Boulder, CO (CNA) - Hai nhà văn Dinesh D’Souza và Christopher Hitchens đã đem tài luận chiến về tôn giáo và chủ nghĩa vô thần vào cuộc tranh biện tại trường đại học Colorado ở Boulder trước một cử tọa đông tới 2050 người trong thính đường Macky tọa lạc nơi khuôn viên trường đại học.
Ông D’Souza, một người Công giáo và tác giả cuốn “What’s So Great about Christianity” (Những điều Cao cả biết bao nơi Thiên Chúa giáo) lý luận rằng đạo Thiên Chúa là nền tảng của nhiều giá trị chung, chẳng hạn như yêu cầu tìm hiểu khoa học, và sự tôn trọng cá nhân. Thêm vào đó, ông khẳng định rằng Thiên Chúa giáo đề ra câu trả lời tốt đẹp nhất để tạo ra cây cầu nối liền khoảng cách biệt lớn lao giữa con người và Thiên Chúa.
Hitchens, một người vô thần nổi tiếng và là tác giả cuốn sách “God is not Great” (Chúa không Cao cả”) lý luận rằng ảnh hưởng của tôn giáo phần lớn là điều xấu cho xã hội. Ông nói rằng mặt khác tôn giáo làm cho con người tốt làm những chuyện xấu, ngăn chặn trước tư tưởng con người, và giới hạn trách nhiệm của con người.
Cuộc tranh luận được điều hợp do ông Dan Caplis, người chủ trì những cuộc thính đàm thuộc đài phát thanh Denver, và được bảo trợ do Trung tâm Nghiên cứu Tư tưởng Công giáo Thánh Tôma Aquina, là một chương trình nhằm hướng tới giới trí thức của Giáo xứ Thánh Tôma Aquina tại Boulder, bang Colorado. Cuộc tranh biện tập chú vào đề tài “What’s so Great about God? – Atheism vs. Religion.” (Có điều gì Cao cả đến thế về Thiên Chúa chăng? - Chủ nghĩa Vô thần chống với Tôn giáo.”
Linh mục chánh xứ Giáo xứ Thánh Tôma Aquina là Kevin Augustyn khai mạc cuộc tranh luận, nói rằng: “Là người Công giáo, chúng ta không sợ những cuộc tranh biện có tính cách trí thức. Đức tin và lý trí không đối kháng nhau.”
Mở đầu luận cứ của mình, ông D’Souza nói rằng ông chỉ muốn tranh biện trên “căn bản lý trí” mà thôi. Ông liệt kê ra những điều ông tin tưởng là quan trọng cho tất cả mọi người, kể cả người vô thần: đó là mối quan tâm về tư tưởng của cá nhân, khoa học như một cơ chế tự trị, phẩm giá bình đẳng của phụ nữ, việc hủy bỏ chế độ nô lệ, và lòng từ tâm.
“Thiên Chúa giáo đã đưa vào thế giới này những giá trị đó”. Ông cho rằng chế độ nô lệ đã được bãi bỏ nơi các xã hội theo Thiên Chúa giáo trong khoảng từ thế kỷ 4 cho đến thế kỷ 10.
Ông nói: Khoa học hiện đại đã có “nền tảng đức tin” theo nghĩa bắt nguồn từ những giả định của Thiên Chúa giáo. Chúng ta cho rằng chúng ta sống trong một vũ trụ có luật pháp và duy lý, mà tính cách duy lý ngoại vi được phản ảnh trong chính tâm tưởng chúng ta, những giả định này được Thiên Chúa giáo nuôi dưỡng.
Ông nói: “Không phải tính cờ mà khoa học tân tiến đã phát triển trong nền văn hoá Tây phương.”
