Đề tài suy nghĩ & cầu nguyện
Mùa Chay 2003 của Giới Trẻ
Định hướng phát triển của người trẻ Công giáo
trong nền kinh tế thị trường
Vào đề
Có lẽ từ trước đến nay, chưa bao giờ người trẻ Việt Nam, trong đó có người trẻ Công giáo, có nhiều thời cơ phát triển như bây giờ. Và cũng chưa bao giờ người trẻ Việt Nam, Công giáo hoặc không Công giáo, gặp nhiều khó khăn trong việc chọn lựa khuôn mẫu, xác lập định hướng phát triển như bây giờ. Nhiều thời cơ thuận lợi: vì sự phát triển của khoa học và kỹ thuật đã mở ra những chân trời bao la cho cuộc sống. Nhiều khó khăn: vì người trẻ như bị cuốn vào vòng xoáy khốc liệt của các nguồn thông tin trái ngược nhau và bị lôi kéo bởi các trào lưu văn hóa thay đổi nhanh chóng liệt, khiến người trẻ không biết mình là ai, đang ở đâu, đi về đâu nữa. Sở dĩ trong xã hội Việt Nam có sự thay đổi nhanh chóng và khốc liệt trên nhiều lãnh vực như thế là do tác động của nền kinh tế thị trường.
Câu hỏi gợi ý suy nghĩ
Để giúp các bạn trẻ Công giáo suy nghĩ và cầu nguyện về việc tìm định hướng phát triển, tôi xin đưa ra ba câu hỏi, cũng là ba phần của bài chia sẻ của tôi.
1. Nền kinh tế trị trường có những đặc điểm gì?
2. Nền kinh tế thị trường tác động như thế nào trên người trẻ Việt Nam nói chung và người trẻ Công giáo nói riêng?
3. Người trẻ Công giáo Việt Nam phải định hướng phát triển như thế nào trong nền kinh tế thị trường?
Trình bày
I. Một vài đặc điểm của nền kinh tế thị trường
Chúng ta không phải là những nhà kinh tế, nên những gì chúng ta trao đổi chia sẻ với nhau ở đây về nền kinh tế thị trường, không mang tính chuyên môn mà chỉ là những cảm nhận mà một người dân bình thường nào cũng có thể có được. Chúng ta cũng không phê phán nền kinh tế thị trường ấy, tự nó, tốt hay xấu, mà chỉ quan tâm đến những gì mà nền kinh tế ấy tác động trên đời sống con người nói chung và trên đời sống gia đình nói riêng, trên gia đình Việt Nam nói chung và trên gia đình Công giáo nói riêng. Sau đây là một số nét "đặc trưng" của nền kinh tế thị trường:
(1) Nền kinh tế thị trường xây dựng trên tự do mậu dịch và kinh tế đa thành phần: Trước khi theo đuổi chính sách đổi mới thì nền kinh tế Việt Nam chỉ có kinh tế quốc doanh và tập thể (hợp tác xã), còn kinh tế cá thể không quan trọng. Nay nền kinh tế của chúng ta đã và đang là nền kinh tế thị trường nên chẳng những có quốc doanh, tư doanh, công tư hợp doanh, mà còn có cả đầu tư vốn nước ngoài (một phần hay toàn phần) và thành phần kinh tế cá thể trở nên rất quan trọng.
(2) Qui luật của nền kinh tế thị trường là cạnh tranh: tự do mậu dịch sẽ dẫn tới tự do cạnh tranh. Có cạnh tranh thì chất lượng hàng mới tốt, giá thành mới rẻ, người tiêu dùng mới hưởng lợi nhiều ("khách hàng là thượng đế"). Nhưng tự do cạnh tranh sẽ dễ dàng dẫn tới cảnh "cá lớn nuốt cá bé" và phát sinh cạnh tranh "không lành mạnh", bằng cách lừa đảo hoặc cấu kết với nhau để đè bẹp, tiêu diệt kẻ khác để trục lợi nhiều hơn hay để độc quyền hưởng lợi (Vụ Năm Cam đang được tòa án xét xử là một thí dụ sinh động).
(3) Mục đích của kinh tế thị trường là lợi nhuận: và càng nhiều lợi nhuận càng tốt... Lợi nhuận là động cơ thúc đẩy mọi người, mọi tổ chức lao động, sáng tạo, cạnh tranh không biết mệt mỏi.
