Các Góp Ý tại Cuộc Họp Mặt Thế Giới Các Gia Đình
Cuộc Họp Mặt Thế Giới Các Gia Đình tại Mexico City vẫn tiếp diễn với thật nhiều các đóng góp giá trị về nhiều mặt đối với chủ đề “Gia Đình, Nhà Giáo Dục Các Giá Trị Nhân Bản và Kitô Giáo”
Gia đình cầu nguyện cho gia đình
Khi một gia đình Công Giáo tụ họp nhau, thường là họ sẽ dành chút thì giờ để cầu nguyện. Gia đình Giáo Hội phổ quát cũng thế. Hàng ngàn gia đình đang tụ họp nhau tại Mexico City để tham dự Cuộc Họp Mặt Thế Giới Các Gia Đình lần thứ sáu, mà cao điểm sẽ là thánh Lễ vào Chúa Nhật tới.
Hơn 10,000 đã chen chúc nhau tại Expo Bancomer để tham dự hội nghị thần học và mục vụ từ hôm Thứ Tư. Họ cùng nhau theo dõi đẩy đủ các buổi thuyết trình, thảo luận bàn tròn, trình diễn âm nhạc, cũng như gặp gỡ và chào hỏi hàng trăm linh mục, giám mục và hồng y. Nhưng giữa các sinh hoạt ấy, hàng ngàn tham dự viên đã tới đây để cầu nguyện cho các gia đình và để lãnh ơn toàn xá mà Đức GH Bênêđíctô XVI đã ban cho những ai tham dự Cuộc Họp Mặt này bằng thể lý hay tinh thần.
Gloria Barroso, giám đốc phụng vụ của Cuộc Họp Mặt, cho hay: các tham dự viên có thể tham dự một trong năm thánh lễ hàng ngày được cử hành ngay tại phòng hội nghị ở lầu trên Trung Tâm. Nhiều vị HY và GM tham dự hội nghị đã chủ tọa các thánh lễ này. Theo lời bà, số người tham dự thánh lễ khá đông; suốt ngày có xưng tội. Lúc nào cũng có khoảng 10 đến 12 linh mục ngồi tòa giải tội. Việc viếng Mình Thánh lôi cuốn được khá nhiều người, giờ chầu Thánh Thể cũng được tổ chức tại đây vào đêm Thứ Năm.
Cha Joseph Fazio, thuộc Dòng Đạo Binh Chúa Kitô, gốc New York, là một trong nhiều linh mục ngồi toà trong suốt các ngày Đại Hội. Cha tâm sự: chính tại tòa cáo giải, Cha đã chứng kiến được các hoa trái đầu mùa của Cuộc Họp Mặt: nhiều người đã tỉnh thức, tích cực cố gắng giúp đỡ gia đình họ, quay về với đức tin, muốn chỉnh đốn các mối liên hệ trong gia đình. Họ nhận ra: sở dĩ các mối liên hệ kia trở thành lỏng lẻo vì họ đã không đặt Chúa lên trên hết, đã không biết kêu cứu tới Người, không còn tham dự thánh lễ, không học giáo lý hay không cho con cái đi học giáo lý nữa. Bây giờ nhờ đã nhìn ra vấn đề, họ muốn quay trở lại.
Góp ý của Phi Châu
Vai trò của gia đình trong việc giáo dục con cái không những được Giáo Hội ủng hộ, mà cả các nền văn hóa cổ truyền nữa cũng ủng hộ vai trò ấy. Đó là nhận định của một giáo sư kinh tế của Uganda. Nữ giáo sư Germina Ssemogerere, trong tham luận tựa đề là “Ơn Gọi Giáo Dục của Gia Đình: Một cái nhìn từ Phi Châu, đặc biệt là Uganda”, tỏ ra quan tâm đối với hậu quả của môi trường kinh tế xã hội ngày nay đối với gia đình: trong khi có nhiều gia đình kiên tâm bền vững trong vai trò của mình, thì vẫn có những gia đình đang mất niềm tin vào việc thi hành vai trò của mình, hay đang bị làm cho tê liệt, không biết phải làm gì.
Dựa vào tài liệu “Giáo Hội tại Phi Châu”, Bà cho mọi người thấy tính tương hợp giữa giáo huấn Công Giáo và các nền văn hóa khác nhau, trong đó có nền văn hóa Phi Châu. Bà giải thích: Khuôn khổ hiến pháp và hiến định của một quốc gia là tham chiếu tốt và thực tiễn để thích ứng vai trò giáo dục của gia đình và để đưa ra cũng như cải tiến các chiến thuật cho vai trò giáo dục ấy. Theo Bà, hiến phápUganda với một hiến pháp đủ tiêu chuẩn dân chủ đã đem lại được cái khuôn khổ hợp lý kia. Bà thúc giục hàng ngũ giáo dân phải tỉnh táo và biết tham gia với các thẩm quyền quốc gia trong các cam kết xây dựng, làm hết sức để tạo ra các khuôn khổ thuận lợi cho gia đình, chống lại bất cứ ảnh hưởng tai hại nào đối với nó.