Sau đó, D’Souza biện luận rằng vũ trụ đã “được điều chỉnh tốt đẹp cho cuộc sống”. Hãy tưởng tượng rằng khi các bối cảnh vật lý của vũ trụ này có thể bị một cơ chế kiểm soát nào đó làm thay đổi đi, thì một sự đổi thay vô cùng nhỏ bé xảy ra cho một hằng số cũng sẽ đẩy vũ trụ có thể cư ngụ được vào tình huống bất khả.
Ông cũng giả thiết rằng, bất chấp những hạn chế tự nhiên, “ở một mức nào đó, con người được tự do không bị các luật pháp cố định chi phối.” Con người được đặt giữa hai lãnh vực rõ rệt: “đường lối chúng ta đang sống” và “đường lối chúng ta phải thể hiện.”
“Chúng ta làm đúng khi sống như có một Thiên Chúa hiện hữu, bởi vì chung cuộc điều đó làm cho chúng ta thành con người tốt hơn.”
Hitchens mở đầu những lời phê bình của ông bằng cách nửa đùa nửa thật nói rằng ông không cho tình nhân ái là có giá trị và quả có vui thích trước những nỗi bất hạnh của người khác.
Bắt đầu biện bác, ông chế diễu cái ý tưởng phổ biến cho rằng vắng bóng tôn giáo sẽ gây ra những sự xáo trộn về phương diện luân lý. Ông hỏi: Nếu người ta chứng minh được rằng Chúa Giêsu, bà Maria hay một nhân vật tôn giáo nào khác đều là những nhân vật “hoàn toàn chỉ có trong thần thoại”, thì quý vị có thực sự nhìn người lân cận bằng con mắt khác đi hay không? Hoặc thế là quý vị có trở thành một tên ăn trộm hay một kẻ chuyên đi hãm hiếp?”
Hitchens lý luận rằng: nếu chủ nghĩa vô thần là đúng, “chúng ta cũng đang ở đúng vị trí chúng ta đứng hiện nay” xét về phương diện những nghĩa vụ của chúng ta đối với người khác và lý do tại sao chúng ta đang ở vị trí tại nơi này.
Sau đó ông cho rằng: vì khư khư chủ trương đã xảy ra sự mặc khải từ Thiên Chúa, nên tôn giáo ngăn chặn những vấn nạn đó, cho là chỉ cần sống theo đúng những giới răn do tôn giáo đặt ra. Điều này làm cho trách nhiệm cá nhân trở thành vô nghĩa, và tấn công vào nhân loại nơi “chính tính chất trung thực sâu xa nhất” của chúng ta khi nói rằng chúng ta không có ý thức gì hết về điều thiện và điều ác.
Hitchins cho rằng đấy cũng là “nguồn gốc của chủ nghĩa độc tài toàn trị”.
Ông kết án vị Chúa mà người Kitô giáo tin theo, vị Chúa làm cho chúng ta đau yếu và truyền dậy chúng ta phải mạnh khỏe, cho rằng quan niệm về Chúa như thế là “rất kém cỏi, rất tội lỗi, hoặc rất độc ác.” Ông đặt câu hỏi là tại sao Chúa cứu chuộc nỗi khổ đau của con người chỉ bằng cách cất đi các tội lỗi, chứ không phải bằng cách đi vào nhà tù hoặc trở thành đau ốm thay cho họ.
D’Souza trả lời bằng cách lập luận rằng nếu không có Thiên Chúa giáo “chúng ta sẽ có một nền văn minh rất khác”, một bằng chứng là chỉ có những quốc gia phương Tây chịu ảnh hưởng bởi Thiên Chúa giáo là có vẻ vội vã chạy đến cứu trợ các nạn nhân thiên tai trên khắp thế giới. Ông trưng dẫn một câu tục ngữ Ấn độ được biết hồi còn trẻ nói rằng “nước mắt người lạ chỉ là nước lã.”
Sau đó Hitchens đặt những câu vấn nạn tại sao Thiên Chúa giáo phải được coi là cao quý hơn các tôn giáo khác, như Hồi giáo chẳng hạn.
