MẸ MARIA VÀ CÁC BÀ MẸ NỘI TRỢ
Mọi sự đã được sắp đặt một cách tuyệt hảo vô cùng nơi thượng trí của Thiên Chúa. Đối với loài người, ý định của Thiên Chúa đã được diễn tả rõ ràng qua ngòi bút của Thánh Phaolô:
“Thiên Chúa đã chọn ta trong Đức Kitô từ trước sáng thế để ta được nên Thánh và vô tì tích trước mặt Người. Bởi lòng mến, Người đã tiền định cho ta được phúc làm con nhờ Đức Giêsu Kitô và vì Ngài chiếu theo hậu ý của Thánh chỉ Người để ta ca ngợi vinh quang ân sủng của Người. Ân sủng Người đã khấn ban cho ta trong Đấng Chí Ái. Trong Ngài ta được ơn cứu chuộc… và kiện toàn lúc muôn thời viên mãn là thâu lại cả vạn vật dưới một đầu mối trong Đức Kitô”. (Ep 1, 4-10)
“Ngài là hình ảnh của Thiên Chúa vô hình, là trưởng tử giữa mọi thụ sinh vì trong Ngài vạn vật đã được tạo thành chốn trời cao và nơi dương gian, vật hữu hình và vô hình, dầu là bệ ngọc hay thiên chủ, dầu là thiên phủ hay quyền năng, mọi sự đã được tạo thành vì Ngài và nhờ Ngài. Ngài có trước mọi sự và mọi sự nhờ Ngài mà được tồn tại. Và Ngài là đầu của Thân Mình tức là Hội Thánh. Ngài là khởi nguyên, là trưởng tử giữa các vong nhân, để trong mọi sự, Ngài là đệ nhất vô song: Qui est imago Dei invisibilis, primogenitus ommis creaturae, quoniam in ipso condita sunt universa in caelis et in terra, visibilia et invisibilis, sive throni, sive dominationes, sive principatus, sive potestates: omnia per ipsum et in ipso creata sunt, et ipso est ante omnes, et omnia ipso constant. Et ipse est Caput Corporis Ecclesiae, qui est principium, primogenitus ex mortuis, ut sit omnibus ipse primatum tenens” (Col 1,15-18).
Từ trước đời đời, Thiên Chúa đã định sẵn có một lịch sử duy nhất, một con đường duy nhất là sáng tạo và cứu độ vũ trụ, muôn loài và muôn vật, Đức Kitô là thủ lãnh thống trị vũ trụ (primogenitus omnis creaturae) và cứu chuộc, Đức Kitô vừa là thủ lãnh thống trị vừa là nguồn sống cho vũ trụ cho Giáo hội (Caput corporis er corporis Ecclesia, từ ngữ Corpus ở Eph và Col có lẽ chỉ vũ trụ, thêm từ ngữ Ecclesia vào có lẽ là để nói vũ trụ đó là Giáo hội).
Mọi người chúng ta được tiền định làm con Thiên Chúa trong Chúa Kitô (sáng tạo) và chi thể của Chúa Kitô trong Thân Mình của Ngài là Giáo hội (cứu chuộc).
Vậy Đức Mẹ Maria nằm ở chỗ nào ? - Đối với Chúa Cha, Đức Mẹ vẫn nằm trong ý định vĩnh cửu trên nghĩa là Đức Mẹ là con của Chúa Cha trong Chúa Kitô. Và để thực hiện chương trình cứu chuộc, Đức Mẹ vẫn là con của Chúa Cha nhưng đối với Chúa Kitô vai trò của Đức Mẹ được biến đổi thành Mẹ Thiên Chúa. Và đây là một vinh dự cho Đức Mẹ, và cho cả vũ trụ vì “Mẹ sinh ra Đấng tạo thành nên Mẹ” (Lời Tổng Nguyện Lễ Đức Mẹ). Ba Ngôi tạo thành trời đất muôn loài muôn vật. Ba Ngôi tạo dựng nên Đức Mẹ Maria. Như vậy, Đức Mẹ là thụ tạo đối với Ba Ngôi, là thụ tạo đối với Ngôi Con (tương quan nguyên thủy) và tất nhiên Đức Mẹ phải phụ thuộc Ngôi Con (tương quan phụ thuộc) vì không bao giờ Đấng Sáng tạo lại lệ thuộc vào thụ tạo.
Ngôi Hai làm người trong cung lòng Đức Maria
Làm người mà không do một bà mẹ sinh ra, chỉ là làm người một cách tương tự. Muốn thực sự là người thì phải do một bà mẹ sinh ra. Thiên Chúa Cha đã định cho Ngôi Hai làm người, nghĩa là Ngôi Hai được một bà mẹ sinh ra làm người:
“Tới thời kỳ viên mãn, Thiên Chúa sai Con của Ngài sinh ra bởi người nữ” (Galat 4,4).