Bà nhấn mạnh nhu cầu phải hỗ trợ gia đình cổ truyền, vốn được xây trên nền luân lý, bằng cách khích lệ các gia đình đạo hạnh, vun đắp lòng tự tin nơi các gia đình đang hoài nghi bối rối, và loại bỏ hay vượt qua các trở ngại có tính định chế đối với cuộc sống gia đình, một việc được cả Giáo Hội lẫn nền văn hóa cổ vũ.
Ssemogerere đưa ra một số đề nghị thực tiễn: như cổ vũ người Công Giáo tích cực tham dự các vấn đề được mọi người quan tâm, huấn luyện giáo sĩ và giáo dân qua các hiệp hội chuyên nghiệp thân thiện với Công Giáo, hợp tác với các tổ chức có mục tiêu gây ảnh hưởng tới các chính sách công, và động viên cách có hệ thống hơn các định chế và chương trình Công Giáo.
Góp ý của Nhà Hiệp Sĩ
Liên đới không phải chỉ là một nhân đức khác, mà là yếu tố căn bản của gia đình, là chìa khóa để ta khám phá ra sự thật trong các mối liên hệ gia đình và là cái nền để xây dựng văn minh tìnhh yêu. Đó là nhận định của Hiệp Sĩ Tối Cao, Carl Anderson, tại Cuộc Họp Mặt Thế Giới Các Gia Đình tại Mexico City. Tựa đề bài tham luận của ông là “Gia Đình và Liên Đới”.
Theo Anderson, ý niệm liên đới được phát biểu lần đầu bởi nhà xã hội chủ nghĩa Pierre Leroux, coi nó như ý niệm thay thế cho ý niệm yêu thương của Kitô giáo. Theo Leroux, liên đới là giải đáp mới, thuận lý và hữu hiệu cho các vấn đề xã hội. Tuy nhiên, ý niệm liên đới này đã được Đức Gioan Phaolô II tinh lọc, đến độ Ngài không do dự gọi nó là “một nhân đức Kitô giáo”, có gốc rễ ngay trong đức tin Kitô giáo và được miêu tả trong chính tình yêu theo Kitô giáo.
Ông nhớ Đức Gioan Phaolô II viết về liên đới trong thông điệp "Sollicitudo Rei Socialis" của Ngài rằng: Bên trên các mối liên kết nhân bản và tự nhiên, vốn rất gần gũi và mạnh mẽ, dưới ánh sáng đức tin, người ta còn nhận biết một mẫu mực mới cho tính hợp nhất của nhân loại. Mẫu mực này sau cùng nhất định sẽ gợi hứng cho tình liên đới của chúng ta. Cái mẫu mực hợp nhất tối hậu, vốn phản chiếu sự sống thân mật nhất của Thiên Chúa này, một Thiên Chúa trong Ba Ngôi Vị, chính là điều Kitô hữu gọi là sự ‘hiệp thông’. Nói cách khác, được tạo nên giống hình ảnh Thiên Chúa không phải đơn thuần chỉ là được nhào nặn nên như thế, mà là để hành động như là hình ảnh Thiên Chúa, nghĩa là được sống hiệp thông với người khác trên bình diện hữu thể. Anderson coi đó là nền tảng của văn minh tình yêu.
Liên lập
Theo Anderson, Đức Giáo Hoàng Bênêđíctô XVI giúp ta hiểu thêm về liên đới, bằng cách đặt nó vào ngữ cảnh liên lập ( interdependence). Viết trên tờ "Communio" vào năm 1996, ĐHY Joseph Ratzinger lúc đó cho rằng: Từ chính bản chất của Người, Thiên Chúa thật hoàn toàn là hiện-hữu-cho (Chúa Cha), hiện-hữu- từ (Chúa Con) và hiện-hữu-với (Chúa Thánh Thần). Về phần mình, con người là hình ảnh Thiên Chúa bao lâu anh ta biết dùng cái ‘từ’ cái ‘với’ và cái ‘cho’ kia tạo ra khuôn mẫu nhân học có tính nền tảng.
Anderson nhấn mạnh: không thể hiểu tình yêu nhân bản và sự liên lập theo chiều ngang. Vì hiểu như thế, thường chỉ rút gọn nó vào việc tùy thuộc lẫn nhau, ngay cả việc lợi dụng lẫn nhau nữa. Đúng hơn, tình yêu nhân bản và sự liên lập phải được soi sáng bởi sự liên lập chung theo chiều dọc, tức sự tùy thuộc giữa những con người, được thấy rõ trước hết trong mối liên hệ với những chủ thể ban sự sống cho ta. Quan điểm này giúp ta hiểu rõ và bênh vực được tình liên đới, cả trong lẫn ngoài gia đình.
