của Thiên Chúa như phần tiếp theo chỉ cho thấy: "trổi vượt trên muôn ngàn danh hiệu", vì thế, "vừa nghe danh thánh Giê-su, cả trên trời dưới đất, vf trong cõi âm ty, muôn vật phải bái quỳ".
Diễn ngữ "cả trên trời dưới đất và trong cõi âm ty" chỉ toàn thể vũ trụ. Điều nầy muốn nói rằng không chỉ nhân loại, nhưng ngay cả toàn thể mọi tạo vật ddefu phải cung kính thờ lạy Ngài. Đó cũng là chủ đề được gặp thấy trong sách Khải Huyền: "Tôi lại nghe mọi tạo vật trên trời, dưới đất, trong lòng đất, ngoài biển khơi và vạn vật ở các nơi đó, tất cả đều tung hô: Xin kính dâng Đấng ngự trên ngai và Con Chiên lời chúc tụng cùng danh dự, vinh quang và quyền năng đến muôn thuở muôn đời" (Kh 5: 13).
3. Mẫu gương của Đức Giê-su:
Thánh Phao-lô rất mực yêu mến Giáo Đoàn Phi-líp-phê mà thánh nhân đã thiết lập vào năm 49-50 và là cộng đồng Ki tô hữu đầu tiên trên vùng đất Châu Âu. Phi-líp-phê là một thành phố quan trọng của miền Ma-xê-đoan; thành phố mang tên vua Phi-líp-phê, thân phụ của đại đế Alexandre, người đã xâm chiếm thành nầy vào năm 360 trước Công Nguyên.
Khi viết cho các tín hữu Phi-líp-phê, thánh Phao-lô đang bị giam cầm có thể ở Ê-phê-sô. Thánh nhân mong ước các tín hữu Phi-líp-phê thân yêu của ngài sống trong sự hiệp nhất và nhất là trong sự khiêm hạ sâu xa. Thánh nhân lấy Đức Ki tô làm mẫu gương cho họ noi theo.
TIN MỪNG (Mc 14: 1-15, 47)
Như các thánh ký khác, thánh Mác-cô dành một vị thế quan trọng cho bài tường thuật cuộc Tử Nạn của Đức Ki tô. Như vậy chúng ta có chứng từ làm chứng rằng Giáo Hội tiên khởi đã hiểu: biến cố đồi Can-vê không là một tình tiết xấu hổ và nhục nhã mà biến cố Phục Sinh đến để tẩy xóa đi, nhưng trái lại là tuyệt đỉnh công trình yêu thương của Thiên Chúa cho nhân loại, là nơi Đức Giê-su hoàn tất sứ mạng cứu độ. Các Ki tô hữu tiên khởi đảm nhận sự thách đố của Thập Giá, bất chấp Thập Giá gây nên sự kỳ chướng đối với lương dân.
Thánh Mác-cô đặc biệt dọi chiếu sự mâu thuẩn của những hoàn cảnh: dù bị nhạo báng, nhục mạ, bị kết án khổ hình ô nhục, nhưng Đức Giê-su vẫn khẳng định quyền năng và tính siêu việt của Ngài với một phẩm chất cao vời.
I. KHÚC DẠO ĐẦU (14: 1-11):
Trước khi bắt đầu bài tường thuật của mình, thánh Mác-cô gợi lên ba tình tiết dạo đầu: âm mưu của những thủ lãnh Do thái giáo, xức dầu tại Bê-ta-ni-a, cuộc phản bội của Giu-đa.
1. Âm mưu của các thủ lãnh Do thái giáo (14: 1-2):
Thánh ký định vị cuộc họp bàn của các thượng tế và các kinh sư hai ngày trước các ngày lễ. Thế nên, họ bàn tính với nhau phải dùng mưu bắt Đức Giê-su như thế nào để không làm dân chúng náo động. Điều nầy cho thấy Ngài rất được lòng dân chúng. Không phải đám đông tung hô Ngài khi Ngài vào Thành Thánh sao? Vì thế, tốt hơn nên đợi khi các ngày lễ chấm dứt, lúc đó không còn có dân chúng quy tụ đông đúc ở Giê-ru-sa-lem.
Ấy vậy, lễ Vượt Qua nói riêng kéo dài một ngày; lễ Bánh Không Men thêm bảy ngày nữa. Vì thế, các vị thủ lãnh đồng ý "hoãn lại thêm một tuần nữa trước khi ra tay hành động".
Nhưng những biến cố sắp xảy đến nhanh hơn người ta mong muốn; việc Giu-đa phản bội thúc bách mọi việc; đó là lý do tại sao họ ra sức xúi dục dân chúng chống lại Đức Giê-su vì họ lo sợ đám đông đổi ý.
Khi đặt vào đầu bài tường thuật của mình quyết định của giai cấp lãnh đạo Ít-ra-en: "Không nên làm vào chính ngày lễ" vì có nhiều trở ngại, thánh ký hàm ý nhấn mạnh rằng thực tế, chính Đức Giê-su dẫn dắt các biến cố bất chấp những sự kiện bên ngoài. Ngài sẽ chết, như Ngài đã loan báo, thậm chí vào chính lễ Vượt Qua; chính xác từ khung cảnh lễ Vượt Qua mà việc thiết lập bàn tiệc Thánh Thể và cuộc Tử Nạn nhận được ý nghĩa sâu xa của chúng: Đức Giê-su vừa con chiên chịu sát tế vừa tấm bánh hoàn toàn mới và tinh tuyền.
2. Xức dầu ở Bê-ta-ni-a (14: 3-9):
Bê-ta-ni-a là một ngôi làng được định vị ở phía đông Giê-ru-sa-lem, bên kia đồi Ô-liu. Chính ở nơi ngôi làng nầy mà ba chị em: La-da-rô, bà Ma-ri-a và bà Mát-ta, ở.
Chúng ta không biết ông Si-mon Cùi nầy là ai. Chắc chắn ông không còn bị bệnh cùi nữa, bởi vì ông đón tiếp khách vào nhà mình (thánh Giê-rôm đưa ra giả thuyết rằng ông đã được Đức Giê-su chữa lành).
Thánh Mác-cô không nêu tên người phụ nữ đổ dầu thơm đắt tiền trên đầu Đức Giê-su. Cử chỉ nầy giả sử rằng Đức Giê-su ngồi tựa vào gối dựa, trước một cái bàn thấp, theo cách đông phương. Trong số những nghi thức hiếu khách, xức dầu thơm trên đầu khách là một dấu hiệu tỏ bày lòng kính trọng và vinh dự. Những bình dầu thơm cổ dài cho phép chỉ đổ từng giọt dầu thơm quý giá nầy. Nhưng người phụ nữ nầy "đập vỡ bình ra, đổ dầu thơm trên đầu Ngài" để dầu thơm được chảy tràn đầu Ngài; cô muốn bày tỏ rằng cô nhận ra ở nơi Đức Giê-su một vị khách đặc biệt xứng với một hành vi quảng đại ngoại lệ.
Vài môn đệ (trong số đó có ông Giu-đa, theo Tin Mừng Gio-an) chỉ thấy quá phí của. Nhưng Đức Giê-su nhấn mạnh hai giá trị của cử chỉ người phụ nữ nầy: "giá trị hiện tại": một việc nghĩa ma cô ấy làm cho Ngài, bởi vì chẳng bao lâu nữa Ngài sẽ không còn hiện diện ở giữa họ; "ý nghĩa ngôn sứ": thân thể nầy mà người phụ nữ xức dầu thơm chẳng bao lâu sẽ bị giết chết, đoạn được mai táng hấp tấp nên không đón nhận những vinh dự khâm liệm như tập tục dành cho những người qua đời. Người phụ nữ đã tham dự trước nghi thức mai táng. Đây là cách thức mới, Đức Giê-su loan báo cái chết sắp đến của Ngài.
Ngầm chứa ở nơi lời nói của Đức Ki tô, chúng ta nhận ra hai loại "việc thiện" mà người Do thái thường phân biệt: bố thí cho người nghèo và lòng thành kính đối với những người qua đời.