D’Souza đáp lại bằng cách nêu lên sự đứt quãng giữa “cách thức sự việc đang hiện hữu” và “cách thức sự việc chúng phải là.” Điều này có thể được giải thích bằng cách giả thiết là có một khoảng ngăn cách giữa “cấp độ nhân loại” của cuộc sống và “cấp độ thần linh.” Theo quan điểm của D’Souza, Hồi giáo và Do thái giáo chủ trương rằng khoảng ngăn cách lớn lao này có thể được nhân loại làm cho gần lại bằng cách xây dựng một “cái thang” để trèo lên được tới Thiên Chúa.
Tuy nhiên, Thiên Chúa giáo nói rằng dự án đó là “tuyệt vời nhưng không thể thực hiện được” qua lời giảng huấn rằng khoảng ngăn cách này “phải được lấp kín từ phía bên kia” qua việc Thiên Chúa nhập thể vào thế giới trong con người của Đức Giêsu Kitô.
Hitchens trả lời bằng cách cố tâm so sánh sự ngang bằng giữa hai sự việc: Mohamet cho rằng ông ta là một tiên tri, còn người theo Thiên Chúa giáo thì cho rằng Đức Kitô là người Thiên Chúa sai đến. Sự so sánh này bị D’Souza phản bác lại, nói rằng Hitchens đã bỏ qua không xét đến vị trí của thiên tính Đức Kitô trong thần học Thiên Chúa giáo.
Các vấn đề khác được nêu ra trong cuộc tranh biện gồm có: sự hiện hữu của các luật tự nhiên, tính cách lịch sử của các sách Tin Mừng, tính khả tín của những chứng nhân Kitô giáo buổi sơ khai, và tính chất của giảng huấn Công giáo về nhu cầu phải có sự cứu độ của Đức Kitô và Giáo hội.
D’Souza cũng mô tả lần gặp gỡ đầu tiên với Hitchens sau khi ông này viết một bài bình luận đăng trên tạp chí thiên tả “The Nation” ủng hộ sự bảo vệ về luật pháp đối với trẻ chưa sinh.
Hitchens sau đó giải thích rằng ông thấy việc loại bỏ “trẻ trong dạ người mẹ” ra khỏi gia đình nhân loại là một điều cực kỳ đáng nên phản đối.
Sau cuộc tranh luận, thông tấn xã CNA có nói truyện với Cha Augustyn. Ngài cho biết đây là một cuộc “tranh luận xuất sắc” với cả hai diễn giả đã làm “rất tốt” vai trò của họ. Theo nhận xét của ngài thì D’Souza đã phản bác và “lột mặt nạ” một số những điều so sánh về các tôn giáo có tính cách “bất công” và “lựa lọc” của Hitchens.
“Đồng thời, Christopher Hitchens cũng là một đối thủ cừ khôi. Ông ta rất hóm hỉnh, rất sắc bén, đã đưa ra những luận điểm tốt và đem thính giả tham gia vào cuộc tranh biện. Tôi không nghĩ rằng các lời biện bác của ông ta là vững chãi, nhưng tôi thiết nghĩ ông ta là một người tranh luận giỏi.”
Trung tâm Thánh Tôma Aquina dự trù sẽ tổ chức các phiên họp theo dõi để thảo luận về cuộc tranh biện nói trên tại các lớp trong trường đại học vào những buổi tối ngày thứ Ba, Tư và Năm. Cha Augustyn cho biết đó là những buổi biện giải cho tôn giáo hoặc là những phiên họp có hỏi-đáp.”
Ngài cho biết rằng cuộc tranh luận nói trên đã được trực tiếp truyền đi tới một cơ sở khác có chứa khoảng 300 khán giả, đem tổng số người tham dự lên tới hơn 2300 người.