Hiện-Hữu-Cho (Being-for)
Anderson cho rằng ĐHY Ratzinger miêu tả sự hiện diện của đứa con trong lòng mẹ là bức tranh hết sức sống động của chính yếu tính sự hiện hữu nhân bản nói chung. ĐHY giải thích rằng: Trong lòng mẹ, sự sống của đứa trẻ tùy thuộc vào sự hiện hữu với mẹ. Nhưng cũng như A-Dong, chỉ hiện hữu mà thôi không đủ, vì trong lúc mang thai, sự hiện hữu của đứa trẻ với người mẹ đòi buộc phải có lòng tốt của mẹ nữa. Sự hiện-hữu-với này buộc phải có sự hiện hữu của người khác… mới có thể trở nên một hiện-hữu-cho. Hiện-hữu-cho, hiện-hữu-với và hiện-hữu-từ này về phương diện di truyền (genetically) được diễn tả thành “sao mà đưá trẻ giống cha, giống mẹ đến thế”, và về phương diện bản thân, được diễn tả qua việc cha mẹ đi tìm những nét tương tự thể lý giữa họ và con cái họ.
Anderson cho rằng trong trường hợp một đứa trẻ được sinh ra bằng tinh trùng của người hiến tặng ẩn danh, mối liên hệ kia được thấy rõ qua cố gắng của đứa trẻ đi tìm người cha ẩn danh của mình.
Điều đáng buồn là ly dị, bỏ rơi, và một vài cách sử dụng kỹ thuật mang thai đã tách việc làm cha mẹ ra khỏi sự hiện hữu nói trên, nghĩa là trong xã hội ngày nay, đối với nhiều trẻ em, hiện-hữu-từ (being-from) một cha mẹ không còn có nghĩa là hiện-hữu-với (being-with) đứa trẻ đó nữa. Cũng thế, việc làm cha mẹ đã bị tách biệt khỏi hôn nhân, khi việc hiện-hữu-với người phối ngẫu bị tách biệt khỏi việc chào đón một đứa trẻ vốn hiện-hữu-từ cặp vợ chồng này.
Ngoài ra, dựa vào Đức Gioan Phaolô II, Anderson kết luận rằng: vai trò của liên đới trong và qua gia đình không phải chỉ là một nhân đức xã hội khác, giống như chân lý, tự do, công bình, phụ trợ lẫn nhau và… bác ái. Nếu phải xây dựng tương lai của liên đới trên việc hiệp thông các bản vị, thì quán quân của sự hiệp thông này trước hết và đầu hết phải là gia đình, vốn không những chỉ là thầy dạy các nhân đức xã hội, mà còn là một mô phỏng trước nhất của sự hiệp thông giữa Ba Ngôi Thiên Chúa. Chính ở đó, ta thấy không những gia đình hiện hữu trong liên đới mà còn là mẫu mực và hạt nhân của liên đới nữa. Không có liên đới trong gia đình, sẽ không thể có liên đói bên ngoài gia đình.
Góp ý của kinh tế gia: Ăn với nhau cố kết với nhau
Không có gì phức tạp hơn việc ngồi ăn cùng bàn với nhau. Nhưg theo một kinh tế gia thuộc Trường Đại Học Công Giáo America, gia đình cùng ăn cơm chung với nhau là điều chủ yếu đối với việc phát triển của con cái. Và theo Bà, gia đình vững mạnh rất tốt cho con cái mà còn rất tốt cho nền kinh tế nữa.
Nhận định trên là của Maria Sophia Aguire, giáo sư phân khoa kinh tế của Đại Học Công Giáo America, tại Washington DC, đọc tại Cuộc Họp Mặt Thế Giới Các Gia Đình tại Mexico City.
Bài trình bày của Bà tập chú vào các lợi ích nhiều mặt của các gia đình ổn định, đặt căn bản trên hôn nhân, đối với mọi bên liên hệ. Bà trích dẫn các con số thống kê, cho thấy hôn nhân làm tăng khả thể người cha có liên hệ tốt với các con; ly dị làm giảm khả thể con cái tốt nghiện đại học và cả trung học nữa; còn các bà mẹ có gia đình thì ít trầm cảm hơn các bà mẹ đơn lẻ hay sống chung cho có lệ.
Ngay sức khỏe thể lý cũng tốt hơn đối với các gia đình đặt căn bản trên hôn nhân: tử suất của trẻ sơ sinh rất thấp trong các gia đình này, ngay xác suất bị thương cũng thấp hơn.
Trái lại, gia đình tan vỡ là triệu chứng của một xã hội đang lâm bệnh, yếu ớt. Các vấn đề đủ loại gia tăng hẳn trong các gia đình bất thường: phụ nữ dễ bị bạo hành, trẻ em dễ rơi vào nghiện ngập, phụ nữ và trẻ em trong các gia đình tan vỡ có xác suất cao về nghèo đói.