Thời kỳ viên mãn là thời kỳ thiên sai, hoặc thời cánh chung, làm thỏa mãn lòng mong đợi của bao nhiêu thế kỷ, cũng có nghĩa là thời kỳ tiền định của Thiên Chúa được mạc khải hoàn toàn và đầy đủ là Ngôi Hai làm người. Thiên Chúa hành động: cho Con của Ngài sinh ra bởi người nữ thì thời kỳ viên mãn đến. Điều này cho chúng ta thấy rõ Thiên Chúa đã chuẩn bị cho Con của Ngài nhập thể đồng thời chuẩn bị cho một dòng tộc và cuối cùng do một người nữ sinh ra:
“Liber generationis Domini Jesu Christi, filii David, filli Abraham… Abraham genuit… Nathan autem genuit Jacob, Jacob autem genuit Joseph, virum Mariae de qua natus est Jesus qui vocatur Christus: Sách gia phả của Chúa Giêsu Kitô, con Vua David, con Abraham…, Abraham sinh… Nathan sinh Gia cóp, Gia cóp sinh Giuse, chồng của Đức Maria, bởi Đức Maria thì Đức Giêsu gọi là Kitô sinh ra”. (Mt 1,1-16)
Cuộc chuẩn bị này, trong suốt lịch sử cứu độ để cho Ngôi Hai nhập thể, cũng nói lên được địa vị của Đức Maria trong quá trình chuẩn bị. Ta còn có thể nói Cựu Ước đã đạt tới thành công vĩ đại nơi Đức Maria, tinh hoa hữu nhất vô nhị của Cựu Ước, xứng đáng làm nơi cho Ngôi Hai đầu thai làm người.
Trong chương trình chuẩn bị này, ta cũng thấy rõ sở dĩ có Đức Mẹ Maria là vì Ngôi Hai làm người. Đức Mẹ được chuẩn bị sẵn sàng để phục vụ Ngôi Hai làm người tức là phục vụ Con của mình.
Đức Maria và lịch sử cứu độ
Chương trình cứu độ loài người nằm trong “plan éternel” (ý định vĩnh cữu) của Thiên Chúa nên có “tính vĩnh cửu, vượt khỏi thời gian, nhưng lại được thực hiện theo chiều dài của lịch sử loài người nên chương trình cứu độ trở thành lịch sử cứu độ (histoire du salut) (vậy không phải Ađam Evà phạm tội mà có chương trình cứu độ, nhưng vì Adam Eva phạm tội mà chương trinh cứu độ đẫm máu và chết)
Nói đến lịch sử là nói đến các biến cố, hiện tượng xã hội loài người xảy ra trong không gian và thời gian cụ thể và nhất định hoặc nói đến hiện tượng cá nhân có ảnh hưởng mãnh liệt tới xã hội thời đại.
Nói đến lịch sử cứu độ là nói đến công việc cứu độ Thiên Chúa đã thực hiện một cách cụ thể tại một hay nhiều nơi nhất định cho một người, một nhóm người, một đất nước, cho cả loài người.
Học hỏi lịch sử cứu độ là đưa ra những bằng chứng lịch sử, những kinh nghiệm của ơn cứu độ từ trước tới nay trong thời gian và nơi chốn nhất định khiến ta có thể vẽ ra một dòng lịch sử chung về ơn cứu độ. Kinh Thánh Cựu Ước vẽ ra những nét lớn của lịch sử cứu độ khởi đầu bằng giao ước Sinai với biến cố xuất hành khỏi “Ai cập” do “cánh tay mạnh của Đức Giavê” thực hiện; đại hội Sikem long trọng ký kết trung thành với Đức Giavê trước khi chiếm Hứa Địa. Các bản trình thuật Israel/ lịch sử Israel trong sách Đệ Nhị Luật, trong sách Các Vua, Ký sử, ơn huệ của Chúa ban và tội ác dân Israel là tư tưởng trực tiếp, chủ chốt vẽ ra được một giai đoạn lịch sử cứu độ. Phong trào tiên tri nhấn mạnh phải tín nhiệm vào Thiên Chúa, trung thành với giao ước đồng thời hướng dẫn dân hướng về tương lai, mong chờ Thiên Chúa can thiệp vào lịch sử Israel, vào lịch sử thế giới.
Thời tương lai đến với sự xuất hiện của Đức Giêsu Kitô Nazareth và bằng việc loan báo Nước Trời gần đến. Sự hiện diện của ơn cứu độ là chủ đề một số lớn dụ ngôn nhất là dụ ngôn mô tả “sự lớn mạnh” có mục đích tạo ra một sự tương phản rõ rệt giữa lúc bắt đầu khởi sự Nước Trời không thể thấy được và khi biểu lộ ra thì mọi người thấy được. Biến cố mới nhất và luôn luôn mới là Giao ước mới do Chúa Kitô thực hiện trên thập giá bằng sự chết và sống lại vinh hiển của Ngài. Mọi hoạt động của Chúa Kitô được Giáo hội rao giảng được phán đoán dưới ánh sáng sự chết và sự sống lại của Ngài. Đó chính là biến cố lịch sử thật sự, người ta thấy không những là dấu hiệu mà con là khởi đầu và nguyên nhân của thời đại cánh chung của ơn cứu độ. Ơn cứu độ chưa xuất hiện cách viên mãn hiện nay vì chỉ biết biểu lộ hoàn toàn trong ngày Chúa Kitô trở lại.
Chúa Kitô là trung tâm của chương trình cứu độ, là trung tâm của nhiệm cục cứu độ (économie de salut) là chính Đấng tạo ra và ban phát ơn cứu độ. Ngài làm người trong thân phận, số mệnh của một con người và liên đới với hết mọi người. Số mệnh của Ngài gắn với số mệnh của loài người để Ngài kéo loài người lên, đem loài người ra khỏi tội ác, biến đổi con người thành những “người anh em của Ngài”. Lịch sử ơn cứu độ tức là ơn sủng do Chúa Kitô lập ra được ban phát, và được thực hiện nơi loài người qua bao nhiêu thời đại cho đến tận thế.