3. Tên Giu-đa phản bội (14: 10-11):
Ông Giu-đa, một trong Nhóm Mười Hai. Qua những từ ngữ giản dị nầy, thánh Mác-cô làm nổi bật sự ghê tởm của hành động phản bội. Đây là một trong những đau khổ thấm thía nhất của Đức Giê-su, vào đêm bi thảm nầy: một trong các môn đệ thân yêu của Ngài, một trong những người đồng hành mà Ngài đã chọn, đã nộp Ngài cho quân thù Ngài. Nhiều lần Ngài để lộ nỗi đau khổ của Ngài – vào lúc rửa chân và vào lúc thiết lập Bàn Tiệc Thánh Thể.
Ông Giu-đa sắp ra đi gặp các vị thượng tế. Ông tìm đúng người đúng chỗ. Chính ở nơi nhóm nầy mà sự cuồng tín làm sôi sục lòng căm ghét. Chính xác họ vừa mới quyết định thủ tiêu Đức Giê-su. Họ gặp thấy ở nơi Giu-đa một kẻ cộng tác bất ngờ và hứa cho ông tiền, tiền làm sáng mắt tên phản bội, kẻ hám lợi. Thánh Gio-an đã phác họa Giu-đa là "một tên ăn cắp": y giữ túi tiền và thường lấy cho mình những gì người ta bỏ vào quỷ chung (Ga 12: 6). Thiên Chúa dùng những ti tiện của con người để thực hiện ý muốn của Ngài.
II. LỄ VƯỢT QUA VÀ BÀN TIỆC THÁNH THỂ (14: 12-25):
1. Chuẩn bị ăn lễ Vượt Qua (14: 12-16):
"Ngày thứ nhất trong tuần Bánh Không Men, là ngày giết chiên mừng lễ Vượt Qua". Hai ngày đại lễ nầy từ lâu được cử hành cùng một cặp song đôi với nhau: vào lễ Vượt Qua, lễ của những người chăn nuôi, họ giết một con chiên tơ, và lễ Bánh Không Men, lễ của những người trồng trọt, họ dâng hiến những sản phẩm đầu mùa và làm bánh không men với những hạt lúa mạch đầu tiên. Việc hiệp nhất hai lễ nầy đã trở nên dể dàng hơn vì bữa ăn lễ Vượt Qua cũng bao gồm bánh không men.
Lễ Vượt Qua buộc phải được cử hành ở Giê-ru-sa-lem; bữa ăn con chiên, bị sát tế trong khuôn viên Đền Thờ, "phải được ăn ở trong thành". Điều nầy khiến các môn đệ bận tâm. Đức Giê-su là một tôn sư lưu động không nơi cố định; thêm nữa, Ngài là người Ga-li-lê. Vì thế, họ hỏi Ngài: "Thầy muốn chúng con đi dọn cho Thầy ăn lễ Vượt Qua ở đâu?".
Hoạt cảnh theo sau giống đến kỳ lạ với hoạt cảnh trước đó khi Đức Giê-su vào thành Giê-ru-sa-lem với tư cách là Đấng Mê-si-a: Đức Giê-su sai hai môn đệ đi trước, họ sẽ gặp thấy mọi việc như Ngài đã mô tả cho họ. Trong trường hợp thứ nhất: một con lừa con đang cột sẳn ở đó; còn ở đây, một người mang vò nước đến gặp hai ông. Cả hai lần, những biến cố xảy ra đúng như Chúa Giê-su mong muốn: người ta để cho hai ông dắt con lừa đi; người mang vò nước dẫn hai môn đệ vào nhà và chỉ cho hai ông một phòng đã được chuẩn bị sẳn sàng cho Ngài với các môn đệ cử hành lễ Vượt Qua. Thánh ký muốn nói rằng Đức Giê-su đã dự liệu tất cả, chính Ngài tổ chức lễ Vượt Qua sau cùng nầy như trước đây Ngài đã tổ chức cuộc tiến vào thành Giê-ru-sa-lem.
2. Loan báo Giu-đa phản bội (14: 17-21):
Cả bốn Tin Mừng đều thuật lại lời tiên báo nầy của Đức Giê-su: "Có người trong anh em sẽ nộp Thầy". Cả bốn đều nhấn mạnh Giu-đa cùng ngồi đồng bàn với Đức Giê-su (thánh Gio-an xác định: "chia sẻ cùng một miếng bánh"). Theo quan niệm xưa, "ngồi đồng bàn" đồng nghĩa "cùng chung một hội một thuyền" sống chết có nhau. Như thế, sự phản bội nêu bật thái độ vô liêm sỉ.
Đức Giê-su tế nhị không chỉ rõ ai hết. Những lời: "Chính là một trong Nhóm Mười Hai đây, mà là một người đang chấm chung một đĩa với Thầy" thật mơ hồ, vì theo tập quán, mọi người đều cùng chấm chung một đĩa.
Bầu khí trở nên ngột ngạt. Ấy vậy, trong những hoàn cảnh trang nghiêm, Đức Giê-su thích gợi lên tước hiệu "Con Người" để nói về sứ mạng của mình. Dưới tước hiệu nầy, Ngài ẩn dấu mầu nhiệm của mình: "Đã hẳn, Con Người ra đi theo như lời đã chép về Người".
Còn về những lời: "Nhưng khốn cho kẻ nào nộp Con Người: thà kẻ đó đừng sinh ra thì hơn!", không thể nào nghĩ là lời nguyền rủa từ miệng Đức Giê-su vào giờ Ngài sẽ đổ máu mình để xóa tội nhân loại; nhưng đúng hơn là một lời ghi nhận đượm nỗi buồn phiền. Giả như hắn đừng sinh ra, thì sẽ không phạm một tội ác tày trời như vậy. Đức Giê-su không bao giờ nguyền rủa. Quả thật, Ngài đã đe dọa khi loan báo những trừng phạt: "Khốn cho các ngươi…", nhưng đây không là những lời nguyền rủa.
3. Thiết lập Bàn Tiệc Thánh Thể (14: 22-25):
Lễ Vượt Qua Do thái, mà Đức Giê-su cử hành với các môn đệ thành bữa Tiệc Ly, được biến thành lễ Vượt Qua Ki tô giáo bởi việc thiết lập Bàn Tiệc Thánh Thể: vừa nối tiếp vừa đoạn tuyệt: song đối sâu xa và mới mẻ tận căn.
Lễ Vượt Qua Do thái tưởng niệm cuộc giải phóng dân Ít-ra-en khỏi cảnh đời nô lệ bên Ai-cập, nhờ vào máu con chiên được bôi trên cửa nhà của người Do-thái. Nhờ dấu hiệu nầy, Thiên Chúa đã nhận ra dân của Ngài nên đã tha chết cho họ.
Đức Giê-su loan báo cuộc giải phóng khỏi cảnh đời nô lệ tội lỗi nhờ máu Ngài "đổ ra vì muôn người". Về phương diện lịch sử, cuộc giải phóng khỏi Ai-cập đã hình thành nên dân Ít-ra-en như dân Chúa chọn và cuộc tuyển chọn nầy đã được hiến thánh trên núi thánh Xi-nai, bởi Giao Ước Cũ.
Nhờ ân ban thân thể của Ngài và máu của Ngài, được chia sẻ ở giữa mọi người, Đức Giê-su thiết lập một dân Chúa chọn mới; Giao Ước Mới được đóng dấu trong máu của Ngài. Ở nơi bàn tiệc Thánh Thể, Đức Giê-su tham dự trước vừa cuộc Tử Nạn của Ngài vừa cuộc Phục Sinh của Ngài.
Nếu khung cảnh lễ Vượt Qua soi sáng sự biến đổi kỳ diệu của việc cử hành xưa như vậy, thì bữa ăn nầy cũng là bữa tiệc ly, mặc khải tất cả khía cạnh thống thiết của nó: Đức Giê-su sắp từ biệt các môn đệ của mình, những người mà Ngài yêu thương, những người mà Ngài trao phó truyền đạt sứ điệp của Ngài; Ngài không muốn để họ lại một mình; Ngài gặp thấy phương tiện để ở lại với họ, bằng cách thiết lập quà tặng kỳ diệu này, quà tặng của chính bản thân mình, nhờ đó các Tông Đồ cũng như những người kế nghiệp các ngài có thể lưu truyền mãi mãi. Chỉ duy một mình Thiên Chúa mới có thể vừa ra đi vừa ở lại.