Không phải chỉ là bữa ăn
Dù không phải là một giải pháp cho mọi vấn đề, Kinh Tế Gia này cho rằng nguyên một hành vi ngồi ăn chung với nhau mà thôi cũng gây hiệu quả tốt đối với việc phát triển của trẻ. Theo một cuộc nghiên cứu của Trung Tâm Quốc Gia Về Các Chất và Nghiện Ngập tại Đại Học Colombia, khi so sánh các thiếu niên mỗi tuần ăn cơm chung với gia đình từ 0 đến 2 lần với các em khác ăn cơm chung với gia đình mỗi tuần từ 5 tới 7 lần, người ta thấy 40% các em ăn cơm chung với gia đình nhiều lần hơn có xác suất nói truyện với cha mẹ về một vấn đề nào đó nhiều hơn. Trong khi đó, 171% các thiếu niên không ăn cơm với gia đình bị căng thẳng nhiều hơn ngay tại nhà. Với các em năng ăn cơm chung với gia đình, thành quả học hành gia tăng tới 38%, xác suất hút thuốc giảm đi 142%, xác suất uống rượu giảm đi 93%, xác suất hút cần xa giảm 191%... Gia đình có cả hai cha mẹ thường có cơ hội ăn cơm chung với nhau cao hơn 3.5 lần các gia đình đơn lẻ.
Góp ý của thần học gia
Các cha mẹ cần hy vọng rằng họ có thể chuyển giao các giá trị Kitô Giáo cho con cái và cần hành động để đòi quyền giáo dục gia đình mình. Đó là nhận định của Michael Waldstein, giáo sư thần học qua bài tham luận “Gia Đình: Đào Tạo Các Giá Trị Nhân Bản và Kitô Giáo, Cái Nhìn của Hoa Kỳ và Canada” đọc trước Hội Nghị Thần Học và Mục Vụ tại Mexico City vào ngày 16 tháng 1 năm 2009.
Nhắc tới các lý tưởng được Đức Thánh Cha Bênêđíctô XVI trình bày tại Cuộc Họp Mặt lần trước tại Valencia, Tây Ban Nha, Waldstein tự hỏi liệu các lý tưởng ấy có được đem ra thực hành hay không?
Theo ông, một số gia đình có đem ra thực hành. Nhưng khá nhiều gia đình đã rơi về phía sau, vì đã phó mặc trách nhiệm giáo dục của mình cho nhà trường và vẫn còn tiếp tục làm như thế.
Đáng tiếc thay, chính trường học cũng đang thay đổi, càng ngày chúng càng bị thế tục hóa. Con cái dành nhiều giờ cho trường học đến nỗi khó mà tạo được sinh hoạt chung với cha mẹ và không biết phải làm gì với nhau trong dịp nghỉ hè.
Văn hóa tuổi trẻ
Waldstein nhấn mạnh một lực lượng khác đã lấy giáo dục ra khỏi tay gia đình. Đó là nền văn hóa hoàn cầu của tuổi trẻ. Trong nền văn hóa này, hai lực lượng có tính rèn luyện hơn cả chính là “cuộc cách mạng tình dục” và thứ âm nhạc được dàn dựng cho thính giả thiếu niên. Theo vị giáo sư này, hậu quả của lực lượng thứ nhất là: các đam mê tình dục đầy dầy vò nơi thiếu niên bỗng nhiên được giải thoát trong các liên hệ quá sớm đầy tính phá hoại. Thay vì được dẫn khởi vào nền văn hóa tình yêu, trẻ em bị bỏ rơi vào nền văn hóa chỉ biết sử dụng lẫn nhau để gây khoái cảm.
Về lực lượng thứ hai, nền âm nhạc, không hề nhắc đến việc đào tạo bản thân về đam mê tính dực trong tình yêu đích thực, đã chỉ nhằm khai thác những đam mê cực mạnh và hết sức ấu trĩ của tuổi trẻ, nhất là đam mê tính dục và phẫn nộ.
Diễn giả cho hay: một số cha mẹ ngã lòng về hiện tượng phân cách thế hệ mỗi ngày một được mở rộng thêm này, hố phân cách hiện đang lấy đi con cái khỏi bàn tay chăm sóc của họ. Nhưng diễn giả trấn án họ: lịch sử từng chứng minh rằng hố phân cách thế hệ không phải là một khai triển tự nhiên. Cha mẹ chúng ta cần phải thức giấc và ra tay hành động, phải nhớ rằng trách nhiệm bất khả nhượng của chúng ta và do đó cũng là quyền lợi bất khả nhượng của chúng ta là giáo dục con cái mình. Ông khuyến khích các cha mẹ phải bảo vệ quyền lợi bất khả nhượng này, phải dành thì giờ để chuyển giao các giá trị cho con cái, và “nhúng tay vào việc giáo dục con cái mình”. Ông mang trường hợp của chính gia đình ông để chứng minh rằng nền văn hóa hoàn cầu của tuổi trẻ không phải là lực lượng ta không chống lại được và ta có khả năng chuyển giao cho các con nền văn hóa Kitô giáo của riêng mình. Hố phân cách thế hệ không phải là điều không thể tránh được.
