Nhật ký Tĩnh tâm Linh Mục Tổng Giáo Phận Huế

(02-06/3/2009)

***

Ngày thứ hai (04/3/2009)

Ngày thứ hai của Tuần Tĩnh Tâm Linh mục đoàn Huế là ngày 04-3-2009.

Ý cầu nguyện của ngày hôm nay là cầu cho các Giám mục và các Linh mục đã qua đời.

Đề tài tĩnh tâm được hướng dẫn ban sáng là:

Đức Mến, con đường trổi vượt (1 Cr 12,31b–14,1)

Trong cuộc đời truyền giáo, chúng ta vẫn được nhắc bảo là noi gương Đức Kitô.

Hôm nay chúng ta nghe thánh Phaolô giới thiệu gương mặt Đức Kitô để chiêm ngưỡng và có một chương trình sống.

1.- “Con đường trổi vượt hơn cả”

“Trong các ân huệ của Thiên Chúa, anh em cứ tha thiết tìm những ơn cao trọng nhất. Nhưng đây tôi xin chỉ cho anh em con đường trổi vượt hơn cả” (12,31).

Bài diễn từ bắt đầu bằng một tối thượng cấp trong dạng lạ lùng, hẳn là phải lôi kéo sự chú ý của người Côrintô. Giọng bí mật này tiếp tục suốt bài diễn từ (x. 13,1-13), vừa đưa vào từ ngữ agapê trong dạng tuyệt đối, vừa tiến đi với giọng điệu hiền triết đầy những gợi ý huyền bí.

Danh từ hodos (“con đường”) được dùng ở đây, thì hầu như luôn luôn được Bản LXX dùng để dịch từ Híp-ri “derek” (“con đường”). Trong Cựu Ước, từ ngữ này đặc biệt có nghĩa là nẻo đường YHWH rảo qua để gặp gỡ Israel, Dân Ngài, và mạc khải cho họ biết ý muốn cứu độ của Ngài trong Torah, và do đó, là lối sống của người tín hữu được kêu gọi bước đi trên những nẻo đường của YHWH, bằng cách đón nhận Lời Ngài vào trong đời sống mình, qua việc lắng nghe chuyên chăm và vâng phục.

2.- “Nếu tôi không có đức mến” (13,1-3)

Hiệu quả lạ kỳ được gợi ra ở phần mở với thuật ngữ “con đường trổi vượt” (12,31b) được khuếch đại thêm trong ba mệnh đề đầu tiên, trong đó, Phaolô dùng các phản đề theo cách tăng dần, để lập một đối chiếu (i) giữa agapê và ơn nói tiếng lạ, (ii) giữa agapê và các đoàn sủng tiên tri, hiểu biết tất cả các mầu nhiệm và đức tin có khả năng làm phép lạ, cuối cùng (iii) giữa agapê và tất cả những gì con người có thể làm ở bình diện các thành quả anh hùng.

- “1 Giả như tôi có nói được các thứ tiếng của loài người và của các thiên thần đi nữa, mà không có đức mến, thì tôi cũng chẳng khác gì thanh la phèng phèng, chũm choẹ xoang xoảng. 2 Giả như tôi được ơn nói tiên tri, và được biết hết mọi điều bí nhiệm, mọi lẽ cao siêu, hay có được tất cả đức tin đến chuyển núi dời non, mà không có đức mến, thì tôi cũng chẳng là gì. 3 Giả như tôi có đem hết gia tài cơ nghiệp mà bố thí, hay nộp cả thân xác tôi để chịu thiêu đốt, mà không có đức mến, thì cũng chẳng ích gì cho tôi” (13,1-3).

Trong ba đoạn đối chiếu, công thức trở đi trở lại là: “nhưng tôi không có đức mến”.

Công thức này rất giống với ngôn ngữ được các hiền nhân và các nhà thần bí ưa chuộng, bởi vì chỉ có ngôn ngữ này mới thích hợp cho ai đang tìm cách nói lên điều khôn tả.

Ta có thể nghĩ đến bài ca ngợi sự khôn ngoan trong Gióp 28 hoặc các áng thơ của thánh Gioan Thánh Giá.

- Tôi có thể nói các ngôn ngữ loài người và thiên quốc, nhưng nếu tôi không có tình yêu, lời tôi nói cũng giống như tiếng ồn ào gây nên do tiếng trống tiếng chiêng, mà theo nghĩa bóng là các lời nói trống rỗng của các nhà hùng biện.

- Cũng thế, tôi có thể có đoàn sủng tiên tri, sự hiểu biết đầy đủ về tất cả các mầu nhiệm (x. 1 Cr 12,8; 14,6), đức tin có thể làm các việc kỳ diệu, nhưng nếu tôi không có tình yêu, thì “tôi cũng chẳng là gì”.

Công thức triệt để này nhắc lại Kn 9,6: “Quả thế, con người ta dẫu thập toàn đi nữa mà chẳng có Đức Khôn Ngoan của Ngài, thì cũng kể bằng không không vậy” (x. cả Dc 8,7b).

- Hoặc thậm chí tôi có thể đi tới chỗ phân phát của cải hoặc cho đi là hiến tặng mạng sống tôi, nhưng nếu tôi không có tình yêu, “thì cũng chẳng ích gì cho tôi”. Nếu thiếu tình yêu, cả hành vi anh hùng nhất cũng không có thể giúp gì vào việc cứu độ (x. Rm 2,25; Gl 5,2).