Thánh Mác-cô cũng nhấn mạnh "giá trị cánh chung" của "bàn tiệc Thánh Thể". Bàn tiệc này là một sự tiếp cận, một sự tham dự trước bàn tiệc Thiên Quốc: "Thầy bảo thật anh em: chẳng bao giờ Thầy còn uống sản phẩm của cây nho nữa, cho đến ngày Thầy uống thứ rượu mới trong Nước Thiên Chúa".
Cuộc sống tương lai thường thường được biểu thị như bàn tiệc; và rượu nho như một trong những dấu chỉ của "niềm vui thời Mê-si-a" và niềm vui muôn đời của thế giới sắp đến. Đây đã là một trong những ý nghĩa của phép lạ tiệc cưới Ca-na, tự nó là khúc dạo dầu của phép lạ bàn tiệc Thánh Thể. Nước biến thành rượu đáp ứng với rược biến thành máu.
4. Tiên báo mọi người sẽ vấp ngã và ông Phê-rô sẽ chối Thầy (14: 26-31):
Đoạn văn này chứa đựng một chi tiết quý báu: "Hát Thánh vịnh xong…" Đây chính là thánh thi tạ ơn được gọi "Hallel", mà người ta hát sau bữa ăn Vượt Qua. Bài thánh thi tạ ơn này được trích từ các thánh vịnh 113-118 (một trong những Thánh vịnh nầy đã được trích dẫn rồi trong bữa ăn); như vậy, bữa Tiệc Ly của Đức Giê-su đích thực là bữa ăn Vượt Qua, ít ra theo các Tin Mừng Nhất Lãm.
Đức Giê-su và các môn đệ của Ngài rời phòng tiệc; họ đi xuống thung lũng Xê-ron phân cách Giê-ru-sa-lem với núi Ô-liu. Trên đường, Đức Giê-su báo trước cho tất cả họ: "Tất cả anh em sẽ vấp ngã". Ngài nhắc lại cho họ sấm ngôn của ngôn sứ Da-ca-ri-a 13: 7-9: "Ta sẽ đánh người chăn chiên, và chiên sẽ tan tác". Vị ngôn sứ nầy đã loan báo rằng thời cứu độ sẽ được đi trước bởi một cơn thử thách lớn lao giáng xuống trên một phần dân Thiên Chúa để thanh tẩy họ; "nhóm còn lại" nầy bất ngờ không có người chăn dắt; vào lúc đó họ sẳn sàng đón nhận Giao Ước Mới…
Để an ủi các ông, Ngài loan báo cho các ông rằng Ngài sẽ gặp lại các ông ở Ga-li-lê, sau khi Ngài sống lại. Về việc các ông sẽ vấp ngã vì Ngài, với một giọng trìu mến, Ngài cho hiểu rằng Ngài sẽ không tính sổ với họ; Ngài cho họ một cuộc hẹn gặp rồi.
Thánh Phê-rô hăm hở cam đoan: "Dầu tất cả có vấp ngã đi nứa, thì con cũng nhất định là không". Đức Giê-su trả lời với ông là nội trong đêm nay ông sẽ chối Ngài ba lần. Nhưng thánh Phê-rô lại càng quả quyết hơn và tất cả mọi người cũng đều quả quyết như vậy.
Chúng ta ghi nhận rằng thánh Mác-cô nhắc lại tính tự phụ của các môn đệ, đặc biệt là thánh Phê-rô; chắc chắn đây là âm vang của vị lãnh tụ các Tông Đồ và… về sự khiêm hạ của ông. Cuối cùng, thánh ký nhiều lần nêu bật Đức Giê-su quán triệt mọi người và mọi việc: Ngài biết rõ những gì sắp xảy đến.
III. CON ĐƯỜNG THƯƠNG KHÓ (14: 32-15: 47):
1. Cơn hấp hối ở vườn Ghết-sê-ma-ni (14: 32-42):
Trên triền đồi Ô-liu có một khu vườn được gọi Ghết-sê-m-ni. Đức Giê-su với các môn đệ của Ngài rút vào trong khu vườn nầy. Khi cuộc khổ nạn của Ngài đến gần, Đức Giê-su cảm thấy hãi hùng và xao xuyến. Không thể nào chịu đựng nỗi một mình, Ngài dẫn theo với mình ba Tông đồ, họ đã là nhân chứng về cuộc Biến Hình của Ngài: thánh Phê-rô, thánh Gia-cô-bê và thánh Gio-an. Trước thân phận yếu nhược làm người của Ngài, sự hiện diện của họ là nguồn an ủi cho Ngài. Mác-cô là thánh ký duy nhất xác định rằng Đức Giê-su đi cách ba vị Tông Đồ "xa hơn một chút", vì thế, họ có thể nghe được những lời khẩn nguyện van xin của Ngài và thấy Ngài sấp mình xuống đất.
1.1- Đức Giê-su sấp mình xuống đất mà cầu nguyện:
Cử chỉ "sấp mình xuống đất" cho thấy thân xác yếu nhược của Đức Giê-su, nhưng cũng là thái độ cầu nguyện khiêm tốn và khẩn thiết. Không có nơi nào trong Tin Mừng mô tả Đức Giê-su cầu nguyện như thế cả.
Thánh Mác-cô nhấn mạnh sự mật thiết của Đức Giê-su như Người Con đối với Cha Mình khi Ngài cầu nguyện. Chính trong sự hiêp thông của Ngài với Cha Ngài mà Đức Giê-su lấy lại sức mạnh chế ngự nỗi sợ hãi và cõi lòng xao xuyến của Ngài, và hoàn toàn chấp nhận cuộc Tử Nạn sắp đến của Ngài.
"Áp-ba, Cha ơi, xin cất chén nầy xa con!". Chén là hình ảnh kinh thánh để nói lên một sự thử thách, một vận mệnh đau thương; đồng thời nó cũng gợi lên chén máu của hy lễ.
"Nhưng xin đừng làm điều con muốn, mà làm điều cha muốn". Đức Giê-su không giao phó cuộc chiến nội tâm mà đối tượng sẽ là vâng lời hay không vâng lời cho ý muốn của Cha Ngài; Ngài là "một" với Cha Ngài; chỉ có một ý muốn duy nhất của Thiên Chúa, một kế hoạch duy nhất của Thiên Chúa. Nỗi xao xuyến của Đức Giê-su bàn về "phương tiện" nhờ đó ý muốn duy nhất nầy phải được thực hiện. Nỗi xao xuyến của vườn Ghết-sê-ma-ni không phải không nhắc lại sự thử thách ở sa mạc ở đó cuộc tranh luận nội tâm bàn về phương cách theo đó Đức Giê-su sẽ thực hiện sứ mạng của Ngài.
1.2- Các môn đệ:
Ba lần Đức Giê-su trở lại với ba người bạn của mình. Thật cảm động biết bao vị Thiên Chúa làm người toan tính dựa vào những anh em nhân loại của mình trong nỗi buồn phiền vô hạn của mình. Nhưng thất vọng biết bao! Những môn đệ rốt cuộc không thể cưỡng kháng được giấc ngủ. Qua bài tường thuật của thánh Mác-cô, chúng ta nhận thức những ân hận của Phê-rô. Những lời quở trách của Đức Giê-su vẫn hằn sâu trong tâm khảm của ông: "Si-mon, anh ngủ à ? Anh không thức nổi một giờ sao…!"
Lần thứ ba Đức Giê-su không còn mong chờ sự nâng đỡ nào từ họ: "Lúc nầy mà còn ngủ, còn nghỉ sao ? Thôi, đủ rồi. Giờ đã điểm…". Đức Giê-su hoàn toàn cô độc trong cơn hấp hối ở vườn Ghết-sê-ma-ni.
2. Đức Giê-su bị bắt (14: 43-47):
Thánh Mác-cô nhắc lại thêm một lần nữa rằng Giu-đa là một trong Nhóm Mười Hai để nêu bật cách hành xử ô nhục của hắn.