Cuộc Họp Mặt Thế Giới Các Gia Đình tại Mexico City vẫn tiếp diễn với thật nhiều các đóng góp giá trị về nhiều mặt đối với chủ đề “Gia Đình, Nhà Giáo Dục Các Giá Trị Nhân Bản và Kitô Giáo”
Gia đình cầu nguyện cho gia đình
Khi một gia đình Công Giáo tụ họp nhau, thường là họ sẽ dành chút thì giờ để cầu nguyện. Gia đình Giáo Hội phổ quát cũng thế. Hàng ngàn gia đình đang tụ họp nhau tại Mexico City để tham dự Cuộc Họp Mặt Thế Giới Các Gia Đình lần thứ sáu, mà cao điểm sẽ là thánh Lễ vào Chúa Nhật tới.
Hơn 10,000 đã chen chúc nhau tại Expo Bancomer để tham dự hội nghị thần học và mục vụ từ hôm Thứ Tư. Họ cùng nhau theo dõi đẩy đủ các buổi thuyết trình, thảo luận bàn tròn, trình diễn âm nhạc, cũng như gặp gỡ và chào hỏi hàng trăm linh mục, giám mục và hồng y. Nhưng giữa các sinh hoạt ấy, hàng ngàn tham dự viên đã tới đây để cầu nguyện cho các gia đình và để lãnh ơn toàn xá mà Đức GH Bênêđíctô XVI đã ban cho những ai tham dự Cuộc Họp Mặt này bằng thể lý hay tinh thần.
Gloria Barroso, giám đốc phụng vụ của Cuộc Họp Mặt, cho hay: các tham dự viên có thể tham dự một trong năm thánh lễ hàng ngày được cử hành ngay tại phòng hội nghị ở lầu trên Trung Tâm. Nhiều vị HY và GM tham dự hội nghị đã chủ tọa các thánh lễ này. Theo lời bà, số người tham dự thánh lễ khá đông; suốt ngày có xưng tội. Lúc nào cũng có khoảng 10 đến 12 linh mục ngồi tòa giải tội. Việc viếng Mình Thánh lôi cuốn được khá nhiều người, giờ chầu Thánh Thể cũng được tổ chức tại đây vào đêm Thứ Năm.
Cha Joseph Fazio, thuộc Dòng Đạo Binh Chúa Kitô, gốc New York, là một trong nhiều linh mục ngồi toà trong suốt các ngày Đại Hội. Cha tâm sự: chính tại tòa cáo giải, Cha đã chứng kiến được các hoa trái đầu mùa của Cuộc Họp Mặt: nhiều người đã tỉnh thức, tích cực cố gắng giúp đỡ gia đình họ, quay về với đức tin, muốn chỉnh đốn các mối liên hệ trong gia đình. Họ nhận ra: sở dĩ các mối liên hệ kia trở thành lỏng lẻo vì họ đã không đặt Chúa lên trên hết, đã không biết kêu cứu tới Người, không còn tham dự thánh lễ, không học giáo lý hay không cho con cái đi học giáo lý nữa. Bây giờ nhờ đã nhìn ra vấn đề, họ muốn quay trở lại.
Góp ý của Phi Châu
Vai trò của gia đình trong việc giáo dục con cái không những được Giáo Hội ủng hộ, mà cả các nền văn hóa cổ truyền nữa cũng ủng hộ vai trò ấy. Đó là nhận định của một giáo sư kinh tế của Uganda. Nữ giáo sư Germina Ssemogerere, trong tham luận tựa đề là “Ơn Gọi Giáo Dục của Gia Đình: Một cái nhìn từ Phi Châu, đặc biệt là Uganda”, tỏ ra quan tâm đối với hậu quả của môi trường kinh tế xã hội ngày nay đối với gia đình: trong khi có nhiều gia đình kiên tâm bền vững trong vai trò của mình, thì vẫn có những gia đình đang mất niềm tin vào việc thi hành vai trò của mình, hay đang bị làm cho tê liệt, không biết phải làm gì.
Dựa vào tài liệu “Giáo Hội tại Phi Châu”, Bà cho mọi người thấy tính tương hợp giữa giáo huấn Công Giáo và các nền văn hóa khác nhau, trong đó có nền văn hóa Phi Châu. Bà giải thích: Khuôn khổ hiến pháp và hiến định của một quốc gia là tham chiếu tốt và thực tiễn để thích ứng vai trò giáo dục của gia đình và để đưa ra cũng như cải tiến các chiến thuật cho vai trò giáo dục ấy. Theo Bà, hiến phápUganda với một hiến pháp đủ tiêu chuẩn dân chủ đã đem lại được cái khuôn khổ hợp lý kia. Bà thúc giục hàng ngũ giáo dân phải tỉnh táo và biết tham gia với các thẩm quyền quốc gia trong các cam kết xây dựng, làm hết sức để tạo ra các khuôn khổ thuận lợi cho gia đình, chống lại bất cứ ảnh hưởng tai hại nào đối với nó.