Mà người lãnh nhận được ơn cứu độ hoàn hảo nhất, ngay khi còn là bào thai để đạt tới viên mãn khi đã sống mãn đời này là Đức Maria. Như vậy, Đức Mẹ là kết quả thành công nhất trong lịch sử ơn cứu độ mặc dầu lịch sử đó còn diễn tiến cho tới ngày tận thế.
Nhưng khi người ta nhìn lên Đức Maria, theo tâm lý, người ta chỉ ngắm tới những đặc ân, những thành quả của ơn Chúa nơi Đức Mẹ, quên đi thân phận làm người của Đức Mẹ, không nói tới con người của Đức Mẹ đáp ứng ơn Chúa theo sự tiến triển của nhận thức về ơn Chúa, về Chúa Kitô nơi Đức Mẹ. Những cái quên này lại rất gần gũi chúng ta, liên hệ tới cuộc sống cụ thể của chúng ta.
Ngày nay, người ta để ý tới cái phần quên sót đó nghĩa là chính con người của Đức Mẹ, cuộc đời tin yêu và phó thác của Đức Mẹ dưới sự hướng dẫn của ơn sủng. Học hỏi về Đức Mẹ là tìm hiểu phần chuẩn bị trước khi Đức Mẹ chào đời để biết được nguồn gốc, nghiên cứu đời sống trong thân phận làm người để biết cuộc đời Đức Mẹ trong chương trình của Thiên Chúa, mới thấy được sự gắn bó của Đức Mẹ với ta và của ta với Đức Mẹ.
Hiến chế Lumen Gentium số 55 đã dành riêng để trình bày công cuộc chuẩn bị con người Đức Maria trong Cựu Ước, rất nhiều chỗ tham chiếu Thánh Kinh cách minh nhiên hoặc mặc nhiên, như vậy sẽ thuận lợi đối thoại với anh em Tin Lành về Đức Maria.
Trước tiên, Công Đồng trình bày ba đoạn văn mà Tập truyền Giáo hội luôn luôn công nhận là lời tiên báo liên quan tới Đức Trinh Nữ Maria:
- Sáng thế ký 3,15:
“Ta sẽ đặt mối thù giữa ngươi và người nữ, giữa giòng giống ngươi và giòng giống người phụ nữ. Giòng giống đó sẽ đạp dập đầu ngươi và ngươi rình cắn gót chân họ”.
Bản dịch Hy Lạp thay vì “giòng giống đó đạp dập” thì dịch “Ngài đạp dập” nên đã hiểu cuộc chiến thắng do Đức Mêsia chứ không phải cả giòng giống sẽ chiến thắng ma quỷ, và như Thánh Phaolô nói Đức Kitô, Ađam mới (Rm 5,12-19), ta sẽ có hình ảnh Đức Maria, Eva mới, tức là cũng nói tới người Mẹ của Đấng Mêsia cũng giữ một vai trò nào đó trong cuộc chiến thắng tà thần. Bản dịch Latinh (Vulgata) viết: ipsa conteret (Bà sẽ đạp đầu ngươi) càng nói rõ ràng Đức Mẹ góp phần chiến thắng này.
- Isaia 7,14:
“Này đây thiếu nữ sẽ thụ thai và sinh hạ một con trai mà nàng sẽ đặt tên là Emmanuel”.
Đây là một trong những đoạn Kinh Thánh cơ bản nói về “vương triều thiên sai”. Ở đây, Mẹ của Đức Vua Thiên Sai đã được nhắc đến, thiếu nữ là Almah trong tiếng Do Thái, bản Hy Lạp dịch là parthenos có nghĩa là trinh nữ hay “đàn bà chưa kết hôn” đã đưa truyền thống Kitô giáo đến chỗ công nhận đoạn này không những nói về Đấng Thiên Sai mà còn trực tiếp ám chỉ về Đấng Thiên Sai sinh ra do một người nữ đồng trinh.
- Mêkia 5,1-3 :
“Cho tới thời người nữ phải sinh ra, đã được sinh ra”
Ở đây, bản văn phải hiểu theo nghĩa hẹp, có đặc tính Thiên sai. Sứ ngôn Mikêa nghĩ đến Mẹ của Đấng Mêsia (có lẽ Ngài liên tưởng tới Isaia 7,14, đoạn văn này xuất hiện trước Mêkia khoảng 30 năm).
Đức Mẹ xuất hiện quả là “thiếu nữ Sion” (Sophoni 3,14-17) vì Người là thành tựu cao nhất của Cựu Ước. Nhờ sự cộng tác của Người mà Cựu Ước chuyển tới Tân Ước bởi tinh thần khó nghèo và khiêm nhường của Người (Lc 1, 38,48). Với biến cố Truyền tin, Đức Maria chính thức xuất hiện trong mầu nhiệm của Đức Kitô trong lịch sử cứu độ. Người xưng mình “con là tôi tớ Chúa” và “xin vâng theo sứ mệnh Chúa trao phó nghĩa là để cho Thiên Chúa sử dụng mình vào công cuộc cứu độ”. Và như Thánh Tôma Aquinô đã nói trong cuốn chú giải sách Châm ngôn: “Actus singularis personae in multitudinis salutem redundans immo totius humani generis: hoạt động của cá nhân Ngài ảnh hưởng đến sự cứu rỗi nhiều người, nói đúng hơn đến sự cứu rỗi toàn thể nhân loại” (la 3 sent d III q.3 art. 2 sol 2). Và sau này, trong quyển Tổng Luận Thần Học, Thánh nhân viết: “Et ideo per annunctiationem expectabatur consensus virginis loco totius humanae naturae: và vì nhờ việc truyền tin, Thiên Chúa chờ đợi Đức Trinh Nữ ưng thuận thay cho toàn thể nhân loại” (S. Th III, 30,1).
