LỊCH SỬ CỨU ĐỘ DẪN VÀO KINH THÁNH
Tác giả: Abbé Dheilly, Giáo sư Học viện Công giáo Paris, và do LM Giuse Đỗ Ngọc Bảo, O.P. chuyển ngữ

Dẫn vào Lịch Sử Dân Thiên Chúa

Những điều cần biết

1. Cựu Ước là gì?

Cựu Ước là toàn bộ những Sách Thánh được viết trước khi Chúa Ki-tô đến, và được dùng để giáo dục Dân Do Thái về mặt tôn giáo.

Người ta coi chúng “được linh hứng”, vì Chúa Thánh Thần đã giúp tác giả viết lên những sách đó.

2. Từ ngữ muốn nói lên điều gì?

“Cựu Ước” có nghĩa là “Giao Ước Cũ”.

Thực vậy, đây là một lịch sử có trọng điểm là hiệp ước được giao kết trên núi Xi-nai khoảng 1225 trước Chúa Giê-su Ki-tô, giữa Thiên Chúa và dân Do Thái, qua trung gian Mô-sê. Đôi khi, thay vì nói “Cựu Ước”, người ta còn dùng những từ ngữ như “Lịch Sử Thánh”, “Lịch Sử Thánh Kinh”.

Hiệp ước này mà ta gọi là Giao Ước Cũ, chuẩn bị cho Giao Ước Mới mà Chúa Ki-tô sẽ thể hiện qua việc Cứu Chuộc, và từ đó phát sinh Giáo Hội Ki-tô.

Cựu Ước và Tân Ước làm nên bộ Kinh Thánh.

3. Những sách nói trên từ đâu mà có?

Giáo Hội Công Giáo tiếp nhận những sách đó từ người Do Thái dưới dạng văn tập. Văn tập này được hình thành dần dần khoảng 1200 năm trước Chúa Ki-tô.

4. Cựu Ước bao gồm những gì?

Những sách đó gồm một số là văn xuôi, số khác là văn vần.

Một số sách kể lại lịch sử Dân ưu tuyển: chẳng hạn, việc người Do Thái ra khỏi Ai Cập.

Số khác chỉ là sưu tập những câu châm ngôn:

“Thà ăn rau xanh mà có tình có nghĩa” - “Còn hơn ăn thịt bò béo mà đầy những ghét ghen”.

Ngoài ra còn có những kinh nguyện phụng vụ của người Do Thái, lời các Ngôn Sứ và lời lẽ các hiền nhân.

Được viết cho các cư dân Á Châu sống từ ba đến bốn nghìn năm trước, những tập sách này không phải lúc nào cũng phù hợp với lối suy nghĩ và viết lách của con người hôm nay sống hai mươi thế kỷ sau Chúa Ki-tô.

Như vậy cần phải cố gắng mới hiểu được.

5. Ta sẽ nghiên cứu những gì?

Chúng ta sẽ không nghiên cứu toàn bộ những sách Cựu Ước: vì chúng quá nhiều. Chúng ta sẽ nghiên cứu lịch sử mà những sách đó kể lại. Vì vậy nghiên cứu này còn có tựa đề: Lịch Sử Dân Thiên Chúa.

CHƯƠNG I
Thiên Chúa đã tạo dựng vũ trụ và con người

Khi Thiên Chúa ủy thác cho nhà thánh ký sứ mệnh soạn thảo những quyển sách đầu tiên của Cựu Ước, Ngài muốn ban cho dân Ít-ra-en một giải đáp cho những câu hỏi họ thắc mắc, một giải pháp cho những vấn đề mà họ cảm thấy khó khăn:

– Ai đã làm nên thế giới quanh tôi? – Ai đã tạo nên con người? – Tại sao lại nghỉ việc ngày Sa-bát? – Phải chăng con người cứ mãi gặp đau khổ? – Tại sao lúc này con người không hạnh phúc? – Tại sao Áp-ra-ham lại được chọn làm tiên tổ Dân Thiên Chúa?

Để cho dễ hiểu, Thiên Chúa đã nói với người Ít-ra-en bằng chính ngôn ngữ của họ; Ngài gợi lên những cảnh tượng thiên nhiên và những chi tiết đời sống họ đã quá quen thuộc, giúp họ cảm nhận rõ nét những gì họ mắc nợ Ngài, những gì họ đã đánh mất do nguyên tội, và niềm hy vọng lớn lao Ngài dành cho họ.

Đến lượt chúng ta gợi lên những cảnh tượng thiên nhiên cũng như những chi tiết trong đời sống thường nhật của người Do Thái, để hiểu Lời Thiên Chúa hơn nữa.

Câu hỏi 1: Ai đã tạo nên thế giới quanh tôi?

1. Người Do Thái rời bỏ căn lều lúc sớm mai: anh nhìn thấy Ánh Sáng; khi trở về lều ban chiều, thì trời đã về đêm.

Thiên Chúa phán: “Phải có ánh sáng”. Liền có ánh sáng.