Bà nhấn mạnh nhu cầu phải hỗ trợ gia đình cổ truyền, vốn được xây trên nền luân lý, bằng cách khích lệ các gia đình đạo hạnh, vun đắp lòng tự tin nơi các gia đình đang hoài nghi bối rối, và loại bỏ hay vượt qua các trở ngại có tính định chế đối với cuộc sống gia đình, một việc được cả Giáo Hội lẫn nền văn hóa cổ vũ.
Ssemogerere đưa ra một số đề nghị thực tiễn: như cổ vũ người Công Giáo tích cực tham dự các vấn đề được mọi người quan tâm, huấn luyện giáo sĩ và giáo dân qua các hiệp hội chuyên nghiệp thân thiện với Công Giáo, hợp tác với các tổ chức có mục tiêu gây ảnh hưởng tới các chính sách công, và động viên cách có hệ thống hơn các định chế và chương trình Công Giáo.
Góp ý của Nhà Hiệp Sĩ
Liên đới không phải chỉ là một nhân đức khác, mà là yếu tố căn bản của gia đình, là chìa khóa để ta khám phá ra sự thật trong các mối liên hệ gia đình và là cái nền để xây dựng văn minh tìnhh yêu. Đó là nhận định của Hiệp Sĩ Tối Cao, Carl Anderson, tại Cuộc Họp Mặt Thế Giới Các Gia Đình tại Mexico City. Tựa đề bài tham luận của ông là “Gia Đình và Liên Đới”.
Theo Anderson, ý niệm liên đới được phát biểu lần đầu bởi nhà xã hội chủ nghĩa Pierre Leroux, coi nó như ý niệm thay thế cho ý niệm yêu thương của Kitô giáo. Theo Leroux, liên đới là giải đáp mới, thuận lý và hữu hiệu cho các vấn đề xã hội. Tuy nhiên, ý niệm liên đới này đã được Đức Gioan Phaolô II tinh lọc, đến độ Ngài không do dự gọi nó là “một nhân đức Kitô giáo”, có gốc rễ ngay trong đức tin Kitô giáo và được miêu tả trong chính tình yêu theo Kitô giáo.
Ông nhớ Đức Gioan Phaolô II viết về liên đới trong thông điệp "Sollicitudo Rei Socialis" của Ngài rằng: Bên trên các mối liên kết nhân bản và tự nhiên, vốn rất gần gũi và mạnh mẽ, dưới ánh sáng đức tin, người ta còn nhận biết một mẫu mực mới cho tính hợp nhất của nhân loại. Mẫu mực này sau cùng nhất định sẽ gợi hứng cho tình liên đới của chúng ta. Cái mẫu mực hợp nhất tối hậu, vốn phản chiếu sự sống thân mật nhất của Thiên Chúa này, một Thiên Chúa trong Ba Ngôi Vị, chính là điều Kitô hữu gọi là sự ‘hiệp thông’. Nói cách khác, được tạo nên giống hình ảnh Thiên Chúa không phải đơn thuần chỉ là được nhào nặn nên như thế, mà là để hành động như là hình ảnh Thiên Chúa, nghĩa là được sống hiệp thông với người khác trên bình diện hữu thể. Anderson coi đó là nền tảng của văn minh tình yêu.
Liên lập
Theo Anderson, Đức Giáo Hoàng Bênêđíctô XVI giúp ta hiểu thêm về liên đới, bằng cách đặt nó vào ngữ cảnh liên lập ( interdependence). Viết trên tờ "Communio" vào năm 1996, ĐHY Joseph Ratzinger lúc đó cho rằng: Từ chính bản chất của Người, Thiên Chúa thật hoàn toàn là hiện-hữu-cho (Chúa Cha), hiện-hữu- từ (Chúa Con) và hiện-hữu-với (Chúa Thánh Thần). Về phần mình, con người là hình ảnh Thiên Chúa bao lâu anh ta biết dùng cái ‘từ’ cái ‘với’ và cái ‘cho’ kia tạo ra khuôn mẫu nhân học có tính nền tảng.
Anderson nhấn mạnh: không thể hiểu tình yêu nhân bản và sự liên lập theo chiều ngang. Vì hiểu như thế, thường chỉ rút gọn nó vào việc tùy thuộc lẫn nhau, ngay cả việc lợi dụng lẫn nhau nữa. Đúng hơn, tình yêu nhân bản và sự liên lập phải được soi sáng bởi sự liên lập chung theo chiều dọc, tức sự tùy thuộc giữa những con người, được thấy rõ trước hết trong mối liên hệ với những chủ thể ban sự sống cho ta. Quan điểm này giúp ta hiểu rõ và bênh vực được tình liên đới, cả trong lẫn ngoài gia đình.