Thiên Chúa đã muốn nhân loại đón nhận chương trình Con Chúa nhập thể và Ngài đã tạo ra những nguyên nhân đệ nhị để cộng tác vào chương trình này. Đức Maria giữ vai trò đặt biệt trong các nguyên nhân đệ nhị khi trả lời “xin vâng” một cách hoàn toàn.
Và vì tự do trả lời “xin vâng” nên bao nhiêu ân sủng Đức Maria lãnh nhận dư tràn để chuẩn bị cho Mẹ (Mẹ hoàn toàn Thánh thiện không hề vương nhiễm vết nhơ tội lỗi ngay giây phút thai nhi. Mẹ “đầy ơn phúc” để đạt tới sung mãn ngõ hầu như Thánh Irênê nói Mẹ trở thành “causa salutis” (nguyên nhân cứu rỗi).
Trong thời thơ ấu của Đức Kitô, đời của Mẹ hòa lẫn với đời của Con nhất là trong những biến cố như Thăm viếng, Giáng sinh, Dâng con… Một sự hiệp thông hoàn hảo của Mẹ với Con bằng Đức Tin, Đức Cậy, Đức Mến. Nhờ ba nhân đức này, Mẹ trở thành gương mẫu sống động và sự hiệp thông để các tín hữu noi theo, biết đồng hóa mình với Đức Kitô. Đức Mẹ giữ vai trò của mình không phải ở bên lề, bên cạnh hay bên ngoài Giáo hội, nhưng chính mẹ ở trong Giáo hội, đóng vai trò trổi vượt trong mầu nhiệm Các Thánh thông công.
Trong thời gian hoạt động công khai của Đức Kitô, Tin Mừng rất kín đáo về cuộc đời của Đức Mẹ, nhưng lại đưa ra những câu nói mà một số nhà thần học muốn bỏ qua vì xem ra hạ thấp ít nhiều vinh dự của Đức Mẹ. Phụng vụ lại không rơi vào khuynh hướng đó, trái lại, Phụng vụ đã chọn lựa những bản văn đó cho phần Lễ chung Kính Đức Mẹ (Phúc âm).
“Mẹ Thầy và anh em Thầy đang đứng ngoài kia và hỏi Thầy. Đức Kitô đáp lại: ai là Mẹ và là anh em Thầy. Bất cứ ai thực hiện Ý Cha Thầy là anh em, là chị và là Mẹ Thầy” (Mc 3,31-35; Mt 12,46-50; Lc 8,19-21).
Những lời này, Đức Kitô muốn nhấn mạnh Nước Trời trổi vượt khỏi mọi lý lẽ và liên hệ huyết nhục.
Nhưng, như các giáo phụ đã hiểu rõ, đặc biệt Thánh Augustinô, thì những lời này không hề làm giảm giá trị và hạ thấp vai trò của Đức Mẹ. Trái lại, như Thánh Luca đã diễn tả trong 1,45 (Phúc cho Bà đã tin rằng các điều Chúa phán cùng Bà sẽ nên trọn), ta mới hiểu rõ ràng tính cao cả đích thực của Đức Mẹ cốt tại tin vào Lời Chúa trong khi quan niệm quần chúng chỉ cho cốt tại việc sinh hạ và nuôi dưỡng Đức Kitô.
Hai biến cố: tiệc cưới ở Cana và đứng bên Thánh giá với những thử thách lòng tin của Đức Mẹ đã nói lên: “Mẹ tiến bước trong cuộc lữ hành đức tin, trung thành hiệp nhất với Con cho đến thập giá là nơi mà theo ý Thiên Chúa, Mẹ đã đứng ở đó” (Lumen Gentium số 58).
Thánh Gioan đã viết: “ Stabant autem iuxta crucem Iesu mater eius” (đứng gần thập gía của Đức Giêsu có mẹ Ngài …). Stabant là “đứng thẳng”(eistékisan, se tenaient debout ), mạnh liệt, can trường, vững chắc như những đặc tính của thứ thép tốt. Vì thế, Đức Mẹ được tôn vinh là Nữ vương Các Thánh Tử Vì Đạo.
Các bà mẹ, các bà nội trợ lo lắng nhiều trong tình trạng kinh tế thế giới bị khủng hoảng. Còn Đức Maria thì đã sống “trong xóm ngõ khó nghèo làng Nagiaret “,”không điện, không nước cả hai ngàn năm rồi “! Sống chia sẽ nghèo khó với mọi người. Chỉ có tại tiệc cưới Cana, Mẹ mới xin Chúa làm phép lạ “nước hóa thành rượu” để giải thoát “cơn túng ngặt” cho nhà đám và nhận mạc khải của Chúa về “Bà” ( gọi Mẹ là Bà ở tiệc cưới Cana và gọi Mẹ là Bà từ trên thập giá) Không phải Đức Mẹ muốn cho quý bà rơi vào cảnh túng thiếu, khốn khổ nầy. Cảnh khốn khổ nầy có thể đặt ra cho ta như một thử thách niềm tin. Nhìn vào Đức Mẹ làng Nagiaret để tin tưởng và vui sống.