Tên phản bội biết nơi chốn; hắn biết rằng Đức Giê-su thường đến đây; hắn không lầm khi dẫn đến đây đội cận vệ Thượng Hội Đồng được trang bị gươm giáo được "các thượng tế, kinh sư và kỳ mục sai đến", và chắc chắn kéo theo những thành phần vô lại nhặt những gậy gộc trên đường.
Những kẻ lãnh nhiệm vụ bắt Đức Giê-su lại không biết Ngài, dù sao trong đêm tối có nguy cơ nhầm lẫn. Giu-đa đã ước định một ám hiệu: một nụ hôn. Cử chỉ thật ghê tởm nhưng không khác thường; một môn đệ thường chào thầy mình theo cách nầy; nhưng Giu-đa đã cho nó một ý nghĩa khác: dấu hiệu nộp Thầy mình: "Tôi hôn ai thì chính là người đó. Các anh bắt lấy và điệu đi cho cẩn thận !".
"Nhưng một trong những kẻ có mặt tại đó tuốt gươm ra, chém phải tên đầy tớ của thượng tế làm nó đứt tai". Nhờ Tin Mừng Gio-an, chúng ta biết rằng tác giả của hành động nầy là Phê-rô, và nhờ Tin Mừng Lu-ca, tai bị chém đứt là tai phải (những chi thể được định vị ở bên phải được xem như quý hơn những chi thể ở bên trái). Dường như một vết thương ở bên phải là dấu hiệu sỉ nhục.
3. Các môn đệ bỏ Ngài mà chạy trốn (14: 48-52):
Đức Giê-su phản đối việc bắt Ngài một cách vụng trộm, vào lúc đêm tối. Chắc chắn đây không là đám đông đã nghe Ngài khi Ngài giảng dạy trong Đền Thờ và vẫy cành lá tung hô Ngài vài ngày trước đây.
"Nhưng thế nầy là để lời Sách Thánh được ứng nghiệm". Đức Giê-su quy chiếu đến bài ca Người Tôi Tớ chịu đau khổ mà Ngài đã áp dụng nhiều lần vào vận mệnh của chính mình.
"Bấy giờ, các môn đệ bỏ Người mà chạy trốn hết". Trước những người xét xử Ngài, Đức Giê-su sẽ không có bất kỳ người bào chữa nào, bất kỳ nhân chứng nào bênh vực Ngài; Ngài một mình bước đi trên con đường Thương Khó của mình.
Tuy nhiên, hai Tông Đồ quay trở lại mà theo Ngài xa xa, vào tận bên trong dinh thượng tế Cai-pha; nhưng một trong hai người sẽ chối Ngài. Chỉ một mình thánh Gioan sẽ hiện diện dưới chân thập giá.
Thánh Mác-cô là vị thánh ký duy nhất đã ghi nhận một sự cố lạ thường: "Trong khi đó, có một cậu thanh niên theo Người, mình khoắc vỏn vẹn một tấm vải gai. Họ túm lấy anh. Anh liền trút tấm vải gòn lại, bỏ chạy trần truồng". Nhiều nhà chú giải nghĩ rằng chàng thanh niên nầy là thánh Mác-cô, thánh ký tương lai.
4. Đức Giê-su ra trước Thượng Hội Đồng (14: 53-65):
Đức Giê-su bị điệu đến dinh thượng tế. Thanh Mác-cô không nêu tên vị thượng tế nầy. Đây có lẽ là Cai-pha, vị thượng tế đương nhiệm (thánh Gioan là thánh ký duy nhất nêu lên việc Đức Giê-su bị điệu ra trước vị cựu thượng tế Kha-nan, bố vợ của Cai-pha). Dù thế nào, đây là dinh thượng tế nơi mà các thành viên của Thượng Hội Đồng nhóm họp, nghĩa là Công Nghị tối cao của người Do thái.
Như thánh Mác-cô cho biết, Thượng Hội Đồng bao gồm ba loại thành viên:
- Các lãnh tụ tư tế (thượng tế, các cựu thượng tế và các tư tế đảm trách chức vụ thường hằng ở Đên Thờ).
- Các Kỳ Mục là những bậc vị vọng, những chủ nhân giàu có, những nhà quý phái.
- Các kinh sư là những tiến sĩ Luật, đa số giáo dân, thuộc vào tầng lớp trung lưu hay thậm chí khiêm tốn. Phần lớn là những người Biệt Phái.
Thượng Hội Đồng gồm có bảy mươi thành viên không kể vị thượng tế đương nhiệm. Để có thể tiên hành phiên xử, cần phải có tối thiểu hai mươi ba thành viên. Chắc chắn có hơn nhiều vào đêm Đức Giê-su bị điệu đến.
Thượng Hội Đồng tiến hành sự thẩm cứu pháp lý cho qua chuyện, sự thẩm cứu được định hướng sẳn rồi, bởi vì thật ra bản án được quyết định rồi. Tuy nhiên, Đức Giê-su cần phải ra trước tòa án Do thái. Nếu Ngài bị nộp trức tiếp cho chính quyền Rô-ma, Ngài sẽ chung số phận với những người kháng khiến và hưởng được vinh quang tử vì đạo. Án tử cần phải trước hết đến từ giáo quyền Ít-ra-en, để làm mất uy tín Đức Giê-su.
Thánh Mác-cô nhấn mạnh những lời chứng lộn xộn và những chứng nhân không thể đưa ra chứng cớ buộc tội Ngài được. Đối mặt với họ, Đức Giê-su thật trầm tỉnh và uy nghi, khẳng định rõ ràng phẩm tính của Đấng Mê-si-a và Con Thiên Chúa của Ngài và nhận cho mình những đặc quyền của Con Người mà ngôn sứ Đa-ni-en thoáng thấy: "Rồi các ông sẽ thấy Con Người ngự bên hữu Đấng Toàn Năng và ngự giá mây tròi mà đến". Đức Giê-su quả quyết: "Rồi các ông sẽ thấy". Quả thật, trong ba ngày nữa Ngài sẽ sống lại và chẳng bao lâu sau Giáo Hội của Ngài sẽ chiến thắng và trong vài năm nữa kinh thành Giê-ru-sa-lem và Đền Thờ sẽ bị phá hủy…
Như vậy cho đến lúc đó Đức Giê-su bao phủ chung quanh con người của Ngài một mầu nhiệm nào đó, dù hiện giờ bị xiềng xích và bị sỉ nhục, Ngài vẫn lớn tiếng công bố sự siêu việt của Ngài.
Lúc đó vị thượng tế kêu mời tất cả thành viên Thượng Hội Đồng làm chứng. Cần phải có tối thiểu hai nhân chứng có đủ chứng cớ buộc tội để có thể công bố bản án. Chẳng cần nhân chứng nào nữa: tất cả họ vừa mới nghe lời phạm thượng và có thể làm chứng điều nầy!
Vị thượng tế làm trò xé áo mình. Theo tập tục chung, xé áo mình là dấu chỉ tang chế. Người ta gặp thấy nghi thức nầy tại dân Ba-by-lon cũng như tại dân Do thái. Nhưng vị thượng tế không có quyền xé áo mình cho một tang chế riêng tư (Lv 21: 10); ông phải dành riêng cử chỉ nầy cho những hoàn cảnh nghiêm trọng, công cộng, nhất là khi thi hành chức vụ thẩm phán của mình, ông phải công bố sự phẩn nộ của mình.
Làm thế nào người ta có thể biết được những chi tiết và những diễn biến của phiên họp Thượng Hội Đồng nầy ? Câu trả lời thật đơn giản. Trong số các thành viên Thượng Hội Đồng có những cảm tình viên của Đức Giê-su, như ông Giô-xếp thành A-ri-ma-thê và có lẽ ông Ni-cô-đê-mô. Vả lại sau nầy, theo lời chứng của sách Công Vụ (6: 7), có rất đông tư tế đón nhận đức tin.
Ngay từ phiên xử đầu tiên, Đức Giê-su chịu những nhục nhã ê chề: khạc nhổ vào mặt, lăng mạ, đánh đập. Thánh Mác-cô không bỏ qua những chi tiết tàn bạo nào.