Điều đánh động và gây ngạc nhiên là trong bản văn này, từ ngữ agapê luôn luôn được dùng ở dạng tuyệt đối, không hề có một xác định tính cách, dù là chủ thể hay đối tượng, ngược lại với cách Phaolô thường dùng, khi nói là agapê của Thiên Chúa, của Đức Kitô, của Thánh Thần hoặc của loài người (xem chẳng hạn Rm 8,35.39; 15,30; 1 Tx 3,12; 1 Cr 16,24; 2 Cr 8,24).

Như thế, tình yêu được giới thiệu như một giá trị duy nhất và tự lập, thậm chí được nhân cách hóa như Đức Khôn Ngoan ([k]hokmah – sophia) trong Cn 8 và Hc 24.

Cách giới thiệu agapê theo kiểu tuyệt đối như thế chỉ có một bản văn song song ở 1 Cr 8,1, là nơi mà Phaolô khẳng định rằng khác với “sự hiểu biết, gnôsis” làm cho sinh lòng kiêu ngạo, agapê thì xây dựng.

Ta ghi nhận là ba lần trong cc. 1-3, hoàn cảnh giả thiết là đức mến được diễn tả bằng câu “nếu tôi không có đức mến”, đã giới thiệu tình yêu như là một thực tại tự lập đối với người hẳn là phải có đức mến, và như thực tại mà nếu không có, thì mọi sự còn lại chẳng còn gì đáng kể.

Ta cũng không thể không lưu ý đến tình trạng mười ba câu của 1 Cr 13 không hề có bất cứ một quy chiếu minh nhiên nào về Thiên Chúa, về Đức Kitô hoặc về Thánh Thần. Nhưng cũng không thể đọc trang này mà không quan tâm đến chân trời của tư tưởng Phaolô, theo đó, tình yêu của Thiên Chúa, mà Con duy nhất của Ngài đã ban cho chúng ta, và tình yêu của Đức Giêsu, Đấng đã hiến tặng mạng sống cho chúng ta, là mạc khải về mầu nhiệm agapê.

Chính vì thế, B. Standaert, và trước đây, C. Spicq, đã khẳng định rằng “bài ca ngợi agapê là một loại Kitô học ẩn giấu – và, tác giả tiếp tục, – chúng ta ghi nhận rằng hẳn là Phaolô đã có thể ưu tiên dùng những từ ngữ khác thay vì agapê […]. Sự chọn lựa từ ngữ agapê được giải thích tốt hơn dưới mắt chúng ta khởi đi từ quy chiếu mang tính Kitô học cao độ của nó. Đối với Phaolô, agapê, như ngài diễn tả nội dung trong các thư khác, trước tiên là hành vi qua đó Đức Kitô đã chết trên thập giá vì tội lỗi chúng ta (x. Rm 8,31tt và 2 Cr 5,14-15)”. Theo nghĩa này, hẳn là ta có thể nói rằng agapê được nhân cách hóa, chủ ngữ của mười lăm động từ ta thấy trong phần hai của bản văn này (cc. 4-7), rất có thể là chính Đức Kitô.

Ai là “tôi” chủ ngữ của tất cả những gì được nói đến trong phần thứ nhất này?

Trong cc. 1-3, nổi rõ các quy chiếu về bối cảnh Giáo Hội của Côrintô. Nhưng thánh tông đồ cũng nói lên chính ý muốn của ngài trong tư cách là con người tôn giáo… Cuối cùng, cái “tôi” này còn là một cái “tôi” tiêu biểu, giống như cái tôi của Rm 7, tượng trưng mỗi tín hữu hoặc thậm chí có thể mỗi người.

3.- Đức mến làm gì và không làm gì? (13,4-7)

Trong phần thứ hai này, mọi đại từ nhân xưng đều biến mất, thậm chí bị minh nhiên phủ nhận ở c. 5, là chỗ tác giả nói rằng agapê “không tìm lợi lộc của mình”.

Agapê là chủ từ duy nhất của mười lăm động từ…: hai ở dạng tích cực, tám ở dạng tiêu cực, và năm lại ở dạng tích cực.

Ngoài việc xác định phẩm chất của tình yêu trong việc nó làm, như thế là mặc nhiên thách cộng đoàn Cr sống phù hợp với làn sóng này chứ không với việc đi tìm các đoàn sủng ngoạn mục hơn, với các động từ tiêu cực, Phaolô phê bình lối sống của các người nhận thư.

Sự kiện agapê là chủ ngữ của tám động từ tiêu cực và bảy động từ tích cực gợi ý rằng tình yêu trung thực là tình yêu đạt được một sự hài hòa khôn ngoan giữa những thái độ thụ động và những thái độ chủ động, giữa làm và không làm. Ai chỉ sống bằng những thái độ thụ động thì có thể có vẻ hiền từ và tốt lành, nhưng trong thực tế có thể chỉ là một con người lãnh đạm và không quan tâm đến người khác.

Đàng khác, người nào có toàn những thái độ chủ động thì rất có thể làm nhiều chuyện cho người khác, khiến rơi vào một thứ xu hướng duy động không hiểu biết và không điều độ, và trong thực tế, xu hướng này che giấu một thứ trốn chạy bản thân vì sợ sự cô độc và một xu hướng dụng cụ hóa tha nhân vì tìm kiếm tha nhân không vì chính tha nhân, nhưng để đáp lại một xu hướng thích làm đến rồ dại.