(4) Giá trị của nền kinh tế thị trường là đồng tiền: Đồng tiền là vua, là chúa, là tất cả hay như cách người ta thường nói bây giờ: "đồng tiền là tiên, là phật, là sức bật của tuổi trẻ, là sức khỏe của tuổi già, là đà thăng tiến xã hội..." Người ta đánh giá con người qua đồng tiền mà người ấy kiếm được chứ không phải trên phẩm chất cuộc sống của người ấy. Người ta coi trọng "to have" hơn "to be" nghĩa là coi trọng cái người ta có hơn điều người ta là.
(5) Kết quả của kinh tế thị trường là đời sống vật chất tinh thần của một bộ phận dân chúng được cải thiện và nâng cao, nhưng lại làm cho đời sống của một bộ phận khác trở nên tồi tệ gấp bội. Hố ngăn cách giữa người giầu và người nghèo, giữa nước giầu và nước nghèo càng ngày càng lớn: giầu thì càng giầu thêm, nghèo thì càng nghèo đi. Thống kê về hố ngăn cách giầu nghèo trên thế giới cho thấy: Vào năm 1820, sự cách biệt về thu nhập giữa 20% giầu nhất với 20% nghèo nhất nhân loại là 3 lần, đến năm 1870 sự cách biệt nói trên là 7 lần và đến năm 1913 lên tới 11 lần. Vào năm 1960 khoảng cách giầu nghèo nói trên lên tới 30 lần. Với tiến trình toàn cầu hóa, hố phân cánh này càng sâu thẳm: năm 1990 nhẩy vọt lên 60 lần, năm 1997 là 74 lần và vẫn tiếp tục nâng cao hơn mỗi năm. Trong xã hội Việt Nam chúng ta, hố ngăn cách giữa người giầu và người nghèo, giữa thành thị và nông thôn cũng rất rõ rệt. Người ta thường nói "có tiền là có quyền và có quyền là có tiền." (Vụ Năm Cam).
II. Nền kinh tế thị trường tác động trên người trẻ Việt Nam nói chung và người trẻ công giáo nói riêng.
Chúng ta có thể liệt kê những tác động đáng kể sau đây:
(1) Đồng tiền là đối tượng sát sườn gần gũi nhất và quan trọng nhất mà mọi người nhắm tới : Cả một guồng máy sản xuất hàng hóa, dịch vụ nhằm phục vụ con người cách tốt nhất, nhanh nhất và rẻ nhất. Nhưng để có được các sản phẩm hay dịch vụ tốt nhất, nhanh nhất và rẻ nhất người ta phải có tiền. Có tiền là có tất cả. Ngày xưa người ta nói: "Có tiền mua tiên cũng được". Ngày nay người ta nói: "Đồng tiền là tiên, là phật, là sức bật của tuổi trẻ, là sức khỏe của tuổi già, là đà thăng tiến xã hội..." Không có tiền thì chẳng có gì hết! Xã hội là một nhà máy khổng lồ: sản xuất và cung cấp mọi sản phẩm và dịch vụ. Đồng thời cũng là một thị trường tiêu thụ khổng lồ: tiêu thụ mọi sản phẩm và thụ hưởng mọi dịch vụ. Thậm chí người ta sản xuất cả những sản phẩm không cần thiết và cung cấp cả những dịch vụ tội lỗi, miễn sao thu được nhiều tiền.
(2) Các giá trị vật chất lên ngôi lấn áp và thay thế các giá trị đạo đức: Vật chất được quan tâm và đề cao quá mức thì đạo đức và tâm linh sẽ bị lãng quên, bị coi thường. Nhất là khi vật chất là những gì sờ mó, cảm nhận, thụ hưởng ngay được, còn đạo đức, tâm linh là những giá trị vô hình, không sờ mó, cảm nhận được bằng giác quan! Dần dần con người đi đến chỗ sống một cách vô thần... không còn tin Thiên Chúa nữa, không dành cho Thiên Chúa một vị trí, vai trò gì trong cuộc sống cá nhân và gia đình, xã hội...nữa. Khi đã loại được Thiên Chúa ra khỏi tâm hồn và cuộc sống của mình rồi thì con người sẽ sống theo sự thúc đẩy của bản năng thấp hèn. Đời sống xã hội sẽ đầy ắp tội ác: chiến tranh, hận thù, mãi dâm, buôn bán phụ nữ và trẻ em, ma túy...