Thiên Chúa phân rẽ ánh sáng và bóng tối. Thiên Chúa gọi ánh sáng là “ngày”, bóng tối là “đêm” (St 1,3-5a).

2. Người Do Thái đang khát nước, khom mình uống nước ở nguồn suối. Nhưng khi trời mưa, nước thấm ướt anh lại từ trời rơi xuống;

Như vậy anh nghĩ rằng tầng trời là một cái vòm chắc chắn, điểm xuyết những cửa tò vò mà đôi khi Thiên Chúa mở ra khiến mưa rơi xuống.

Thiên Chúa phán: “Phải có một cái vòm ở giữa khối nước, để phân rẽ nước với nước”.

Thiên Chúa làm ra cái vòm đó và phân rẽ nước phía dưới vòm với nước phía trên (St 1,6-7).

3. Người Do Thái sống trên đất liền, nhưng anh biết rằng những con tàu lại rong ruổi ngoài biển khơi.

Thiên Chúa phán: “Nước phía dưới trời phải tụ lại một nơi, để chỗ cạn lộ ra”.

Thiên Chúa gọi chỗ cạn là “Đất”, khối nước tụ lại là “Biển” (St 1,9-10).

4. Người Do Thái dẫn đoàn vật đến gặm cỏ nơi ốc đảo, còn anh thì ăn những trái chà là và những hoa quả khác hái được từ cây cối.

Và Thiên Chúa phán: “Đất phải sinh thảo mộc xanh tươi, cỏ mang lại hạt giống, và cây trên mặt đất có trái” (St 1,11).

5. Người Do Thái thường nhìn thấy mặt trời ban ngày; còn ban đêm thì ngắm trăng sao. Chính nhờ những vì tinh tú này mà anh tính được ngày giờ, mùa màng, năm tháng.

Thiên Chúa phán: “Phải có những vầng sáng trên vòm trời, để phân rẽ ngày với đêm, để làm dấu chỉ xác định các đại lễ, ngày và năm”.

Thiên Chúa làm ra hai vầng sáng lớn: vầng sáng lớn hơn để điều khiển ngày, vầng sáng nhỏ hơn để điều khiển đêm; Người cũng làm ra các ngôi sao (St 1,14-16).

6. Người Do Thái biết rằng nơi biển cả có những loài cá; trên không trung thì thấy những con chim; còn trên mặt đất, có những động vật.

Thiên Chúa phán: “Nước phải sinh ra đầy dẫy những sinh vật lúc nhúc, và loài chim phải bay lượn trên mặt đất, dưới vòm trời” (St 1,20).

Thiên Chúa phán: “Đất phải sinh ra các sinh vật tùy theo loại: gia súc, loài bò sát và dã thú tùy theo loại” (St 1,24).

Câu trả lời: Thiên Chúa đã tạo nên thế giới nơi con người sinh sống – và tất cả những thứ quanh con người.

Câu hỏi 2: Ai đã tạo nên con người?

1. Siméon người Do Thái mất cha đã mấy năm nay; anh biết cha mình chết khi ông cụ không còn thở nữa. – Thân xác cha giờ chỉ còn là chút bụi.

Đức Chúa là Thiên Chúa lấy bụi từ đất nặn ra con người, thổi sinh khí vào lỗ mũi, và con người trở nên một sinh vật (St 2,7).

2. Nhưng Siméon biết rằng mình không giống như các động vật.

Trước hết, anh thống trị chúng; - ngoài ra, anh còn suy nghĩ, do dự giữa hai giải pháp, rồi chọn lựa; con lừa của anh không có khả năng đó.

Rồi Thiên Chúa phán: “Chúng ta hãy làm ra con người theo hình ảnh chúng ta, giống như chúng ta” (St 1,27).

Thiên Chúa sáng tạo con người theo hình ảnh mình. Thiên Chúa sáng tạo con người có nam có nữ. Thiên Chúa ban phúc lành cho họ, và Thiên Chúa phán với họ: “Hãy sinh sôi nảy nở thật nhiều, cho đầy mặt đất; hãy làm bá chủ cá biển, chim trời và mọi giống vật bò trên mặt đất” (St 1,28).

Câu trả lời: Thiên Chúa đã tạo nên người nam (và người nữ).

Ngài đặt con người cai quản mọi tạo vật trên mặt đất và ban cho con người trí khôn và ý chí.

Do đó con người giống như Thiên Chúa.

Câu hỏi 3: Tại sao lại nghỉ việc ngày Sa-bát?

Người Do Thái thấy dân ngoại làm việc ngày Sa-bát. Thế nhưng, anh biết rằng Mô-sê qui định chặt chẽ phải nghỉ việc ngày đó.

Thế là trời đất cùng với mọi thành phần đã hoàn tất. Ngày thứ bảy, Thiên Chúa đã hoàn thành công việc Người làm. Khi làm xong mọi công việc của Người, ngày thứ bảy, Thiên Chúa nghỉ ngơi (St 2,1-2).

Câu trả lời: Mỗi tuần, Thiên Chúa đòi con người ngưng công việc để dành cho Ngài một phần thời giờ của con người.