5. Phê-rô chối Thầy và hối hận ăn năn (14: 66-72):
Vào lúc Đức Giê-su bị bắt, ông Phê-rô trốn chạy, như tất cả các môn đệ khác. Đoạn ông trấn tĩnh, cũng như một "người môn đệ khác", có lẽ là thánh Gioan, và cả hai theo xa xa đội cảnh vệ đang áp tải Đức Giê-su đi.
Trong khi thánh Gioan quen biết vị thượng tế (Ga 18: 15) nên được đi vào bên trong dinh thượng tế, còn thánh Phê-rô đứng ở sân ngoài gần cổng ở đó những người túc trực đã nhóm một lò lửa để sưởi ấm.
Cả bốn Tin Mừng đều tường thuật hoạt cảnh thánh Phê-rô chối Thầy. Đáng lưu ý là vị lãnh tụ Giáo Hội đã để lưu truyền cho thế hệ sau tình tiết nầy làm mất thể diện của ông và chỉ mình ông mới có thể cung cấp những chi tiết. Thánh Mác-cô là cộng tác viên thân cận của thánh nhân, chính xác là một trong các tác giả Tin Mừng nhấn mạnh nhất khuyết điểm nầy.
Sự khiêm hạ của vị lãnh tụ các Tông Đồ, những hối hận sâu xa của thánh nhân trước sự vấp ngã nầy được bày lộ ngay tức thời bởi những dòng nước mắt ăn ăn của ông, đã thắng thế. Mẫu gương của thánh nhân không phải là một bài học cho các Ki tô hữu trong cơn bách hại vào thời điểm thánh Mác-cô soạn thảo những dòng nầy sao? Thánh Phê-rô làm cho chúng ta xúc động vì ngài là một vị thánh rất người.
6. Thượng Hội Đồng họp bàn lần thứ hai (15: 1):
Cuộc họp bàn của Thượng Hội Đồng lần thứ hai đã xảy ra sau cuộc họp bàn trong đêm. Thánh Mác-cô nói: "Vừa tảng sáng". Theo Luật, cuộc họp bàn nầy cần thiết. Khi một hình phạt nghiêm trọng được công bố, các thành viên Thượng Hội Đồng cần một kỳ hạn để suy nghĩ. Đúng luật, kỳ hạn nầy phải là hai mươi bốn tiếng: một phiên họp thứ hai phải xác nhận hay hủy bỏ quyết định.
Thật ra, Thượng Hội Đồng đã công bố án tử: "Tất cả đều kết án Người phải chết". Kể từ thời Rô-ma chiếm đóng, người Do thái không còn quyền tiến hành cuộc xử tử nữa. Vì thế, họ trói Đức Giê-su lại và giải đi nộp cho quan tổng trấn Phi-la-tô. Nhưng kể từ lúc đó, phiên tòa được chuyển sang bình diện chính trị. Từ tội phạm thượng nghịch với Thiên Chúa Ít-ra-en đến tội phản nghịch với cuộc chiếm đóng Rô-ma.
7. Đức Giê-su ra trước tổng trấn Phi-la-tô (15: 2-5):
Quan tổng trấn Phi-la-tô, đại diện chính quyền Rô-ma, cai trị trực tiếp miền Giu-đê. Thật ra, từ khi vua Hê-rô-đê Archilaüs, con và người kế vị vua Hê-rô-đê Cả, băng hà, Rô-ma đã không còn cử người của mình đến chính quyền địa phương nữa, vì họ sợ những phong trào phản loạn nổi lên ở Giê-ru-sa-lem hay trong miền. Khác với trường hợp miền Ga-li-lê, một người con khác của vua Hê-rô-đê Cả là vua Hê-rô-đê An-ti-pát cai trị, vì thế, Đức Giê-su, người Ga-li-lê, bị điệu ra trước vua nầy (cf. Lc 3: 1).
Nơi cư ngụ quen thuộc của các vị tổng trấn Rô-ma là thành Xê-da-rê duyên hải, nhưng vào những ngày đại lễ, đặc biệt vào lễ Vượt Qua, dân chúng quy tụ lại rất đông ở Giê-ru-sa-lem, thế nên, quan tổng trấn lên Giê-ru-sa-lem. Đó là lý do tại sao tổng trấn Phi-la-tô lúc đó có mặt trong Thành Thánh.
Quan tổng trấn Phi-la-tô chất vấn Đức Giê-su trên bình diện chính trị: "Ông là vua dân Do thái sao?" Chính vì tội danh nầy mà sau nầy Phi-la-tô truyền ghi bản án xử tội Ngài trên thập giá: "Giê-su, vua người Do thái". Đức Giê-su trả lời: "Đúng như ngài nói đó", hay một cách tinh tế hơn, nếu đại danh từ được nhấn mạnh: "Chính ngài nói đó". Đức Giê-su lãng tránh trả lời trực tiếp, nhưng câu trả lời nầy không phải kém khẳng định. Đây cũng là câu trả lời của Đức Giê-su cho Giu-đa khi hắn hỏi Ngài: "Thưa Thầy, chẳng lẽ là con sao?" – "Chính anh nói đó" (Mt 26: 25).
"Các thượng tế tố cáo Ngài nhiều tội". Quả thật, qua các Tin Mừng khác, chúng ta biết rằng hoạt cảnh diễn ra bên ngoài. Các thành viên Thượng Hội Đồng, các cận vệ của họ, và đám đông dân chúng càng lúc càng đông, ở bên ngoài dinh quan tổng trấn.
Đức Giê-su im lặng. Phi-la-tô ngạc nhiên. Chung chung, không có luật sư biện hộ, những bị cáo tự biện hộ cho mình.
8. Ân xá vào dịp lễ Vượt Qua (15: 6-15):
Theo phong tục của người Do thái, vào mỗi lễ Vượt Qua một tù nhân được phóng thích, chắc chắn để kỷ niệm cuộc giải phóng khỏi Ai-cập mà người ta tưởng niệm vào ngày đại lễ nầy. Phi-la-tô biết tập tục nầy; ông đề nghị đám đông chọn một kẻ giết người khét tiếng và Đức Giê-su. Việc cho dân chúng có quyền chọn lựa làm ngạc nhiên; không phải là không có những ví dụ khác. Ở kinh thành Rô-ma, trong những cuộc đấu ở hý trường, dân chúng quyết định tha hay giết chết, vua phải tuân theo ý muốn của dân.
Theo truyền thống Do thái, việc dân chúng dự phần vào việc xét xử được kể ra nhiều lần như phiên xử bà Su-dan-na.
Việc yêu cầu phóng thích tên Ba-ra-ba nêu bật những trách nhiệm khác nhau:
- trách nhiệm của các thành viên Thượng Hội Đồng, họ sách động dân chúng chống lại Đức Giê-su.
- trách nhiệm của đám đông, họ để cho mình bị xỏ mũi dẫn đi và thích tên phản loạn hơn. Tội ác của hắn không phải là không có hậu ý chính trị, chống lại chính quyền chiếm đóng.
- sau cùng, trách nhiệm của Phi-la-tô, ông đã tính sai một nước cờ khi nghĩ rằng phong trào quần chúng ủng hộ Đức Giê-su. Ông thích thú muốn thấy cuộc vận động của các thượng tế thất bại, bởi ông thừa biết chỉ vì ghen tỵ mà các thượng tế nộp Đức Giê-su. Nhưng Phi-la-tô nhượng bộ đám đông; ông muốn vừa lòng dân chúng bản địa, và đồng thời cũng muốn tránh bị tố cáo ở Rô-ma và bị coi là nhu nhược trước một toan tính chính trị của kẻ mạo danh "vua dân Do thái nầy".
Như vậy, quyết định chung cuộc chính do bởi tổng trấn Rô-ma, và chính bởi thập giá, khổ hình Rô-ma, mà Đức Giê-su bị kết án. Khổ hình Do thái là ném đá.