Mọi sự đã được sắp đặt một cách tuyệt hảo vô cùng nơi thượng trí của Thiên Chúa. Đối với loài người, ý định của Thiên Chúa đã được diễn tả rõ ràng qua ngòi bút của Thánh Phaolô:
“Thiên Chúa đã chọn ta trong Đức Kitô từ trước sáng thế để ta được nên Thánh và vô tì tích trước mặt Người. Bởi lòng mến, Người đã tiền định cho ta được phúc làm con nhờ Đức Giêsu Kitô và vì Ngài chiếu theo hậu ý của Thánh chỉ Người để ta ca ngợi vinh quang ân sủng của Người. Ân sủng Người đã khấn ban cho ta trong Đấng Chí Ái. Trong Ngài ta được ơn cứu chuộc… và kiện toàn lúc muôn thời viên mãn là thâu lại cả vạn vật dưới một đầu mối trong Đức Kitô”. (Ep 1, 4-10)
“Ngài là hình ảnh của Thiên Chúa vô hình, là trưởng tử giữa mọi thụ sinh vì trong Ngài vạn vật đã được tạo thành chốn trời cao và nơi dương gian, vật hữu hình và vô hình, dầu là bệ ngọc hay thiên chủ, dầu là thiên phủ hay quyền năng, mọi sự đã được tạo thành vì Ngài và nhờ Ngài. Ngài có trước mọi sự và mọi sự nhờ Ngài mà được tồn tại. Và Ngài là đầu của Thân Mình tức là Hội Thánh. Ngài là khởi nguyên, là trưởng tử giữa các vong nhân, để trong mọi sự, Ngài là đệ nhất vô song: Qui est imago Dei invisibilis, primogenitus ommis creaturae, quoniam in ipso condita sunt universa in caelis et in terra, visibilia et invisibilis, sive throni, sive dominationes, sive principatus, sive potestates: omnia per ipsum et in ipso creata sunt, et ipso est ante omnes, et omnia ipso constant. Et ipse est Caput Corporis Ecclesiae, qui est principium, primogenitus ex mortuis, ut sit omnibus ipse primatum tenens” (Col 1,15-18).
Từ trước đời đời, Thiên Chúa đã định sẵn có một lịch sử duy nhất, một con đường duy nhất là sáng tạo và cứu độ vũ trụ, muôn loài và muôn vật, Đức Kitô là thủ lãnh thống trị vũ trụ (primogenitus omnis creaturae) và cứu chuộc, Đức Kitô vừa là thủ lãnh thống trị vừa là nguồn sống cho vũ trụ cho Giáo hội (Caput corporis er corporis Ecclesia, từ ngữ Corpus ở Eph và Col có lẽ chỉ vũ trụ, thêm từ ngữ Ecclesia vào có lẽ là để nói vũ trụ đó là Giáo hội).
Mọi người chúng ta được tiền định làm con Thiên Chúa trong Chúa Kitô (sáng tạo) và chi thể của Chúa Kitô trong Thân Mình của Ngài là Giáo hội (cứu chuộc).
Vậy Đức Mẹ Maria nằm ở chỗ nào ? - Đối với Chúa Cha, Đức Mẹ vẫn nằm trong ý định vĩnh cửu trên nghĩa là Đức Mẹ là con của Chúa Cha trong Chúa Kitô. Và để thực hiện chương trình cứu chuộc, Đức Mẹ vẫn là con của Chúa Cha nhưng đối với Chúa Kitô vai trò của Đức Mẹ được biến đổi thành Mẹ Thiên Chúa. Và đây là một vinh dự cho Đức Mẹ, và cho cả vũ trụ vì “Mẹ sinh ra Đấng tạo thành nên Mẹ” (Lời Tổng Nguyện Lễ Đức Mẹ). Ba Ngôi tạo thành trời đất muôn loài muôn vật. Ba Ngôi tạo dựng nên Đức Mẹ Maria. Như vậy, Đức Mẹ là thụ tạo đối với Ba Ngôi, là thụ tạo đối với Ngôi Con (tương quan nguyên thủy) và tất nhiên Đức Mẹ phải phụ thuộc Ngôi Con (tương quan phụ thuộc) vì không bao giờ Đấng Sáng tạo lại lệ thuộc vào thụ tạo.
Ngôi Hai làm người trong cung lòng Đức Maria
Làm người mà không do một bà mẹ sinh ra, chỉ là làm người một cách tương tự. Muốn thực sự là người thì phải do một bà mẹ sinh ra. Thiên Chúa Cha đã định cho Ngôi Hai làm người, nghĩa là Ngôi Hai được một bà mẹ sinh ra làm người:
“Tới thời kỳ viên mãn, Thiên Chúa sai Con của Ngài sinh ra bởi người nữ” (Galat 4,4).