(3) Con người quá bận rộn không còn thời gian dành cho nhau và dành cho việc trau dồi tâm linh như trước nữa. Cuộc sống chạy theo cơm áo gạo tiền khiến mọi người đều bận rộn, "đầu tắt mặt tối" không còn thời gian để sống, để thở nữa. Người trẻ thì học hành, thi cử, vui chơi giải trí! Người lớn thì lao động kiếm tiền, hưởng thụ cuộc đời! Đúng như phương châm: "Làm ngày không đủ, tranh thủ làm đêm, làm thêm chủ nhật". Con người sống bên cạnh nhau, nhưng sống hời hợt và ích kỷ, không có mối hiệp thông sâu sắc giữa người với người, không quan tâm tới nhau, không biết tâm tư nguyện vọng của nhau, không chia sẻ với nhau nữa: mỗi người sống đóng kín trong thế giới riêng của mình.
(4) Con người, nhất là giới trẻ, chạy theo lối sống thực dụng: Vì chạy theo vật chất và tiện nghi trong một thế giới chụp giật: nhanh tay nhanh chân thì có phần, chậm tay chậm chân thì không có gì hết, nên con người chỉ coi trọng những kết quả trước mắt, tức thì. Đó là lối sống thực dụng: điều gì có lợi cho tôi là điều tốt, điều gì không có lợi cho tôi là điều xấu. Có lợi theo nghĩa là có lợi vật chất, trước mắt, ngay lập tức. Các mối quan hệ gia đình, bạn bè cũng dần dần phai nhạt tính vô tư, tình nghĩa và mang dần nét vụ lợi, tính toán.
III. Định hướng phát triển của người trẻ Công giáo trong nền kinh tế thị trường
Ngày 26 tháng 1 năm 1999, tại Trung tâm Kiel của thành phố Saint Louis, Hoa Kỳ, Đức Gioan Phaolo II đã có cuộc gặp gỡ đáng ghi nhớ với rất đông các bạn trẻ Mỹ. Trong bài diễn văn dành cho các bạn trẻ Hoa Kỳ có mặt ở địa điểm ấy cũng như cho các bạn trẻ khác trên toàn thế giới, Đức Gioan Phaolo II đã có những lời nhắn nhủ hết sức ngọt ngào và phong phú ý nghĩa sau đây:
"Hỡi những người trẻ thân mến, chúng con vừa nghe Thánh Phaolô nói với Timôtê như sau: "Ước chi không ai khinh thường tuổi trẻ của chúng con"(1 Tm 4, 12). Thánh Phaolô nói thế, bởi vì tuổi trẻ là một hồng ân kỳ diệu của Thiên Chúa. Đây là thời gian của những sức mạnh đặc biệt, của những cơ may và trách nhiệm đặc biệt. Chúa Kitô và Giáo hội đang cần đến những khả năng riêng biệt của chúng con. Chúng con hãy sử dụng tốt những hồng ân mà Chúa đã ban cho chúng con!
"Đây là thời gian chúng con luyện tập, thời gian để chúng con phát triển mình trên đàng thiêng liêng, tình cảm, trí thức và thể xác. Tuy nhiên điều này không có nghĩa là chúng con dời lại cuộc gặp gỡ của chúng con với Chúa Kitô và hoãn lại cuộc tham dự của chúng con vào sứ mạng của Giáo hội. Dù chúng con còn trẻ, nhưng đây cũng là thời gian đề hành động. Chúa Giêsu đã không khinh dể tuổi trẻ chúng con. Ngài không đặt chúng con ra một bên để chờ cho đến lúc chúng con trở nên lớn tuổi và việc luyện tập chúng con đã xong. Việc luyện tập của chúng con sẽ không bao giờ cùng. Những người Kitô cần rèn luyện mình mãi mãi. Chúng con hãy sẵn sàng cho điều mà Chúa Kitô muốn nơi chúng con ngay bây giờ. Ngài mong ước sao cho tất cả chúng con trở thành ánh sáng của thế gian, như thể chỉ có những người trẻ chúng con mới có thể được như vậy. Đây là lúc làm cho ánh sáng của chúng con được chiếu tỏa "
Từ lời nhắn nhủ trên của Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II, chúng ta có thể nói về 3 trách nhiệm cũng là 3 mục tiêu chính yếu của Giới Trẻ cũng là ba định hướng phát triển của Giới trẻ:
1. Tuổi trẻ là thời gian rèn luyện và trưởng thành về mọi lãnh vực: thể xác, tinh thần, tình cảm, ý chí, tri thức và tâm linh.
2. Tuổi trẻ là thời gian gặp gỡ Đức Kitô, gặp gỡ Thiên Chúa, sống mật thiết gắn bó với Người như những người bạn thân tình, như những người môn đệ chí cốt, như những người con hiếu thảo.