Trong phần thứ nhất, ước muốn bị lột mặt nạ trong tính xấu xa của nó. Bây giờ, ước muốn được chiêm ngắm trong chiều kích đã được biến dạng bởi hành động hoàn toàn nhưng-không của Thiên Chúa được mạc khải bởi Đức Giêsu Kitô…

“Đức mến thì nhẫn nhục, hiền hậu…” (13,4a).

Hai phẩm chất đầu tiên của đức mến bày tỏ thực tại thâm sâu nhất của đức mến. Sự nhẫn nhục là khả năng nhìn rộng trên những người khác và trên thực tại với những chân trời mở rộng. Chính cái nhìn này làm dấy lên khả năng “làm điều tốt” cách khả ái và kín đáo theo gương Đức Giêsu, “đi tới đâu là Người giáng phúc tới đó” (Cv 10,38).

Sự nhẫn nhục và hiền hậu là những nét tiêu biểu của hành động của Thiên Chúa đối với loài người và thuộc về thực tại mà Phaolô gọi là “hoa quả” của Thần Khí (Rm 2,4; 9,22; Gl 5,22).

Hai nét này phải là đặc điểm của lối sống và hành động của Thiên Chúa và mỗi Kitô hữu (2 Cr 6,6; 1 Tx 5,14; Cl 3,12-13; Ep 4,2; 1 Tm 1,16; 2 Tm 3,10; 4,2).

Tiếp theo là tám động từ ở dạng tiêu cực: “không ghen tương, không vênh vang, không tự đắc, không làm điều bất chính, không tìm tư lợi, không nóng giận, không nuôi hận thù, không mừng khi thấy sự gian ác, nhưng vui khi thấy điều chân thật” (13,4b-6).

Các động từ này diễn tả các thái độ không tương hợp với agapê. Đây là những thái độ ghen tị và cạnh tranh, được kể vào những “việc làm của xác thịt” ở Gl 5,20 và trong những danh mục các tật xấu trong Rm 13,13 và 2 Cr 12,20; đây là những thái độ cao ngạo trước kẻ khác bị coi là thấp kém, tự đề cao kiêu căng; những lối sống gai chướng làm tổn thương người khác, những hành vi khép kín kẻ thực hiện trong vòng tròn ích kỷ của tư lợi, những phản ứng giận dữ và hiềm khích. Khép chuỗi dài các động từ ở dạng tiêu cực này là một mệnh đề đối nghĩa trong đó tác giả nói rằng agapê không để cho mình bị dính líu vào trong những tâm tình mừng rỡ khi phải chứng kiến sự bất công, nhưng tỏ ra vui mừng khi chứng kiến tất cả những gì là chân thật và công chính.

Bài ca ngợi agapê kết thúc với bốn mệnh đề ngắn với điệp khúc là “sự toàn thể”: “Đức mến tha thứ tất cả, tin tưởng tất cả, hy vọng tất cả, chịu đựng tất cả” (13,7). Đức mến có khả năng chịu đựng mọi nghịch cảnh và không đầu hàng trước các khó khăn, không bao giờ mất tin tưởng vào sự sống và không bao giờ ngừng hy vọng.

Vì có thể coi tình yêu là chính Đức Kitô, khi bước theo “con đường trổi vượt” là chúng ta bước theo Đức Kitô.

Mười lăm nét làm nên dung mạo của đức mến cũng là mười lăm nét làm nên gương mặt của Đức Kitô và là chương trình sống của chúng ta.

(Linh mục FX. Vũ Phan Long, ofm, Giám Tỉnh Dòng Phanxicô)

*********************

Trong Thánh Lễ lúc 10 giờ 15, Cha Phêrô Nguyễn Hữu Giải, quản xứ An Bằng, chia sẻ Tin Mừng như sau:

Kính lạy Hai Đức Cha.

Kính Cha Giảng Phòng.

Kính thưa các cha.

Đức Chúa Giêsu nói với dân chúng Do Thái đang tụ họp đông đủ quanh Ngài: ông Giôna đã là một dấu lạ cho dân thành Ninivê thế nào, thì Con Người cũng sẽ là một dấu lạ cho thế hệ nầy như vậy.

Đức Chúa Giêsu làm gì để nên dấu lạ?

1. Chưa phải là dấu lạ đích thực.

Tin Mừng theo thánh Máccô thường ghi lại lời căn dặn nghiêm túc của Đức Chúa Giêsu, là đừng nói cho ai biết sau một phép lạ hoặc một biến cố quan trọng của Ngài. Chẳng hạn: chữa lành một người bị phong hủi, một người vừa điếc vừa ngọng, cho con gái ông Gia-ia sống lại...

Ngài thường nghiêm cấm tiết lộ cho người khác biết, dù có nhiều người chứng kiến.

Khi thánh Phêrô tuyên xưng đức tin: Thầy là Đấng Kitô, hoặc sau khi biến hình trên núi Tabôrê cho ba tông đồ Phêrô, Giacôbê và Gioan, Ngài cũng cấm ngặt không được nói cho ai biết, không được kể lại cho ai hay.

Như thế, ý Ngài không muốn việc giảng dạy và phép lạ của Ngài đã là dấu lạ đích thực và đầy đủ cho người ta tin Ngài.

Hơn nữa, nhiều người vẫn chưa tin Ngài là Đấng Cứu Thế đúng ý Ngài.

2. Điều đáng sợ nhất!

Khi hóa bánh ra nhiều cho năm ngàn người ăn no nê, và thấy dân chúng sắp tôn nghinh mình làm vua, Ngài vội vàng cho các tông đồ lanh chân xuống thuyền ra khơi, còn Ngài thì nhanh chóng ẩn mặt, lánh lên núi cao một mình.