Thời kỳ viên mãn là thời kỳ thiên sai, hoặc thời cánh chung, làm thỏa mãn lòng mong đợi của bao nhiêu thế kỷ, cũng có nghĩa là thời kỳ tiền định của Thiên Chúa được mạc khải hoàn toàn và đầy đủ là Ngôi Hai làm người. Thiên Chúa hành động: cho Con của Ngài sinh ra bởi người nữ thì thời kỳ viên mãn đến. Điều này cho chúng ta thấy rõ Thiên Chúa đã chuẩn bị cho Con của Ngài nhập thể đồng thời chuẩn bị cho một dòng tộc và cuối cùng do một người nữ sinh ra:
“Liber generationis Domini Jesu Christi, filii David, filli Abraham… Abraham genuit… Nathan autem genuit Jacob, Jacob autem genuit Joseph, virum Mariae de qua natus est Jesus qui vocatur Christus: Sách gia phả của Chúa Giêsu Kitô, con Vua David, con Abraham…, Abraham sinh… Nathan sinh Gia cóp, Gia cóp sinh Giuse, chồng của Đức Maria, bởi Đức Maria thì Đức Giêsu gọi là Kitô sinh ra”. (Mt 1,1-16)
Cuộc chuẩn bị này, trong suốt lịch sử cứu độ để cho Ngôi Hai nhập thể, cũng nói lên được địa vị của Đức Maria trong quá trình chuẩn bị. Ta còn có thể nói Cựu Ước đã đạt tới thành công vĩ đại nơi Đức Maria, tinh hoa hữu nhất vô nhị của Cựu Ước, xứng đáng làm nơi cho Ngôi Hai đầu thai làm người.
Trong chương trình chuẩn bị này, ta cũng thấy rõ sở dĩ có Đức Mẹ Maria là vì Ngôi Hai làm người. Đức Mẹ được chuẩn bị sẵn sàng để phục vụ Ngôi Hai làm người tức là phục vụ Con của mình.
Đức Maria và lịch sử cứu độ
Chương trình cứu độ loài người nằm trong “plan éternel” (ý định vĩnh cữu) của Thiên Chúa nên có “tính vĩnh cửu, vượt khỏi thời gian, nhưng lại được thực hiện theo chiều dài của lịch sử loài người nên chương trình cứu độ trở thành lịch sử cứu độ (histoire du salut) (vậy không phải Ađam Evà phạm tội mà có chương trình cứu độ, nhưng vì Adam Eva phạm tội mà chương trinh cứu độ đẫm máu và chết)
Nói đến lịch sử là nói đến các biến cố, hiện tượng xã hội loài người xảy ra trong không gian và thời gian cụ thể và nhất định hoặc nói đến hiện tượng cá nhân có ảnh hưởng mãnh liệt tới xã hội thời đại.
Nói đến lịch sử cứu độ là nói đến công việc cứu độ Thiên Chúa đã thực hiện một cách cụ thể tại một hay nhiều nơi nhất định cho một người, một nhóm người, một đất nước, cho cả loài người.
Học hỏi lịch sử cứu độ là đưa ra những bằng chứng lịch sử, những kinh nghiệm của ơn cứu độ từ trước tới nay trong thời gian và nơi chốn nhất định khiến ta có thể vẽ ra một dòng lịch sử chung về ơn cứu độ. Kinh Thánh Cựu Ước vẽ ra những nét lớn của lịch sử cứu độ khởi đầu bằng giao ước Sinai với biến cố xuất hành khỏi “Ai cập” do “cánh tay mạnh của Đức Giavê” thực hiện; đại hội Sikem long trọng ký kết trung thành với Đức Giavê trước khi chiếm Hứa Địa. Các bản trình thuật Israel/ lịch sử Israel trong sách Đệ Nhị Luật, trong sách Các Vua, Ký sử, ơn huệ của Chúa ban và tội ác dân Israel là tư tưởng trực tiếp, chủ chốt vẽ ra được một giai đoạn lịch sử cứu độ. Phong trào tiên tri nhấn mạnh phải tín nhiệm vào Thiên Chúa, trung thành với giao ước đồng thời hướng dẫn dân hướng về tương lai, mong chờ Thiên Chúa can thiệp vào lịch sử Israel, vào lịch sử thế giới.
Thời tương lai đến với sự xuất hiện của Đức Giêsu Kitô Nazareth và bằng việc loan báo Nước Trời gần đến. Sự hiện diện của ơn cứu độ là chủ đề một số lớn dụ ngôn nhất là dụ ngôn mô tả “sự lớn mạnh” có mục đích tạo ra một sự tương phản rõ rệt giữa lúc bắt đầu khởi sự Nước Trời không thể thấy được và khi biểu lộ ra thì mọi người thấy được. Biến cố mới nhất và luôn luôn mới là Giao ước mới do Chúa Kitô thực hiện trên thập giá bằng sự chết và sống lại vinh hiển của Ngài. Mọi hoạt động của Chúa Kitô được Giáo hội rao giảng được phán đoán dưới ánh sáng sự chết và sự sống lại của Ngài. Đó chính là biến cố lịch sử thật sự, người ta thấy không những là dấu hiệu mà con là khởi đầu và nguyên nhân của thời đại cánh chung của ơn cứu độ. Ơn cứu độ chưa xuất hiện cách viên mãn hiện nay vì chỉ biết biểu lộ hoàn toàn trong ngày Chúa Kitô trở lại.
Chúa Kitô là trung tâm của chương trình cứu độ, là trung tâm của nhiệm cục cứu độ (économie de salut) là chính Đấng tạo ra và ban phát ơn cứu độ. Ngài làm người trong thân phận, số mệnh của một con người và liên đới với hết mọi người. Số mệnh của Ngài gắn với số mệnh của loài người để Ngài kéo loài người lên, đem loài người ra khỏi tội ác, biến đổi con người thành những “người anh em của Ngài”. Lịch sử ơn cứu độ tức là ơn sủng do Chúa Kitô lập ra được ban phát, và được thực hiện nơi loài người qua bao nhiêu thời đại cho đến tận thế.