Hiện-Hữu-Cho (Being-for)
Anderson cho rằng ĐHY Ratzinger miêu tả sự hiện diện của đứa con trong lòng mẹ là bức tranh hết sức sống động của chính yếu tính sự hiện hữu nhân bản nói chung. ĐHY giải thích rằng: Trong lòng mẹ, sự sống của đứa trẻ tùy thuộc vào sự hiện hữu với mẹ. Nhưng cũng như A-Dong, chỉ hiện hữu mà thôi không đủ, vì trong lúc mang thai, sự hiện hữu của đứa trẻ với người mẹ đòi buộc phải có lòng tốt của mẹ nữa. Sự hiện-hữu-với này buộc phải có sự hiện hữu của người khác… mới có thể trở nên một hiện-hữu-cho. Hiện-hữu-cho, hiện-hữu-với và hiện-hữu-từ này về phương diện di truyền (genetically) được diễn tả thành “sao mà đưá trẻ giống cha, giống mẹ đến thế”, và về phương diện bản thân, được diễn tả qua việc cha mẹ đi tìm những nét tương tự thể lý giữa họ và con cái họ.
Anderson cho rằng trong trường hợp một đứa trẻ được sinh ra bằng tinh trùng của người hiến tặng ẩn danh, mối liên hệ kia được thấy rõ qua cố gắng của đứa trẻ đi tìm người cha ẩn danh của mình.
Điều đáng buồn là ly dị, bỏ rơi, và một vài cách sử dụng kỹ thuật mang thai đã tách việc làm cha mẹ ra khỏi sự hiện hữu nói trên, nghĩa là trong xã hội ngày nay, đối với nhiều trẻ em, hiện-hữu-từ (being-from) một cha mẹ không còn có nghĩa là hiện-hữu-với (being-with) đứa trẻ đó nữa. Cũng thế, việc làm cha mẹ đã bị tách biệt khỏi hôn nhân, khi việc hiện-hữu-với người phối ngẫu bị tách biệt khỏi việc chào đón một đứa trẻ vốn hiện-hữu-từ cặp vợ chồng này.
Ngoài ra, dựa vào Đức Gioan Phaolô II, Anderson kết luận rằng: vai trò của liên đới trong và qua gia đình không phải chỉ là một nhân đức xã hội khác, giống như chân lý, tự do, công bình, phụ trợ lẫn nhau và… bác ái. Nếu phải xây dựng tương lai của liên đới trên việc hiệp thông các bản vị, thì quán quân của sự hiệp thông này trước hết và đầu hết phải là gia đình, vốn không những chỉ là thầy dạy các nhân đức xã hội, mà còn là một mô phỏng trước nhất của sự hiệp thông giữa Ba Ngôi Thiên Chúa. Chính ở đó, ta thấy không những gia đình hiện hữu trong liên đới mà còn là mẫu mực và hạt nhân của liên đới nữa. Không có liên đới trong gia đình, sẽ không thể có liên đói bên ngoài gia đình.
Góp ý của kinh tế gia: Ăn với nhau cố kết với nhau
Không có gì phức tạp hơn việc ngồi ăn cùng bàn với nhau. Nhưg theo một kinh tế gia thuộc Trường Đại Học Công Giáo America, gia đình cùng ăn cơm chung với nhau là điều chủ yếu đối với việc phát triển của con cái. Và theo Bà, gia đình vững mạnh rất tốt cho con cái mà còn rất tốt cho nền kinh tế nữa.
Nhận định trên là của Maria Sophia Aguire, giáo sư phân khoa kinh tế của Đại Học Công Giáo America, tại Washington DC, đọc tại Cuộc Họp Mặt Thế Giới Các Gia Đình tại Mexico City.
Bài trình bày của Bà tập chú vào các lợi ích nhiều mặt của các gia đình ổn định, đặt căn bản trên hôn nhân, đối với mọi bên liên hệ. Bà trích dẫn các con số thống kê, cho thấy hôn nhân làm tăng khả thể người cha có liên hệ tốt với các con; ly dị làm giảm khả thể con cái tốt nghiện đại học và cả trung học nữa; còn các bà mẹ có gia đình thì ít trầm cảm hơn các bà mẹ đơn lẻ hay sống chung cho có lệ.
Ngay sức khỏe thể lý cũng tốt hơn đối với các gia đình đặt căn bản trên hôn nhân: tử suất của trẻ sơ sinh rất thấp trong các gia đình này, ngay xác suất bị thương cũng thấp hơn.
Trái lại, gia đình tan vỡ là triệu chứng của một xã hội đang lâm bệnh, yếu ớt. Các vấn đề đủ loại gia tăng hẳn trong các gia đình bất thường: phụ nữ dễ bị bạo hành, trẻ em dễ rơi vào nghiện ngập, phụ nữ và trẻ em trong các gia đình tan vỡ có xác suất cao về nghèo đói.