Cha Augustyn nói: “Đây là biến cố lớn lao nhất mà chúng tôi đã chủ trì trong lịch sử của trường”, đồng thời cha kêu gọi có thêm nhiều người tham gia trợ giúp sứ vụ phúc âm hóa trong môi trường đại học.
![]() |
| Christopher Hitchens và Dinesh D'Souza |
Ông D’Souza, một người Công giáo và tác giả cuốn “What’s So Great about Christianity” (Những điều Cao cả biết bao nơi Thiên Chúa giáo) lý luận rằng đạo Thiên Chúa là nền tảng của nhiều giá trị chung, chẳng hạn như yêu cầu tìm hiểu khoa học, và sự tôn trọng cá nhân. Thêm vào đó, ông khẳng định rằng Thiên Chúa giáo đề ra câu trả lời tốt đẹp nhất để tạo ra cây cầu nối liền khoảng cách biệt lớn lao giữa con người và Thiên Chúa.
Hitchens, một người vô thần nổi tiếng và là tác giả cuốn sách “God is not Great” (Chúa không Cao cả”) lý luận rằng ảnh hưởng của tôn giáo phần lớn là điều xấu cho xã hội. Ông nói rằng mặt khác tôn giáo làm cho con người tốt làm những chuyện xấu, ngăn chặn trước tư tưởng con người, và giới hạn trách nhiệm của con người.
Cuộc tranh luận được điều hợp do ông Dan Caplis, người chủ trì những cuộc thính đàm thuộc đài phát thanh Denver, và được bảo trợ do Trung tâm Nghiên cứu Tư tưởng Công giáo Thánh Tôma Aquina, là một chương trình nhằm hướng tới giới trí thức của Giáo xứ Thánh Tôma Aquina tại Boulder, bang Colorado. Cuộc tranh biện tập chú vào đề tài “What’s so Great about God? – Atheism vs. Religion.” (Có điều gì Cao cả đến thế về Thiên Chúa chăng? - Chủ nghĩa Vô thần chống với Tôn giáo.”
Linh mục chánh xứ Giáo xứ Thánh Tôma Aquina là Kevin Augustyn khai mạc cuộc tranh luận, nói rằng: “Là người Công giáo, chúng ta không sợ những cuộc tranh biện có tính cách trí thức. Đức tin và lý trí không đối kháng nhau.”
Mở đầu luận cứ của mình, ông D’Souza nói rằng ông chỉ muốn tranh biện trên “căn bản lý trí” mà thôi. Ông liệt kê ra những điều ông tin tưởng là quan trọng cho tất cả mọi người, kể cả người vô thần: đó là mối quan tâm về tư tưởng của cá nhân, khoa học như một cơ chế tự trị, phẩm giá bình đẳng của phụ nữ, việc hủy bỏ chế độ nô lệ, và lòng từ tâm.
“Thiên Chúa giáo đã đưa vào thế giới này những giá trị đó”. Ông cho rằng chế độ nô lệ đã được bãi bỏ nơi các xã hội theo Thiên Chúa giáo trong khoảng từ thế kỷ 4 cho đến thế kỷ 10.
Ông nói: Khoa học hiện đại đã có “nền tảng đức tin” theo nghĩa bắt nguồn từ những giả định của Thiên Chúa giáo. Chúng ta cho rằng chúng ta sống trong một vũ trụ có luật pháp và duy lý, mà tính cách duy lý ngoại vi được phản ảnh trong chính tâm tưởng chúng ta, những giả định này được Thiên Chúa giáo nuôi dưỡng.
Ông nói: “Không phải tính cờ mà khoa học tân tiến đã phát triển trong nền văn hoá Tây phương.”
Sau đó, D’Souza biện luận rằng vũ trụ đã “được điều chỉnh tốt đẹp cho cuộc sống”. Hãy tưởng tượng rằng khi các bối cảnh vật lý của vũ trụ này có thể bị một cơ chế kiểm soát nào đó làm thay đổi đi, thì một sự đổi thay vô cùng nhỏ bé xảy ra cho một hằng số cũng sẽ đẩy vũ trụ có thể cư ngụ được vào tình huống bất khả.