Khi loan báo cuộc Thương Khó và Phục Sinh cho các tông đồ, Ngài bị thánh Phêrô trách yêu, Ngài liền mạnh mẽ phản ứng bất ngờ: Xatan, lui lại đàng sau Thầy vì tư tưởng của anh không phải là tư tưởng của Thiên Chúa, mà là của loài người.

Ngài mang sẵn trong mình một nỗi sợ hãi và Ngài tỏ ra hoảng hốt. Ngài phản ứng nhanh và quyết liệt đối với bất cứ ai, dù là quần chúng, thân nhân, bạn bè, đồ đệ và bản thân mình có những ý tưởng và hành động trái ngược với thánh ý Cha Ngài đối với chính Ngài trong sứ vụ cứu chuộc.

3. Điểm quy chiếu chính yếu.

Đức Chúa Giêsu luôn tự kỷ ám thị tìm ra thánh ý Cha Ngài và trung thành thi hành.

Lương thực của Thầy là làm theo ý Cha Thầy.

Con đường phục vụ là dâng mạng sống mình làm giá chuộc muôn người.

Khi nào bị treo lên, Thầy sẽ lôi kéo mọi sự lên với Thầy.

Lạy Cha, đừng theo ý con.

Mọi sự đã hoàn tất.

Ngài lấy thánh ý Cha làm điểm quy chiếu cho đời Ngài và sứ vụ của Ngài.

Chíeu theo thánh ý Cha Ngài, Ngài đi vào con đường tự hủy. Đau khổ, sỉ nhục, bị lên án, và đỉnh cao, là Biến Cố Vượt Qua: bị đóng đinh chết trần trụi, chôn vào lòng đất, để rồi phục sinh ban ơn cứu rỗi, trở nên dấu lạ đích thực cho mọi người tin vào để được sống đời đời.

Ở Núi Sọ, Ngài là dấu lạ. Lương giáo tin Ngài.

Viên sĩ quan Rôma tuyên xưng niềm tin. Người trộm lành, dân chúng đấm ngực ăn năn. Nicôđêmô công khai theo Ngài.

Ba mươi ba năm là lãnh đạo, Ngài ngồi xuống rửa chân cho những đồ đệ phản bội vô ơn cho đến đỉnh cao yêu thương đổ máu từ Thánh Giá Cứu Chuộc.

Là ngôn sứ, Ngài kiên định công bố thánh ý Cha và chuyển hoá lời giảng thành tấm thân treo Thánh Giá.

Là tư tế, Ngài tự huủy diệt thành con chiên vẹn sạch, hy tế trên Thánh Giá theo thánh ý Cha.

4. Hôm nay, hoàn cảnh nầy, môi trường nầy, giáo dân đang xin linh mục cho dấu lạ. Lương dân đang tìm dấu lạ từ linh mục.

Lạy Đức Chúa Giêsu, Ngài luôn tín nhiệm chúng con. Ngài muốn chúng con là dấu lạ cho thế hệ nầy. Xin Ngài sử dụng chúng con theo chương trình của Ngài. Amen.

Fiat Voluntas Tua!

*********************

Đề tài tĩnh tâm được hướng dẫn ban chiều là:

Bữa Tiệc của Chúa (1 Cr 11, 17-34)

Ngày 17-4-2003, Đức Gioan-Phaolô II đã ban Thông điệp Ecclesia de Eucharistia. Tiếp nối Đức Giáo hoàng.

Ngày 25-3-2004, Thánh Bộ Phượng Tự và Kỷ luật Bí Tích đã ban Huấn thị Sacramentum Redemptionis.

Vào tháng 10-2004, chúng ta đã cùng với Giáo Hội đi vào Năm Thánh Thể với Tông Thư Mane nobiscum Domine Đức giáo hoàng ban ngày 7-10-2004.

Tất cả những sự kiện này mời gọi chúng ta dừng lại để suy niệm một chút về Bí Tích Thánh Thể.

Chúng ta đọc 1 Cr 11,17-34.

Trong đoạn thư này, thánh Phaolô bàn về Bữa Tiệc của Chúa.

Trước tiên, thánh tông đồ trách Hội Thánh Côrintô vì các cuộc hội họp của họ chẳng đem lại lợi ích gì, mà lại còn tạo ra những hiệu quả tiêu cực; lý do là vì họ chia rẽ nhau (11,17-22).

Kế đó, ngài nhắc lại truyền thống về Bữa Tiệc của Chúa để họ biết thẩm định lại cách cử hành một cuộc tưởng niệm (11,23-26).

Cuối cùng, ngài kết thúc bằng cách ban cho một vài chỉ thị thực tiễn (11,27-34).

1.- Một cộng đoàn bị chia rẽ (11,17-22)

Thánh tông đồ phác họa ra hoàn cảnh của cộng đoàn như sau:

- “Trước tiên tôi nghe rằng khi họp cộng đoàn (synerchesthe in ekklêsia), anh em chia rẽ nhau (schismata), và tôi tin là điều ấy có phần nào đúng” (11,18).

Hoàn cảnh trong đó có những chia rẽ được xác định bởi động từ “họp; quy tụ (synerchesthai)” và danh từ “cộng đoàn (ekklêsia)”.

Động từ synerchesthai được dùng ở đây và ở 14,23.26, là nơi mà Phaolô cho những sắp xếp thực tiễn nhằm duy trì trật tự trong các cộng đoàn; động từ này diễn tả sự quy tụ của toàn thể cộng đoàn.