Mà người lãnh nhận được ơn cứu độ hoàn hảo nhất, ngay khi còn là bào thai để đạt tới viên mãn khi đã sống mãn đời này là Đức Maria. Như vậy, Đức Mẹ là kết quả thành công nhất trong lịch sử ơn cứu độ mặc dầu lịch sử đó còn diễn tiến cho tới ngày tận thế.
Nhưng khi người ta nhìn lên Đức Maria, theo tâm lý, người ta chỉ ngắm tới những đặc ân, những thành quả của ơn Chúa nơi Đức Mẹ, quên đi thân phận làm người của Đức Mẹ, không nói tới con người của Đức Mẹ đáp ứng ơn Chúa theo sự tiến triển của nhận thức về ơn Chúa, về Chúa Kitô nơi Đức Mẹ. Những cái quên này lại rất gần gũi chúng ta, liên hệ tới cuộc sống cụ thể của chúng ta.
Ngày nay, người ta để ý tới cái phần quên sót đó nghĩa là chính con người của Đức Mẹ, cuộc đời tin yêu và phó thác của Đức Mẹ dưới sự hướng dẫn của ơn sủng. Học hỏi về Đức Mẹ là tìm hiểu phần chuẩn bị trước khi Đức Mẹ chào đời để biết được nguồn gốc, nghiên cứu đời sống trong thân phận làm người để biết cuộc đời Đức Mẹ trong chương trình của Thiên Chúa, mới thấy được sự gắn bó của Đức Mẹ với ta và của ta với Đức Mẹ.
Hiến chế Lumen Gentium số 55 đã dành riêng để trình bày công cuộc chuẩn bị con người Đức Maria trong Cựu Ước, rất nhiều chỗ tham chiếu Thánh Kinh cách minh nhiên hoặc mặc nhiên, như vậy sẽ thuận lợi đối thoại với anh em Tin Lành về Đức Maria.
Trước tiên, Công Đồng trình bày ba đoạn văn mà Tập truyền Giáo hội luôn luôn công nhận là lời tiên báo liên quan tới Đức Trinh Nữ Maria:
- Sáng thế ký 3,15:
“Ta sẽ đặt mối thù giữa ngươi và người nữ, giữa giòng giống ngươi và giòng giống người phụ nữ. Giòng giống đó sẽ đạp dập đầu ngươi và ngươi rình cắn gót chân họ”.
Bản dịch Hy Lạp thay vì “giòng giống đó đạp dập” thì dịch “Ngài đạp dập” nên đã hiểu cuộc chiến thắng do Đức Mêsia chứ không phải cả giòng giống sẽ chiến thắng ma quỷ, và như Thánh Phaolô nói Đức Kitô, Ađam mới (Rm 5,12-19), ta sẽ có hình ảnh Đức Maria, Eva mới, tức là cũng nói tới người Mẹ của Đấng Mêsia cũng giữ một vai trò nào đó trong cuộc chiến thắng tà thần. Bản dịch Latinh (Vulgata) viết: ipsa conteret (Bà sẽ đạp đầu ngươi) càng nói rõ ràng Đức Mẹ góp phần chiến thắng này.
- Isaia 7,14:
“Này đây thiếu nữ sẽ thụ thai và sinh hạ một con trai mà nàng sẽ đặt tên là Emmanuel”.
Đây là một trong những đoạn Kinh Thánh cơ bản nói về “vương triều thiên sai”. Ở đây, Mẹ của Đức Vua Thiên Sai đã được nhắc đến, thiếu nữ là Almah trong tiếng Do Thái, bản Hy Lạp dịch là parthenos có nghĩa là trinh nữ hay “đàn bà chưa kết hôn” đã đưa truyền thống Kitô giáo đến chỗ công nhận đoạn này không những nói về Đấng Thiên Sai mà còn trực tiếp ám chỉ về Đấng Thiên Sai sinh ra do một người nữ đồng trinh.
- Mêkia 5,1-3 :
“Cho tới thời người nữ phải sinh ra, đã được sinh ra”
Ở đây, bản văn phải hiểu theo nghĩa hẹp, có đặc tính Thiên sai. Sứ ngôn Mikêa nghĩ đến Mẹ của Đấng Mêsia (có lẽ Ngài liên tưởng tới Isaia 7,14, đoạn văn này xuất hiện trước Mêkia khoảng 30 năm).
Đức Mẹ xuất hiện quả là “thiếu nữ Sion” (Sophoni 3,14-17) vì Người là thành tựu cao nhất của Cựu Ước. Nhờ sự cộng tác của Người mà Cựu Ước chuyển tới Tân Ước bởi tinh thần khó nghèo và khiêm nhường của Người (Lc 1, 38,48). Với biến cố Truyền tin, Đức Maria chính thức xuất hiện trong mầu nhiệm của Đức Kitô trong lịch sử cứu độ. Người xưng mình “con là tôi tớ Chúa” và “xin vâng theo sứ mệnh Chúa trao phó nghĩa là để cho Thiên Chúa sử dụng mình vào công cuộc cứu độ”. Và như Thánh Tôma Aquinô đã nói trong cuốn chú giải sách Châm ngôn: “Actus singularis personae in multitudinis salutem redundans immo totius humani generis: hoạt động của cá nhân Ngài ảnh hưởng đến sự cứu rỗi nhiều người, nói đúng hơn đến sự cứu rỗi toàn thể nhân loại” (la 3 sent d III q.3 art. 2 sol 2). Và sau này, trong quyển Tổng Luận Thần Học, Thánh nhân viết: “Et ideo per annunctiationem expectabatur consensus virginis loco totius humanae naturae: và vì nhờ việc truyền tin, Thiên Chúa chờ đợi Đức Trinh Nữ ưng thuận thay cho toàn thể nhân loại” (S. Th III, 30,1).