Không phải chỉ là bữa ăn
Dù không phải là một giải pháp cho mọi vấn đề, Kinh Tế Gia này cho rằng nguyên một hành vi ngồi ăn chung với nhau mà thôi cũng gây hiệu quả tốt đối với việc phát triển của trẻ. Theo một cuộc nghiên cứu của Trung Tâm Quốc Gia Về Các Chất và Nghiện Ngập tại Đại Học Colombia, khi so sánh các thiếu niên mỗi tuần ăn cơm chung với gia đình từ 0 đến 2 lần với các em khác ăn cơm chung với gia đình mỗi tuần từ 5 tới 7 lần, người ta thấy 40% các em ăn cơm chung với gia đình nhiều lần hơn có xác suất nói truyện với cha mẹ về một vấn đề nào đó nhiều hơn. Trong khi đó, 171% các thiếu niên không ăn cơm với gia đình bị căng thẳng nhiều hơn ngay tại nhà. Với các em năng ăn cơm chung với gia đình, thành quả học hành gia tăng tới 38%, xác suất hút thuốc giảm đi 142%, xác suất uống rượu giảm đi 93%, xác suất hút cần xa giảm 191%... Gia đình có cả hai cha mẹ thường có cơ hội ăn cơm chung với nhau cao hơn 3.5 lần các gia đình đơn lẻ.
Góp ý của thần học gia
Các cha mẹ cần hy vọng rằng họ có thể chuyển giao các giá trị Kitô Giáo cho con cái và cần hành động để đòi quyền giáo dục gia đình mình. Đó là nhận định của Michael Waldstein, giáo sư thần học qua bài tham luận “Gia Đình: Đào Tạo Các Giá Trị Nhân Bản và Kitô Giáo, Cái Nhìn của Hoa Kỳ và Canada” đọc trước Hội Nghị Thần Học và Mục Vụ tại Mexico City vào ngày 16 tháng 1 năm 2009.
Nhắc tới các lý tưởng được Đức Thánh Cha Bênêđíctô XVI trình bày tại Cuộc Họp Mặt lần trước tại Valencia, Tây Ban Nha, Waldstein tự hỏi liệu các lý tưởng ấy có được đem ra thực hành hay không?
Theo ông, một số gia đình có đem ra thực hành. Nhưng khá nhiều gia đình đã rơi về phía sau, vì đã phó mặc trách nhiệm giáo dục của mình cho nhà trường và vẫn còn tiếp tục làm như thế.
Đáng tiếc thay, chính trường học cũng đang thay đổi, càng ngày chúng càng bị thế tục hóa. Con cái dành nhiều giờ cho trường học đến nỗi khó mà tạo được sinh hoạt chung với cha mẹ và không biết phải làm gì với nhau trong dịp nghỉ hè.
Văn hóa tuổi trẻ
Waldstein nhấn mạnh một lực lượng khác đã lấy giáo dục ra khỏi tay gia đình. Đó là nền văn hóa hoàn cầu của tuổi trẻ. Trong nền văn hóa này, hai lực lượng có tính rèn luyện hơn cả chính là “cuộc cách mạng tình dục” và thứ âm nhạc được dàn dựng cho thính giả thiếu niên. Theo vị giáo sư này, hậu quả của lực lượng thứ nhất là: các đam mê tình dục đầy dầy vò nơi thiếu niên bỗng nhiên được giải thoát trong các liên hệ quá sớm đầy tính phá hoại. Thay vì được dẫn khởi vào nền văn hóa tình yêu, trẻ em bị bỏ rơi vào nền văn hóa chỉ biết sử dụng lẫn nhau để gây khoái cảm.
Về lực lượng thứ hai, nền âm nhạc, không hề nhắc đến việc đào tạo bản thân về đam mê tính dực trong tình yêu đích thực, đã chỉ nhằm khai thác những đam mê cực mạnh và hết sức ấu trĩ của tuổi trẻ, nhất là đam mê tính dục và phẫn nộ.
Diễn giả cho hay: một số cha mẹ ngã lòng về hiện tượng phân cách thế hệ mỗi ngày một được mở rộng thêm này, hố phân cách hiện đang lấy đi con cái khỏi bàn tay chăm sóc của họ. Nhưng diễn giả trấn án họ: lịch sử từng chứng minh rằng hố phân cách thế hệ không phải là một khai triển tự nhiên. Cha mẹ chúng ta cần phải thức giấc và ra tay hành động, phải nhớ rằng trách nhiệm bất khả nhượng của chúng ta và do đó cũng là quyền lợi bất khả nhượng của chúng ta là giáo dục con cái mình. Ông khuyến khích các cha mẹ phải bảo vệ quyền lợi bất khả nhượng này, phải dành thì giờ để chuyển giao các giá trị cho con cái, và “nhúng tay vào việc giáo dục con cái mình”. Ông mang trường hợp của chính gia đình ông để chứng minh rằng nền văn hóa hoàn cầu của tuổi trẻ không phải là lực lượng ta không chống lại được và ta có khả năng chuyển giao cho các con nền văn hóa Kitô giáo của riêng mình. Hố phân cách thế hệ không phải là điều không thể tránh được.