Còn danh từ ekklêsia được dùng hai lần trong bản văn (x. cc. 18.22), lần đầu với nghĩa là “cộng đoàn cử hành” và một lần với nghĩa là “Hội Thánh của Thiên Chúa”.

Theo hy-ngữ ngoài Kinh Thánh, từ này có nghĩa là toàn thể các công dân quy tụ lại thành cộng đoàn để quyết định về những vấn đề liên hệ đến thành phố, còn trong Bản LXX, từ này có nghĩa là dân Thiên Chúa được triệu tập để thờ phượng Thiên Chúa.

Như thế, các chia rẽ xảy ra ngay trong lòng cộng đoàn đã được quy tụ, tức là nơi của sự hiệp thông. Tức là các Kitô hữu sống thật sự chia rẽ và sống giả sự hiệp thông!

Trước khi xác định các chia rẽ trong cộng đoàn Côrintô hệ tại điều gì, thánh tông đồ khẳng định rằng cũng không thể tránh được các chia rẽ này.

Với lại các chia rẽ này cũng có một vai trò tích cực: “Những sự chia rẽ giữa anh em, thế nào cũng phải (dei) có, nhưng nhờ vậy mới rõ ai là người đạo đức chắc chắn” (c. 19).

Động từ “phải; cần thiết (dei)” diễn tả một điều thuộc về quyết định của Thiên Chúa trong chương trình của Ngài.

Các chia rẽ cần thiết theo nghĩa là tỏ cho thấy ai là tín hữu “đã được thử thách” (dokimoi), nghĩa là đã thắng vượt thử thách là các chia rẽ, có khả năng chống lại tất cả những gì gây bất hòa và chia rẽ (x. 3,1-4).

Thế rồi, Phaolô phác ra những chia rẽ đang tấn công các cuộc hội họp cộng đoàn: “Khi anh em họp nhau, thì không phải là để ăn bữa tối của Chúa. Thật vậy, mỗi người lo ăn bữa riêng của mình trước, và như thế, kẻ thì đói, người lại say” (cc. 20-21).

Các chia rẽ đã xảy ra vào ngay khi các Kitô hữu quy tụ lại để cử hành tưởng niệm Bữa Tiệc của Đức Giêsu.

Dựa vào cc. 23-26, ta biết là các Kitô hữu thường tụ họp tại nhà một Kitô hữu; lương thực thì các tín hữu mang đến tùy khả năng và góp chung lại. Người ta ăn chung với nhau sau khi đọc lời chúc tụng trên Bánh Thánh Thể; và đến cuối, “sau khi đã ăn tối” (c. 25), người ta đọc lời chúc tụng trên Chén Thánh Thể.

Có thể Phaolô đề cập đến ở đây một hoàn cảnh xã hội trong đó người ta phải tổ chức các buổi hội họp Thánh Thể tại nhà những người giàu; người ta phải tiếp đón mọi Kitô hữu, kể cả những người nghèo và các nô lệ vào nơi hội, nhưng chủ nhà chỉ mời những bạn bè khá giả của ông vào ăn bữa tiệc trước tiệc Thánh Thể; có cả những thực phẩm mỗi người mang đến (Những cuộc đào bới khảo cổ tại các nhà của những người giàu ở Côrintô cho thấy là phòng ăn (triclinium) và sân không thể chứa hơn 50 người. Có lẽ những khách mời hạng sang thì ăn trong phòng ăn, còn những người khác thì ở ngoài sân).

Cũng có thể vào thời gian này, có vài Kitô hữu sung túc đến trước, đã không chờ những người khác, mà ăn ngay (pro-lambanô, “lấy trước”) những thức ăn mỗi người mang đến, và ăn no say. Hậu quả là lương thực cho bữa ăn chung còn lại rất ít, và những người nghèo, đến trễ (x. c. 33), có lẽ vì việc làm hoặc vì sĩ diện do không có gì góp chung, chẳng còn gì mấy mà ăn.

Như vậy, đây là một xung đột xã hội, văn hóa, kinh tế, do trong cộng đoàn có những giai cấp xã hội khác nhau: cộng đoàn có một thiểu số gồm “những người khôn ngoan theo xác thịt”, “những người quyền thế” và “những người quí phái” và một đa số gồm những người không có gì cả (x. 1,26).

Như thế, sự lạm dụng mà Phaolô tố giác là sự chia cách đang có (schisma, [h]airesis) giữa các Kitô hữu Côrintô, và sự chia cách này xuất hiện rõ ràng khi cộng đoàn quy tụ lại để cử hành Bữa tiệc của Chúa.

Phaolô lưu ý họ rằng nếu họ sống như vậy, thì cho dù họ có quy tụ lại để “ăn bữa tối của Chúa” (c. 20), trong thực tế, họ chỉ “ăn bữa riêng của mình” (c. 21), và cuộc quy tụ chẳng còn là một cử hành thánh thiêng nữa.

Thánh tông đồ đã nói nặng với họ: “Anh em không có nhà để ăn uống sao? Hay anh em khinh dể Hội Thánh của Thiên Chúa và làm nhục những người không có của? Tôi phải nói gì với anh em? Chẳng lẽ tôi khen anh em sao? Về điểm này, tôi chẳng khen đâu!” (c. 22).

2.- Tưởng niệm (11,23-26)

Sau khi đã nêu nhận xét tiêu cực, Phaolô nhắc lại truyền thống cử hành Bữa tiệc của Chúa, để người Côrintô suy gẫm các lời nói và hành vi của Đức Giêsu mà rút ra những hệ luận mà tự điều chỉnh.