Thiên Chúa đã muốn nhân loại đón nhận chương trình Con Chúa nhập thể và Ngài đã tạo ra những nguyên nhân đệ nhị để cộng tác vào chương trình này. Đức Maria giữ vai trò đặt biệt trong các nguyên nhân đệ nhị khi trả lời “xin vâng” một cách hoàn toàn.
Và vì tự do trả lời “xin vâng” nên bao nhiêu ân sủng Đức Maria lãnh nhận dư tràn để chuẩn bị cho Mẹ (Mẹ hoàn toàn Thánh thiện không hề vương nhiễm vết nhơ tội lỗi ngay giây phút thai nhi. Mẹ “đầy ơn phúc” để đạt tới sung mãn ngõ hầu như Thánh Irênê nói Mẹ trở thành “causa salutis” (nguyên nhân cứu rỗi).
Trong thời thơ ấu của Đức Kitô, đời của Mẹ hòa lẫn với đời của Con nhất là trong những biến cố như Thăm viếng, Giáng sinh, Dâng con… Một sự hiệp thông hoàn hảo của Mẹ với Con bằng Đức Tin, Đức Cậy, Đức Mến. Nhờ ba nhân đức này, Mẹ trở thành gương mẫu sống động và sự hiệp thông để các tín hữu noi theo, biết đồng hóa mình với Đức Kitô. Đức Mẹ giữ vai trò của mình không phải ở bên lề, bên cạnh hay bên ngoài Giáo hội, nhưng chính mẹ ở trong Giáo hội, đóng vai trò trổi vượt trong mầu nhiệm Các Thánh thông công.
Trong thời gian hoạt động công khai của Đức Kitô, Tin Mừng rất kín đáo về cuộc đời của Đức Mẹ, nhưng lại đưa ra những câu nói mà một số nhà thần học muốn bỏ qua vì xem ra hạ thấp ít nhiều vinh dự của Đức Mẹ. Phụng vụ lại không rơi vào khuynh hướng đó, trái lại, Phụng vụ đã chọn lựa những bản văn đó cho phần Lễ chung Kính Đức Mẹ (Phúc âm).
“Mẹ Thầy và anh em Thầy đang đứng ngoài kia và hỏi Thầy. Đức Kitô đáp lại: ai là Mẹ và là anh em Thầy. Bất cứ ai thực hiện Ý Cha Thầy là anh em, là chị và là Mẹ Thầy” (Mc 3,31-35; Mt 12,46-50; Lc 8,19-21).
Những lời này, Đức Kitô muốn nhấn mạnh Nước Trời trổi vượt khỏi mọi lý lẽ và liên hệ huyết nhục.
Nhưng, như các giáo phụ đã hiểu rõ, đặc biệt Thánh Augustinô, thì những lời này không hề làm giảm giá trị và hạ thấp vai trò của Đức Mẹ. Trái lại, như Thánh Luca đã diễn tả trong 1,45 (Phúc cho Bà đã tin rằng các điều Chúa phán cùng Bà sẽ nên trọn), ta mới hiểu rõ ràng tính cao cả đích thực của Đức Mẹ cốt tại tin vào Lời Chúa trong khi quan niệm quần chúng chỉ cho cốt tại việc sinh hạ và nuôi dưỡng Đức Kitô.
Hai biến cố: tiệc cưới ở Cana và đứng bên Thánh giá với những thử thách lòng tin của Đức Mẹ đã nói lên: “Mẹ tiến bước trong cuộc lữ hành đức tin, trung thành hiệp nhất với Con cho đến thập giá là nơi mà theo ý Thiên Chúa, Mẹ đã đứng ở đó” (Lumen Gentium số 58).
Thánh Gioan đã viết: “ Stabant autem iuxta crucem Iesu mater eius” (đứng gần thập gía của Đức Giêsu có mẹ Ngài …). Stabant là “đứng thẳng”(eistékisan, se tenaient debout ), mạnh liệt, can trường, vững chắc như những đặc tính của thứ thép tốt. Vì thế, Đức Mẹ được tôn vinh là Nữ vương Các Thánh Tử Vì Đạo.
Các bà mẹ, các bà nội trợ lo lắng nhiều trong tình trạng kinh tế thế giới bị khủng hoảng. Còn Đức Maria thì đã sống “trong xóm ngõ khó nghèo làng Nagiaret “,”không điện, không nước cả hai ngàn năm rồi “! Sống chia sẽ nghèo khó với mọi người. Chỉ có tại tiệc cưới Cana, Mẹ mới xin Chúa làm phép lạ “nước hóa thành rượu” để giải thoát “cơn túng ngặt” cho nhà đám và nhận mạc khải của Chúa về “Bà” ( gọi Mẹ là Bà ở tiệc cưới Cana và gọi Mẹ là Bà từ trên thập giá) Không phải Đức Mẹ muốn cho quý bà rơi vào cảnh túng thiếu, khốn khổ nầy. Cảnh khốn khổ nầy có thể đặt ra cho ta như một thử thách niềm tin. Nhìn vào Đức Mẹ làng Nagiaret để tin tưởng và vui sống.