9. Đức Giê-su chịu đánh đòn (15: 15):
Đánh đòn tự nó là một khổ hình. Án phạt nầy cũng là một biện pháp mở đầu cho khổ hình thập giá; nó làm cho tội nhân kiệt quệ vì mất nhiều máu và như vậy rút ngắn cơn hấp hối rất đau đớn của tội nhân trên thập giá. Có nhiều loại hình phạt bị đánh đòn: người ta dùng gậy nếu tội nhân là công dân Rô-ma; dây da phủ có gắn những hạt chì đối với tội nhân có địa vị thấp kém, huống gì hạng nô lệ. Chắc chắn loại hình phạt đánh đòn thứ hai mà Đức Giê-su chịu.
10. Đức Giê-su chịu đội mão gai (15: 16-20):
Phi-la-tô giao cho quân lính thi hành án. Ấy vậy, dân chúng bị trị chẳng ưa gì quân lính Rô-ma chiếm đóng, vì thế, những người lính nuôi dưỡng sự căm ghét đối với dân tộc nầy. Đây là dịp họ đổ hết sự căm ghét của mình trên đầu tên Do thái nầy được giao vào trong tay họ. Tất cả lính cận vệ dinh tổng trấn tụ tập lại để chế giễu Đức Giê-su. Hoạt cảnh thật thâm hiểm.
Họ kết một vòng gai làm vương niệm đội lên đầu Đức Giê-su và khoắc cho Ngài một tấm áo điều; chắc chắn là tấm áo khoắc của quân đội Rô-ma, nhưng áo khoắc màu đỏ là dấu chỉ của sự chiến thắng. Thế nên, khoắc cho Đức Giê-su một áo khoắc màu đỏ trở thành trò nhạo báng của họ.
11. Con đường khổ giá (15: 21-27):
Người Rô-ma không tạo ra khổ hình thập giá; họ mượn ở nơi những dân tộc Đông Phương, người ta không biết đích xác nguồn gốc của nó. Xi-xê-ron mô tả khổ hình thập giá như "một cái chết kinh khiếp nhất và tàn bạo nhất". Người Rô-ma có nhiều hình thức khổ hình tùy theo các tầng lớp xã hội, khổ hình thập giá dành cho tầng lớp thấp kém nhất: tầng lớp nô lệ.
Việc hành hình xảy ra chỉ ở bên ngoài thành. Lãnh địa của thành là vùng đất thánh vì thế không thể nào bị nhiễm uế bởi xác chết của tội nhân. Đồi Gôn-gô-tha sát với bức tường thành Giê-ru-sa-lem. Chữ Gôn-gô-tha theo tiếng A-ram có nghĩa "Sọ", vì ngọn núi trơ trọi không có bóng dáng của cây cối.
Chi dù đoạn đường mà Đức Giê-su phải vác thập giá đi ngang qua tương đối ngắn, nhưng vì đã phải chịu những hành xử tồi tệ nên Ngài kiệt sức bước đi không vững. Vì thế, quân lính bắt một người qua đường vác thập giá giúp Ngài. Đó là "ông Si-môn, gốc Ky-rê-nê, thân phụ của hai ông A-lê-xan đê và Ru-phô". Sở dĩ thánh Mác-cô nêu tên hai người nầy, vì họ không xa lạ gì với các Ki tô hữu.
Quân lính điệu Đức Giê-su đi đến đồi Gôn-gô-tha. Nhóm lính nầy gồm bốn người, bởi vì họ chia áo xống của Ngài thành bốn phần, mỗi người mỗi phần (Ga 19: 23), được một viên đại đội trưởng chi huy, ông chịu trách nhiệm thi hành bản án và sẽ túc trực bên cạnh thập giá.
"Chúng trao rượu pha mộc dược cho Người uống". Đây không là tập quán của người Rô-ma, nhưng của người Do thái: rượu pha mộc dược giúp cho tội nhân giảm cơn đau. Nhưng Đức Giê-su từ chối ân huệ nầy; Ngài muốn đảm nhận cho đến cùng toàn bộ những đau đớn hàm chứa ở nơi cái chết tàn bạo mà Ngài phải chịu với một sự ý thức tròn đầy.
Sau khi đã đóng đinh Ngài vào thập giá, quân lính đem áo Ngài ra bắt thăm mà chia nhau. Khía cạnh nầy phù hợp với luật Rô-ma: áo của tội nhân thuộc về tên lý hình. Đồng thời, sấm ngôn của Thánh vịnh 22 được ứng nghiệm: "Áo mặc ngoài chúng đem chia nhau. Còn áo trong chúng cũng bắt thăm luôn" (Tv 22: 19).
"Lúc chúng đóng đinh Người là giờ thứ ba", tức chín giở sáng. Thánh Gioan định vị việc đóng đinh vào giữa trưa. Đây là một trong những tiểu dị giữa các thánh ký. "Bên cạnh Người, chúng còn đóng đinh hai tên cướp", đối với Đức Giê-su, điều nầy là một sỉ nhục thêm nữa.
12. Trên đồi Can-vê (15: 29-32):
Chỗ hành hình được định vị ở bên vệ đường dẫn đến Giê-ru-sa-lem. Đây là chỗ chính quyền muốn: cảnh tượng những tội nhân hấp hối trong đau đớn quằn quại phải có hiệu quả răn đe đối với những người qua đường. Chính đó là lý do tại sao thánh ký nêu lên việc "kẻ qua người lại đều nhục mạ Người".
Đức Giê-su trên thập giá chịu những lời nhục mạ của ba hạng người.
- Những người Do thái qua đường và nhận ra Ngài.
- Các thành viên Thượng Hội Đồng (các thượng tế và các kinh sư) đến tham dự vào cuộc hành hình và buông những lời chế giễu Ngài cho đến tận lúc đó.
- Sau cùng, hai tên cướp. Thánh Mác-cô không nói về "tên trộm lành" như Lu-ca.
Như vậy, Đức Giê-su thật sự bị bỏ rơi và thật sự bị nộp vào trong tay của những kẻ thù Ngài.
Chính ở nơi đây theo bài tường thuật của thánh Mác-cô mà phải đọc Thánh vịnh 22 mô tả những đau khổ của Người Công Chính và niềm hy vọng đầy tin tưởng của ông. Chính những câu đầu tiên của Thánh vịnh nầy mà Đức Giê-su sắp thốt lên: "Lạy Thiên Chúa, lạy Thiên Chúa con, sao Ngài bỏ rơi con !". Xin được trích dẫn những câu 7, 8, và 9:
"Thân sâu bọ chứ người đâu phải,
con bị đời mắng chửi dể duôi,
thấy con ai cũng chê cười,
lắc đầu bĩu mõ buông lời mĩa mai:
Nó cậy Chúa, mặc Người cứu nó !
Người có thương, giải gỡ đi nào !"
13. Đức Giê-su chết trên thập giá (15: 33-37).
"Vào giờ thứ sáu (tức giữa trưa), bóng tối bao phủ khắp mặt đất, mãi đến giờ thứ chín (tức ba giờ chiều)". Chúng ta nhận thấy thánh Mác-cô phân phối những biến cố thành ba giai đoạn, mỗi giai đoạn gồm ba giờ: đóng đinh vào lúc chín giờ, bóng tối vào lúc giữa trưa và chết vào lúc ba giờ. "Bóng tối bao phủ khắp mặt đất", thánh ký đọc thấy ở đây một dấu chỉ: cái chết của Đức Giê-su trên thập giá có một tầm mức hoàn vũ.
Chúng ta không thể bỏ qua sấm ngôn của ngôn sứ A-mốt gợi lên Ngày của Chúa như ngày chịu tang đứa con một:
"Ta sẽ truyền cho mặt trời lặn giữa trưa,
và khiến cho mặt đất tối sẩm giữa lúc ngày đang sáng.
….
Ta sẽ làm cho đất nầy chịu tang
như người ta chịu tang đứa con một"
Những sấm ngôn khác (Giô-en, Xô-phô-ni, vân vân) loan báo rằng ngày Xử Án được đi kèm theo những dấu chỉ vũ trụ (mặt trời tối sầm…). Tuy nhiên, những sấm ngôn nầy phác họa "Ngày của Chúa" như ngày thịnh nộ. Ngay cả nếu giờ Đức Giê-su chết, trong một mức độ nào đó rồi, là giờ xử án đi nữa, thì cũng không là giờ thịnh nộ, nhưng trái lại, giờ của lòng xót thương vô hạn của Thiên Chúa, giờ tha thứ, giờ của tình yêu Thiên Chúa cho đến tận cùng.