Ông cũng giả thiết rằng, bất chấp những hạn chế tự nhiên, “ở một mức nào đó, con người được tự do không bị các luật pháp cố định chi phối.” Con người được đặt giữa hai lãnh vực rõ rệt: “đường lối chúng ta đang sống” và “đường lối chúng ta phải thể hiện.”
“Chúng ta làm đúng khi sống như có một Thiên Chúa hiện hữu, bởi vì chung cuộc điều đó làm cho chúng ta thành con người tốt hơn.”
Hitchens mở đầu những lời phê bình của ông bằng cách nửa đùa nửa thật nói rằng ông không cho tình nhân ái là có giá trị và quả có vui thích trước những nỗi bất hạnh của người khác.
Bắt đầu biện bác, ông chế diễu cái ý tưởng phổ biến cho rằng vắng bóng tôn giáo sẽ gây ra những sự xáo trộn về phương diện luân lý. Ông hỏi: Nếu người ta chứng minh được rằng Chúa Giêsu, bà Maria hay một nhân vật tôn giáo nào khác đều là những nhân vật “hoàn toàn chỉ có trong thần thoại”, thì quý vị có thực sự nhìn người lân cận bằng con mắt khác đi hay không? Hoặc thế là quý vị có trở thành một tên ăn trộm hay một kẻ chuyên đi hãm hiếp?”
Hitchens lý luận rằng: nếu chủ nghĩa vô thần là đúng, “chúng ta cũng đang ở đúng vị trí chúng ta đứng hiện nay” xét về phương diện những nghĩa vụ của chúng ta đối với người khác và lý do tại sao chúng ta đang ở vị trí tại nơi này.
Sau đó ông cho rằng: vì khư khư chủ trương đã xảy ra sự mặc khải từ Thiên Chúa, nên tôn giáo ngăn chặn những vấn nạn đó, cho là chỉ cần sống theo đúng những giới răn do tôn giáo đặt ra. Điều này làm cho trách nhiệm cá nhân trở thành vô nghĩa, và tấn công vào nhân loại nơi “chính tính chất trung thực sâu xa nhất” của chúng ta khi nói rằng chúng ta không có ý thức gì hết về điều thiện và điều ác.
Hitchins cho rằng đấy cũng là “nguồn gốc của chủ nghĩa độc tài toàn trị”.
Ông kết án vị Chúa mà người Kitô giáo tin theo, vị Chúa làm cho chúng ta đau yếu và truyền dậy chúng ta phải mạnh khỏe, cho rằng quan niệm về Chúa như thế là “rất kém cỏi, rất tội lỗi, hoặc rất độc ác.” Ông đặt câu hỏi là tại sao Chúa cứu chuộc nỗi khổ đau của con người chỉ bằng cách cất đi các tội lỗi, chứ không phải bằng cách đi vào nhà tù hoặc trở thành đau ốm thay cho họ.
D’Souza trả lời bằng cách lập luận rằng nếu không có Thiên Chúa giáo “chúng ta sẽ có một nền văn minh rất khác”, một bằng chứng là chỉ có những quốc gia phương Tây chịu ảnh hưởng bởi Thiên Chúa giáo là có vẻ vội vã chạy đến cứu trợ các nạn nhân thiên tai trên khắp thế giới. Ông trưng dẫn một câu tục ngữ Ấn độ được biết hồi còn trẻ nói rằng “nước mắt người lạ chỉ là nước lã.”
Sau đó Hitchens đặt những câu vấn nạn tại sao Thiên Chúa giáo phải được coi là cao quý hơn các tôn giáo khác, như Hồi giáo chẳng hạn.