Trước hết, ngài nhắc lại rằng ngài đã nhận (paralambanô) được từ Chúa (apo tou Kyriou) những gì tới lượt ngài, ngài truyền đạt (paradidômi) cho họ.

Nghi thức Bữa tiệc này chắc chắn phát xuất từ Đức Giêsu, nhưng thánh tông đồ đã không nhận trực tiếp từ Đức Giêsu, mà nhận từ truyền thống Hội thánh.

Bài tường thuật mở đầu với một chi tiết nói về thời gian: “Trong đêm [Chúa Giêsu] bị nộp (paredideto)” (c. 23b).

Biến cố Bữa Tiệc Thánh Thể được liên kết với việc Đức Giêsu bị nộp cho kẻ thù, sự cố này được diễn tả bằng động từ paradidômi, “trao nộp”.

Ở đây không có những nhắc nhớ tới Lễ Vượt Qua như trong truyền thống Nhất Lãm.

Thánh tông đồ không nói đến kẻ phản bội. Rất có thể ngài có nghĩ đến Giuđa, nhưng hẳn cũng nghĩ đến Chúa Cha, vì ngài đã viết rằng Chúa Cha “đã chẳng tha chính Con Một, nhưng đã trao nộp (paredôken) vì hết thảy chúng ta” (Rm 8,32; 4,25).

Ý tưởng nói về việc Thiên Chúa trao nộp Đức Giêsu để Ngài chịu chết, phát xuất từ Bài Ca Người Tôi Trung của Đức Chúa, trong đó, theo Bản dịch hy-lạp, ta đọc: “Tất cả chúng ta lạc lõng như chiên cừu, lang thang mỗi người một ngả. Nhưng Đức Chúa đã đổ trên đầu người tội lỗi của tất cả chúng ta.Vì thế, Ta sẽ ban cho nó muôn người làm gia sản, và cùng với những bậc anh hùng hào kiệt, nó sẽ được chia chiến lợi phẩm, bởi vì nó đã hiến thân chịu chết, đã bị liệt vào hàng tội nhân; nhưng thực ra, nó đã mang lấy tội muôn người và can thiệp cho những kẻ tội lỗi” (Is 53,6b.12a.12b).

Nhưng hẳn là Phaolô cũng muốn nói đến cả chọn lựa của Đức Giêsu, vì Ngài cũng “đã trao nộp” chính thân mình để chịu chết vì yêu thương: “Đấng đã yêu mến tôi và hiến (paradontos) mạng vì tôi” (Gl 2,20).

Từ những bản văn này, ta diễn dịch ra là đối với Phaolô, cái chết của Đức Giêsu là hậu quả của manh tâm kẻ ác, nhưng cũng là việc thực hiện dự phóng của Chúa Cha mà Đức Giêsu đã tự do chấp nhận vì yêu thương.

Thế rồi, thánh tông đồ tường thuật lại những cử chỉ và lời nói của Đức Giêsu:

- “Trong đêm bị nộp, Chúa Giêsu cầm lấy bánh, dâng lời chúc tụng tạ ơn (eucharistêsas), rồi bẻ ra và nói: «Anh em cầm lấy mà ăn, đây là mình Thầy, hiến tế vì anh em; anh em hãy làm như Thầy vừa làm để tưởng nhớ đến Thầy»”.

Các cử chỉ Đức Giêsu làm là theo nghi thức bữa tiệc Vượt Qua và nghi thức mỗi bữa ăn Do-thái khác.

Mở đầu bữa tối, người chủ gia đình đọc lời chúc phúc trên bánh, trong đó có lời tạ ơn Thiên Chúa về các ân huệ Người ban cho Dân Người. Rồi ông bẻ bánh, phân phát cho mọi người có mặt như dấu chỉ diễn tả mọi người được thông phần vào các ân huệ của Thiên Chúa.

Đức Giêsu đồng hóa bánh được bẻ ra với thân thể Ngài.

Với các từ “[hiến tế] vì anh em” nối vào “thân thể [mình]” Ngài, đây lại đúng là vai trò của Người Tôi Trung của Đức Chúa, Đấng “Sự thật, chính người đã mang lấy những bệnh tật của chúng ta, đã gánh chịu những đau khổ của chúng ta” (Is 53,4a).

Giới từ hyper, “vì; nhằm chiếu cố đến” trong các Thư Phaolô diễn tả sự tự hiến của Đức Giêsu và cái chết ban ơn cứu độ của Ngài (x. Gl 2,20).

Trong đêm Người bị trao nộp, Đức Giêsu tự hiến mình vì anh em Người.

Cái chết dữ dội, vừa diễn tả tình yêu và sự hiến thân của Người, vừa trở thành biến cố cứu độ cho mọi người. Trong bối cảnh là cái chết gần kề, lời tạ ơn của Người diễn tả lòng Người chấp nhận trọn vẹn kế hoạch của Chúa Cha này được nên hiện thực trong cái chết của Người. Ăn thịt Đức Kitô – truyền thống Mc và Mt kể lại lời mời “anh em hãy cầm lấy mà ăn”, mà Phaolô bỏ, có lẽ được hiểu ngầm trong cử chỉ của Đức Giêsu – có nghĩa là gắn bó trọn vẹn và tham dự vào số phận của Người là chết và sống lại.

Cuối cùng, tác giả ghi lại các lời Đức Giêsu: “Anh em hãy làm như Thầy vừa làm để tưởng nhớ đến Thầy”.