"Lạy Thiên Chúa, lạy Thiên Chúa con, sao Ngài bỏ rơi con ?" Đây là tiếng kêu bi thương trong cảnh khốn quẫn mà Người Công Chính thốt lên trong Thánh vịnh 22. Đức Giê-su trích dẫn. Sau khi biết con người, bạn bè Ngài, những môn đệ thân thiết nhất của Ngài đã bỏ rơi Ngài, Đức Giê-su cảm nhận một sự chơ vơ cô quạnh tuyệt mức, ngay cả chính Chúa Cha dường như cũng bỏ mặc Ngài. Đức Giê-su chết trong nỗi cô đơn tuyệt mức. Đây thật sự là một sự dâng hiến trọn vẹn bản thân mình, một sự quên mình tuyệt đối cho đến mức nó mang dấu ấn của Thiên Chúa.
"Ê-lô-I, Ê-lô-i…" Những từ được trích dẫn bằng tiến A-ram, tiếng mẹ đẻ của Đức Giê-su. Những người tham dự xem ra nghe hình thức tiếng Hy bá (Mát-thêu phiên âm: Ê-li, Ê-li). Ấy vậy, chúng ta biết rằng, theo truyền thống Do thái, ngôn sứ Ê-li phải trở lại trên cõi đời nầy để giới thiệu cho các tín hữu Đấng Mê-si-a. Lời cười cợt thật độc địa: Hắn đang hấp hối, bị đóng đinh trên thập giá, mà vẫn còn tin mình là Đấng Mê-si-a khi cầu cứu ông Ê-li !
"Rồi có kẻ chạy đi lấy một miếng bọt biển, thấm đầy giấm". Cử chỉ nầy được hiểu tốt hơn ở nơi bản văn của thánh Gioan ở đó Đức Giê-su vừa mới nói: "Ta khát". Thánh Mác-cô dường như nói bóng gió rằng một trong những người tham dự - hay một trong những người lính – thử làm Đức Giê-su tỉnh lại để xem Ê-li có đáp trả lời cầu cứu của Ngài hay không ! Nhưng Đức Giê-su không nếm; Ngài tắt thở.
Cả bốn Tin Mừng đều giữ lại sự cố nầy vì nhiều bản văn Kinh Thánh soi sáng cho nó. Chúng ta đọc ở Thánh vịnh 69 những tiếng rên rỉ của một người tôi trung, nạn nhân của lòng nhiệt thành đối với Đức Chúa.
14. Tiên báo một thế giới mới (15: 38-39).
Đức Giê-su vừa tắt thở. Thánh Mác-cô dẫn chứng hai sự kiện, cả hai đều giàu có ý nghĩa và bổ túc cho nhau:
1- "Bức màn trướng trong Đền Thờ bổng xé ra làm hai từ trên xuống dưới". Hoặc là bức màn cửa được giăng trong tiền sảnh; hay bức màn phân cách nơi thánh với nơi cực thánh ở đó chỉ vị thượng tế mới có thể bước vào, một năm một lần, để thực hiện nghi thức Xá Tội. Dù bức màn nào bị xé ra làm hai, ý nghĩa vẫn như nhau: "con đường đến với Thiên Chúa từ đây được mở rộng cho tất cả mọi người", việc Thiên Chúa tuyển chọn không còn quyền ưu tiên của dân Ít-ra-en: cái chết của Đức Giê-su trương rộng ra cho hết mọi người. Đền Thờ Giê-ru-sa-lem, biểu tượng của sự hiện diện của Thiên Chúa, đã không còn đóng vai trò của mình nữa; đền thờ thực sự của Thiên Chúa sẽ là "Thân Thể Phục Sinh" của Đức Ki tô – như chính Ngài đã công bố.
2- Viên đại đội trưởng đứng đối diện với Đức Giê-su, thấy Ngài tắt thở như vậy liền nói: "Quả thật, Người nầy là Con Thiên Chúa". Viên đội trưởng đã nghe nhiều lần những giọng nói ở giữa đám đông: "Người nầy tự xưng mình là Con Thiên Chúa". Ông lập lại diễn ngữ nầy, dù không hiểu hết mức độ của nó, nhưng bị thuyết phục, bởi những gì ông đã chứng kiến, rằng tội nhân nầy là một người Công Chính đặc biệt. Lời tuyên xưng nầy của viên đội trưởng là "dấu chỉ tiên báo cuộc hoán cải của thế giới lương dân"; đây là lời chứng đầu tiên về ơn cứu độ phổ quát mà việc bức màn của Đền Thờ bị xé ra làm hai loan báo.
15. Các người phụ nữ (15: 40-41).
Thánh ký trích dẫn đích danh ba người phụ nữ tín trung và đạo đức đứng xa xa, nhưng không xa lắm cảnh tượng Đức Giê-su đang hấp hối.
1- Trước tiên, "bà Ma-ri-a Mác-đa-la" (nghĩa là bà Ma-ri-a quê quán Mác-đa-la), người phụ nữ mà Đức Giê-su đã trừ bảy và từ đó bà luôn theo Đức Giê-su và phục vụ Ngài. Đừng lẫn lộn với người phụ nữ tội lỗi vô danh khóc sướt mướt về tội lỗi của mình (Lc 7: 36-50).
2- "Bà Ma-ri-a, mẹ các ông Gia-cô-bê thứ và Giô-sê". Chính hai ông nầy mà trước đây thánh Mác-cô gọi "anh em của Đức Giê-su" (Mc 6: 3). Quả thật, dường như bà Ma-ri-a, mẹ của hai ông, là bà con gần của Đức Trinh Nữ Ma-ri-a. Sự hiện diện của hai người phụ nữ nầy rất gần với bản văn của thánh Gio-an: "Đứng gần thập giá Đức Giê-su, có thân mẫu Người, chị của thân mẫu, bà Ma-ri-a vợ ông Cơ-lô-pát, cùng với bà Ma-ri-a Mác-đa-la" (Ga 19: 25). Danh xưng "chị" có thể chỉ chị họ. Có một truyền thống luôn luôn muốn rằng Tông Đồ Gia-cô-bê thứ là anh họ của Đức Giê-su – truyền thống nầy đã gặp thấy những âm vang trong nghệ thuật thánh.
3- Người phụ nữ thứ ba mà thánh Mác-cô nêu tên là "bà Sa-lô-mê" chung chung được nhận dạng là vợ ông Dê-bê-đê, mẹ của hai Tông Đồ Gioan và Gia-cô-bê (Một Gia-cô-bê khác, được gọi Gia-cô-bê trưởng). Chúng ta biết rằng thánh Gioan là vị Tông Đồ duy nhát hiện diện dưới chân thập giá. Mẹ của ông cũng vậy.
Vả lại, thánh ký xác định rằng có nhiều phụ nữ khác đến từ Ga-li-lê. Điều nầy xác minh những lo lắng của các thượng tế, họ sợ rằng trong đám người hành hương có những cảm tình viên của Đức Giê-su. Có lẽ những người phụ nữ nầy không đến một mình, nhưng với gia đình của họ, chồng, con vân vân. Những người Ga-li-lê nầy không thể hay không dám tỏ mình ra.
16. Mai táng Đức Giê-su (15: 42-47).
Theo tập tập Rô-ma, để có hiệu quả răn đe, xác của tội nhân phải bị bêu rếu trong nhiều ngày; nhưng luật Do thái hoàn toàn khác: hoàng hôn không được phủ bóng trên xác chết của tội nhân; sách Đệ Nhị Luật xác định rằng thi hài tội nhân phải được mai táng trước khi đêm xuống (Đnl 21: 22).
Mặt khác, nếu không có ai can thiệp, thi hài của Đức Giê-su có nguy cơ bị ném vào trong một hố chung cùng với thi hài của hai tử tội khác, và chỉ có quan tòa mới có thể quyết định cho nhận thi hài lại.