D’Souza đáp lại bằng cách nêu lên sự đứt quãng giữa “cách thức sự việc đang hiện hữu” và “cách thức sự việc chúng phải là.” Điều này có thể được giải thích bằng cách giả thiết là có một khoảng ngăn cách giữa “cấp độ nhân loại” của cuộc sống và “cấp độ thần linh.” Theo quan điểm của D’Souza, Hồi giáo và Do thái giáo chủ trương rằng khoảng ngăn cách lớn lao này có thể được nhân loại làm cho gần lại bằng cách xây dựng một “cái thang” để trèo lên được tới Thiên Chúa.
Tuy nhiên, Thiên Chúa giáo nói rằng dự án đó là “tuyệt vời nhưng không thể thực hiện được” qua lời giảng huấn rằng khoảng ngăn cách này “phải được lấp kín từ phía bên kia” qua việc Thiên Chúa nhập thể vào thế giới trong con người của Đức Giêsu Kitô.
Hitchens trả lời bằng cách cố tâm so sánh sự ngang bằng giữa hai sự việc: Mohamet cho rằng ông ta là một tiên tri, còn người theo Thiên Chúa giáo thì cho rằng Đức Kitô là người Thiên Chúa sai đến. Sự so sánh này bị D’Souza phản bác lại, nói rằng Hitchens đã bỏ qua không xét đến vị trí của thiên tính Đức Kitô trong thần học Thiên Chúa giáo.
Các vấn đề khác được nêu ra trong cuộc tranh biện gồm có: sự hiện hữu của các luật tự nhiên, tính cách lịch sử của các sách Tin Mừng, tính khả tín của những chứng nhân Kitô giáo buổi sơ khai, và tính chất của giảng huấn Công giáo về nhu cầu phải có sự cứu độ của Đức Kitô và Giáo hội.
D’Souza cũng mô tả lần gặp gỡ đầu tiên với Hitchens sau khi ông này viết một bài bình luận đăng trên tạp chí thiên tả “The Nation” ủng hộ sự bảo vệ về luật pháp đối với trẻ chưa sinh.
Hitchens sau đó giải thích rằng ông thấy việc loại bỏ “trẻ trong dạ người mẹ” ra khỏi gia đình nhân loại là một điều cực kỳ đáng nên phản đối.
Sau cuộc tranh luận, thông tấn xã CNA có nói truyện với Cha Augustyn. Ngài cho biết đây là một cuộc “tranh luận xuất sắc” với cả hai diễn giả đã làm “rất tốt” vai trò của họ. Theo nhận xét của ngài thì D’Souza đã phản bác và “lột mặt nạ” một số những điều so sánh về các tôn giáo có tính cách “bất công” và “lựa lọc” của Hitchens.
“Đồng thời, Christopher Hitchens cũng là một đối thủ cừ khôi. Ông ta rất hóm hỉnh, rất sắc bén, đã đưa ra những luận điểm tốt và đem thính giả tham gia vào cuộc tranh biện. Tôi không nghĩ rằng các lời biện bác của ông ta là vững chãi, nhưng tôi thiết nghĩ ông ta là một người tranh luận giỏi.”
Trung tâm Thánh Tôma Aquina dự trù sẽ tổ chức các phiên họp theo dõi để thảo luận về cuộc tranh biện nói trên tại các lớp trong trường đại học vào những buổi tối ngày thứ Ba, Tư và Năm. Cha Augustyn cho biết đó là những buổi biện giải cho tôn giáo hoặc là những phiên họp có hỏi-đáp.”
Ngài cho biết rằng cuộc tranh luận nói trên đã được trực tiếp truyền đi tới một cơ sở khác có chứa khoảng 300 khán giả, đem tổng số người tham dự lên tới hơn 2300 người.
Cha Augustyn nói: “Đây là biến cố lớn lao nhất mà chúng tôi đã chủ trì trong lịch sử của trường”, đồng thời cha kêu gọi có thêm nhiều người tham gia trợ giúp sứ vụ phúc âm hóa trong môi trường đại học.