Lệnh truyền này đưa ta trở lại với nghi thức lễ Vượt Qua Do-thái, tưởng niệm cuộc giải phóng khỏi Ai-cập, mà người ta phải cử hành như “Các ngươi phải lấy ngày đó làm ngày tưởng niệm, ngày đại lễ mừng Đức Chúa. Qua mọi thế hệ, các ngươi phải mừng ngày lễ này: đó là luật quy định cho đến muôn đời” (Xh 12,14).

Từ ngữ “tưởng niệm” (Hp zikkarôn) và động từ “tưởng niệm” (Hp zakar) không có nghĩa là nhớ lại một sự kiện trong ký ức, nhưng là làm cho chính biến cố ta cử hành tái hiện.

Như thế, việc cử hành bữa tiệc của Chúa trong cộng đoàn Kitô hữu sẽ như lễ Vượt Qua Do-thái, là một cuộc tưởng niệm, nghĩa là một cử chỉ làm cho con người Đức Giêsu hiện diện, trong tư cách là Đức Chúa phục sinh và đang sống, Đấng ban ơn cứu độ chung cuộc.

Cùng một chiều hướng với Lc, Phaolô nhắc lại rằng việc phân phát rượu được làm vào cuối bữa ăn, đúng theo tập tục Do-thái.

Công thức được Mc và Mt kể lại thì khác với công thức Phaolô.

Theo hai tác giả Tin Mừng này, Đức Giêsu giới thiệu rượu như là máu Người: “Đây là máu Thầy, máu Giao Ước” (Mc 14,24). Như Môsê trên núi Sinai ngày xưa đã dùng máu bò để ký giao ước với Thiên Chúa (x. Xh 24,8), Đức Giêsu dùng máu Người để ký kết giao ước của Thiên Chúa với loài người. Cái chết của Đức Giêsu trên thập giá, được diễn tả cách biểu tượng trong Bữa Tiệc Vượt Qua, trở thành hy tế phê chuẩn giao ước này.

Trái lại, trong Phaolô, cũng như trong Lc, Đức Giêsu đồng hóa chén đầy rượu với giao ước được thực hiện trong máu Người: “Chén này là giao ước trong máu Thầy” (c. 25).

Đức Giêsu nhấn mạnh trên giao ước hơn là trên máu, được coi như dụng cụ thực hiện hoặc nguyên nhân đưa tới giao ước.

Giao ước này được xác định tính chất là “mới”, là có ý nhắc lại lời ngôn sứ Giêrêmia loan báo một giao ước mới cho thời cuối cùng sẽ được thực hiện (Gr 31,31-34).

Phaolô đã “đọc lại” cái chết của Đức Giêsu bằng chìa khóa hy tế; nhờ cái chết này, sự hiệp nhất giữa Thiên Chúa và loài người và giữa loài người với nhau được thực hiện. Từ đó, ngài giúp hiểu rằng cả bữa tiệc cũng phải có đặc tính này.

Cuối cùng, Phaolô nhắc lại lời Đức Giêsu mời làm lại cũng cử chỉ này để nhớ đến Người, và bình luận như sau:

“Thật vậy, cho tói ngày Chúa đến, mỗi lần ăn Bánh và uống Chén này, là anh em loan truyền Chúa đã chịu chết” (c. 26).

Cộng đoàn Kitô hữu quy tụ lại để cử hành bữa tiệc của Chúa thì loan truyền cái chết của Chúa, Đấng kể từ nay đã sống lại, cho đến khi Người lại đến, và chờ đợi Người trong niềm cậy trông.

Phaolô muốn giúp người Côrintô hiểu rằng, khi họ quy tụ lại để cử hành bữa tiệc của Chúa, họ tưởng niệm cái chết của Người trên thập giá, một cái chết được tiên báo trong các cử chỉ và lời nói của Đức Giêsu vào bữa tối cuối cùng, để thực hiện giao ước mới đã từng được các ngôn sứ hứa và đã quy tụ được Dân mới của Thiên Chúa.

Do đó, điều căn bản là giữa các thành viên của cộng đoàn, phải tạo được tương quan tình yêu và liên đới như tương quan đã có giữa Đức Giêsu và các môn đệ, một tương quan đã đưa Người đến chỗ hy sinh mạng sống cho họ trên thập giá.

Các Kitô hữu Côrintô chỉ có thể thực sự cử hành bữa tiệc của Chúa nếu họ thắng vượt được các chia rẽ giữa họ với nhau; nếu không, với lối sống của họ, họ mâu thuẫn với điều họ cử hành, và hậu quả là cuộc cử hành của họ chỉ còn là một nghi thức không có ý nghĩa.

3.- Để cử hành xứng đáng bữa tiệc của Chúa (11,27-34)

Sau khi đã nhắc lại truyền thống về Bữa Tiệc của Chúa, thánh tông đồ rút ra các hệ luận: “Vì thế, bất cứ ai ăn Bánh và uống Chén của Chúa cách bất xứng (anaxiôs), thì cũng phạm đến Mình và Máu Chúa” (c. 27).

Trạng từ anaxiôs chỉ được dùng ở đây trong Tân Ước, nhưng có ở trong một vài đoạn dưới dạng tích cực (axiôs) để diễn tả một lối ứng xử phải có trong một hoàn cảnh đặc biệt.

Khi được dùng trong dạng tiêu cực (anaxiôs), trạng từ này diễn tả một lối sống không phù hợp với những yêu cầu của một hoàn cảnh nhất định, ở đây là Bữa Tiệc của Chúa.