Cuối cùng, theo cách tính của người Do thái, chiều bắt đầu ngày sa-bát, ngày người ta phải kiêng tất cả mọi việc làm. Vì thế, việc mai táng phải gấp rút. Ấy vậy, có một ngôi mộ trống ở gần bên cuộc hành hình: một giải pháp nhanh và tạm thời. Chính đây là điều mà chủ nhân của ngôi mộ nầy nghĩ đến, ông là một môn đệ bí mật; ông chưa bao giờ dám bày tỏ sự thiện cảm của mình khi Đức Giê-su còn sống, vì ông là một thành viên Thượng Hội Đồng; ông là một trong những người giàu có thế giá chủ trì công nghị tối cao với các Kỳ Mục. Lúc đó, thu hết can đảm, ông mạnh dạn đến gặp tổng trấn Phi-la-tô xin thi hài Đức Giê-su. Viên tổng trấn chấp nhận luật Do thái bởi vì ông nghĩ rằng việc bêu xấu như tập tục Rô-ma là vô ích. Theo luật, tổng trấn phải giao lại thi hài cho gia đình của nạn nhân, nhưng có lẽ cuộc vận động của ông Giô-xếp, uy tín của một thành viên Thượng Hội Đồng, đã gây ấn tượng trên quan tổng trấn; mặt khác, ông Giô-xếp không thể nào hành động mà không có sự đồng ý của Đức Nữ Trinh.
Những biến cố sau cùng nầy khiến chúng ta không thể không nghĩ đến những lời của Đức Ki tô: "Nếu hạt lúa gieo vào lòng đất, mà không chết đi, thì nó vẫn trơ trọi một mình; còn nếu chết đi, nó mới sinh được nhiều hạt khác" (Ga 12: 24). Ngay khi Đức Giê-su vừa trút hơi thở cuối cùng, nhiều dấu hiệu cho thấy lời loan báo nầy xác thực: một viên đội trưởng công bố sự siêu việt của người tử tội nầy, đám đông ra về vừa đấm ngực ăn năn (thánh Lu-ca nói với chúng ta), một môn đệ bí mật vượt thắng nỗi sợ hãi của mình, viên tổng trấn Rô-ma chấp nhận lời thỉnh cầu ngoại lệ.
Vì thế, Đức Giê-su, sứ giả nghèo khổ nầy, vài ngày trước đây đã chấp nhận cho một người phụ nữ tội lỗi có lòng hối cải xức dầu thơm đắt tiền cho thân thể mình, nay được nghỉ yên trong ngôi mộ của một nhân vật giàu có, ngôi mộ hoàn toàn mới (những sản phẩm đầu mùa nầy không phải thuộc vào Thiên Chúa ư ?), như thử những dấu chỉ danh dự mai táng nầy là những dấu chỉ báo trước việc Ngài bước vào trong vinh quang!
Ngôi mộ thực tế là một phòng tang ở giữa có một băng ghế dài để đặt thi thể; ở phía trước là tiền sảnh; lối vào thì hẹp và thấp. Để lấp cửa mộ, người ta lăn một phiến đá lớn.
Thi hài Đức Giê-su được đặt ở trên băng ghế dài. Thánh Mác-cô nói với chúng ta bà Ma-ri-a Mác-đa-la và bà Ma-ri-a, mẹ ông Giô-sê quan sát cẩn thận những chi tiết của việc mai táng. Thế nên, chính hai bà vào sáng tinh sương ngày hôm sau sẽ là hai người đầu tiên chứng nhận ngôi mộ trống. Lời chứng của họ chẳng có giá trị gì.
Như vậy ngày đau thương được hoàn tất giữa những dấu ấn của lòng trung thành và tình yêu mến.
KẾT LUẬN:
Bài tường thuật của Mác-cô – như bài tường thuật của các thánh ký khác – được diển tả một cách rất đơn giản. Không một chi tiết bi thương nào được thêm vào cho bài tường thuật đơn giản nầy; những sự kiện tự nó đủ để nẩy sinh tình cảm.
Ba tấn thảm kịch được chồng chéo nhau trong cuộc thương khó của Đức Giê-su:
- tấn thảm kịch của việc dân Ít-ra-en từ chối;
- tấn thảm kịch của vị Thiên Chúa làm người;
- tấn thảm kịch của tội lỗi.
1. Tấn thảm kịch của việc dân Ít-ra-en từ chối:
Đức Giê-su đã công bố sứ điệp khó khăn, tuy nhiên không nhượng bộ và thỏa hiệp; Ngài đã lật đổ những ý tưởng cố hữu, kết án câu nệ luật và thói giả hình. Sự ghen tuông, rồi sự thù hận liên kết với nhau tấn công Ngài. Những vị lãnh đạo tôn giáo Ít-ra-en đã không chấp nhận nhận ra ở nơi Ngài Đấng Mê-si-a vì Ngài không đáp ứng đúng hình ảnh mà họ tự tạo nên. Việc họ quyết tâm ăn thua đủ với Ngài đã dẫn đến cái chết, nhưng không đến cái chết như họ nghĩ tưởng: Đức Giê-su đã chiến thắng cái chết, nhưng Ít-ra-en với tư cách dân thừa hưởng Lời Hứa, không còn hiện hữu nữa.
2. Tấn thảm kịch của vị Thiên Chúa làm người:
Khi đón nhận kiếp người, Đức Giê-su chấp nhận thân phận "sinh ly tử biệt". Vì thế, Ngài muốn đảm nhận cái chết trong tất cả sự khiếp sợ cùng với những đau khổ của nó. Những hoàn cảnh lịch sử đã khiến cho Ngài phải chịu khổ hình tàn bạo nhất được sử dụng vào thời Ngài. Số phận nầy nằm trong kế hoạch của Thiên Chúa: "Sở dĩ Chúa Cha yêu mến tôi, là vì tôi hy sinh mạng sống mình để rồi lấy lại. Mạng sống của tôi, không ai lấy đi được, nhưng chính tôi tự ý hy sinh mạng sống mình. Tôi có quyền hy sinh và có quyền lấy lại mạng sống ấy. Đó là mệnh lệnh của Cha tôi mà tôi nhận được" (Ga 10: 17-18). Đây là cử chỉ bác ái tột cùng: Đức Giê-su đã muốn chia sẻ số phận của những kẻ bị tra tấn, bị khổ hình, những người chết vì đạo, để tất cả những ai phải chết trong những khốn khổ thậm tệ nhất, và tất cả những ai phải chịu đau đớn về thể xác cũng như luân lý, gặp thấy trong cuộc thương khó của Ngài niềm an ủi tuyệt vời. Chúng ta nên lưu ý rằng ở đâu có sự hiện diện của Thiên Chúa ở đó có sự sung mãn: sự sung mãn của sự sống, sung mãn của những điều thiện hảo, sung mãn của ân sủng.
3. Tấm thảm kịch của tội lỗi:
"Nầy là Mình Thầy bị nộp vì anh em. Vì nầy là máu Thầy đổ ra để muôn người được tha tội". Đức Giê-su đã giải thích rõ cái chết của Ngài. Tuy nhiên, điều này chẳng là gì cả nếu chúng ta không để mình vào trong mầu nhiệm. Mầu nhiệm của "ơn Cứu Chuộc". Người cứu chuộc (gô-en), chính là người phục hồi nhân phẩm cho thành viên của gia đình bị hoạn nạn, và chuộc lại, nếu phải chịu cảnh đời nô lệ vì nợ nần. Chính đó là ý nghĩa đặc thù của từ ngữ Hy bá mà chúng ta dịch "Đấng cứu chuộc".
Bất chấp sự soi sáng thánh kinh nầy, biết bao câu hỏi nẩy sinh trong tâm trí chúng ta. Tội lỗi là gì? Một sự xúc phạm đến Sự Thiện. Ấy vậy, Sự Thiện, chính là Thiên Chúa hằng sống, Thiên Chúa chan chứa tình yêu, Đấng đã không muốn con người một mình gánh chịu những hậu quả của tội lỗi mình. Ngài đã sai Con Một Ngài để chia sẻ tận mức gánh nặng tội lỗi và xóa đi những vết nhơ của chúng ta. Đó là lý do tại sao Thập Giá là "vinh quang" của Thiên Chúa như thánh Gioan phát biểu.