Đây không phải là những tội riêng tư, mà là một lối sống thiếu quan tâm đến tình liên đới (lo ăn riêng!), mà tình liên đới lại là mục tiêu Đức Giêsu nhắm khi thiết lập Bí tích Thánh Thể.

Ai tham dự cách bất xứng vào Bữa Tiệc của Chúa, thì không những phạm một tội chống lại loài người, mà còn phạm đến (enochos) Chúa, bởi vì Bánh và Rượu là Mình và Máu Người: “Phạm đến anh em mà Đức Kitô đã chịu chết để cứu chuộc … là phạm đến Đức Kitô” (8,11.12).

Từ nhận định này, tác giả đi đến một chỉ thị:

- “Ai nấy phải tự xét mình, rồi hãy ăn Bánh và uống Chén này. Thật vậy, ai ăn và uống không phân biệt được (mê diakrinôn) Thân Thể Chúa, là ăn và uống án phạt (krima) mình” (cc. 28-29).

Để khỏi bị kết án, cần phải tự xét mình với óc phê bình (dôkimazeto), với mục đích là để kiểm tra xem mình có ở trong điều kiện đủ chăng để được tham dự vào Bữa Tiệc của Chúa.

Ở đây việc kiểm tra nhắm đến một điểm cụ thể: óc cá nhân chủ nghĩa khi tham dự Bữa Tiệc của Chúa.

Thuật ngữ “Thân Thể Chúa” chỉ Hội Thánh, được tạo nên bởi những người thông phần vào một tấm bánh duy nhất, nên tạo thành một thân thể duy nhất, một đơn vị với Đức Kitô và cùng với Người được tượng trưng bằng chính tấm bánh (10,17; 12,12).

Nhận biết Thân Thể Chúa có nghĩa là sống tương quan liên đới với Người và với các tín hữu khác. Ai không sống tình liên đới này, và do đó tham dự trong bối cảnh gồm những chia rẽ vào Bữa Tiệc của Chúa, “là ăn và uống án phạt (krima) mình”, tức là đưa mình ra hứng lấy hình phạt của Thiên Chúa.

Kết luận

Thánh tông đồ chú ý đến một phương diện của cuộc cử hành, đó là bữa ăn cộng đoàn.

Vào thời ấy, bữa ăn này nêu bật tình liên đới, là một đòi hỏi mặc nhiên trong cử chỉ Đức Giêsu làm để tiên báo cái chết của Người.

Chính trên tình liên đới này mà cộng đoàn Kitô hữu được xây dựng: bữa ăn chung, với thực phẩm do các tín hữu khá giả hơn cung cấp, có mục đích đáp ứng các nhu cầu của anh em nghèo túng.

Thánh Phaolô nhấn mạnh đến tầm quan trọng của việc chia sẻ, như một cách diễn tả sự hiệp thông. Thái độ thiếu quan tâm đến người nghèo là nguồn gây chia rẽ, làm mất giá trị cuộc cử hành Bữa Tiệc của Chúa, đưa đến chỗ người ta coi thường Hội Thánh Thiên Chúa, làm nhục người nghèo, đưa đến chỗ phá hỏng cộng đoàn.

Thánh tông đồ đã đưa ra ánh sáng dây liên kết không thể hủy bỏ giữa Thánh Thể và cộng đoàn, giữa cử hành của Thân Thể Chúa, được hiến tặng cho loài người trong cái chết, và cuộc sống của các tín hữu, là chi thể của Thân Thể Đức Kitô, được đặt trên tình liên đới và tình yêu.

Một cuộc cử hành Thánh Thể mà không có một tình huynh đệ chân thành, hoặc tệ hại hơn, ở trong một bối cảnh chia rẽ và đổ vỡ, là một sự phản bội Đức Kitô, phản bội tất cả những gì Người đã muốn diễn tả trong cái chết của Người, được báo trước trong bữa tiệc cuối cùng.

Thánh Âu-tinh cũng đã đồng ý sự đòi buộc này. Ngài nhắc lại lời của thánh tông đồ: «Anh em là thân thể Đức Kitô, và anh em là những chi thể của thân thể ấy» (1 Cr 12,27), ngài lưu ý: «Nếu anh em là Thân Mình của Đức Kitô và là chi thể của Người, thì biểu tượng của chính anh em được đặt trên bàn của Chúa; ở đó anh em đón nhận mầu nhiệm của riêng mình». Và từ đó, ngài rút ra hệ quả này: «Chúa chúng ta đã thánh hiến trên bàn thờ mầu nhiệm sự bình an và hiệp nhất của chúng ta. Ai nhận lãnh mầu nhiệm hiệp nhất mà không lưu lại trong mối dây liên hệ bình an, thì không nhận lãnh mầu nhiệm của mình để được cứu rỗi; họ lãnh nhận lời chứng kết án họ» ”.

Với thời gian, bữa ăn cộng đoàn đã bị hủy bỏ và kiểu vụ hình thức trong Phụng vụ có thể dễ dàng bao che thái độ bất quan tâm của những người tham dự Thánh Thể.

Nếu muốn làm cho cuộc cử hành nên thật và hữu hiệu, thì giữa những người tham dự cần có trao đổi liên tục và riêng tư các suy nghĩ, các lời cầu nguyện, các lời khuyến khích, nhờ đó mọi người có thể thực hiện với nhau một cuộc tiến bước trong đức tin và trong sự hiệp thông.

(Linh mục FX. Vũ Phan Long, ofm, Giám Tỉnh Dòng Phanxicô)

Linh mục Emmanuen Nguyễn Vinh Gioang tường thuật