3. Tuổi trẻ cũng là thời gian làm chứng cho Tin Mừng nghĩa là thi hành sứ vụ của người Kitô hữu là làm muối, làm men cho đời, làm ánh sáng cho trần gian. Sống như thế là người trẻ tham gia vào sứ mạng của Giáo hội là Rao Giảng Tin Mừng cho con người thời nay.
Triển khai
1. Tuổi trẻ là thời gian rèn luyện và trưởng thành
1.1 Đức Giêsu Nadarét là mẫu mực về sự RÈN LUYỆN và TRƯỞNG THÀNH của mọi người trẻ. Là người trẻ, nhiệm vụ hàng đầu của chúng ta là chuẩn bị tương lai. Muốn chu toàn trách nhiệm của người trưởng thành sau này thì công việc ưu tiên của chúng ta hôm nay là rèn luyện và phát triển con người về mọi mặt: thể xác, nhân cách, tri thức, tình cảm, ý chí và tâm linh. Nhưng lớn lên và trưởng thành theo mô hình hay tiêu chuẩn nào? Chúng ta phải chọn ai làm thần tượng, làm mẫu mực cho chúng ta: vua nhạc rock nào, vua bóng đá nào, ngôi sao điện ảnh hay người mẫu thời trang nào? Một người nổi tiếng nào đó có thể khiến chúng ta ngưỡng mộ tôn sùng, nhưng chắc chắn không có người nào trong số những người nổi danh ấy có thể so sánh được với Đức Giêsu Nagiaret của chúng ta. Đức Giêsu vẫn luôn luôn là con người vĩ đại nhất của lịch sử loài người. Chỉ cần nhìn vào con số các sách viết về Ngài trong mấy năm gần đây cũng đủ thấy Ngài vĩ đại đến mức độ nào. Ngài đã được tờ báo Pháp l’Express bình chọn là "Người của năm 1998" vì trong ba năm 1996-1998, chỉ riêng tại Pháp đã có đến 445 cuốn sách có tựa đề mang tên Đức Giêsu và 275 cuốn khác có tựa đề mang tên Chúa Kitô. Thực ra Đức Giêsu không chỉ là người của năm này hay năm nọ, mà Ngài là người của mọi năm, của muôn năm, vì Ngài là Đấng Vĩnh Hằng, là Đấng Muôn Thuở. Cho nên nếu như chúng ta dựa vào Phúc Âm của Ngài, Phúc Âm viết về Ngài để tìm ra một định hướng cho sự rèn luyện và trưởng thành của người trẻ chúng ta thì cũng là chuyện hợp lý. Phúc Âm Luca, chương 2 câu 52 viết:
"Đức Giê-su ngày càng thêm khôn ngoan // thêm cao lớn // và thêm ân nghĩa đối với Thiên Chúa // và người ta".
Câu Kinh Thánh trên cho thấy tại Nadarét Đức Giêsu đã lớn lên và trưởng thành trong bốn lãnh vực tối cần thiết đối với đời sống và sứ vụ Cứu độ của Ngài. Đức Giêsu đã phát triển và trưởng thành (1) về đức khôn ngoan, (2) về thân xác tức về thể lý, (3) về đời sống tâm linh, tức mối quan hệ với Thiên Chúa và (4) về mối quan hệ xã hội. Đó chính là mô hình, là mẫu mực về rèn luyện và trưởng thành mà người trẻ chúng ta nên noi theo.
1.2 Tuổi trẻ là thời gian rèn luyện và trưởng thành
a. Rèn luyện và trưởng thành về thân xác (thể lý):
Có một thân xác khỏe mạnh là điều cần thiết đầu tiên cho bất kỳ ai. Muốn làm bất cứ chuyện gì, học hành hay lao động, chúng ta đều cần có sức khỏe. Không có sức khỏe chúng ta khó có thể học hành, lao động, sáng tạo, đảm đương những trách nhiệm của người thanh niên, của người làm chồng làm vợ, làm cha làm mẹ trong gia đình, làm công dân trong xã hội sau này.
Muốn có được một thân thể cường tráng, một sức khỏe dẻo dai, chúng ta cần được ăn uống đầy đủ và được chăm sóc kỹ càng ngay từ khi còn là bào thai trong lòng mẹ. Chúng ta cũng cần phải luyện tập thể thao, có kỷ luật trong sinh hoạt, học hành, ngủ nghỉ. Cũng cần tránh những điều có hại cho sức khỏe như cà phê, thuốc lá, bia rượu, và nhất là xì ke, ma túy.
Nhưng không ai có thể hình dung ra một con người mà chỉ có thân xác, dù thân xác ấy cường tráng và đẹp đẽ đến mức nào đi nữa. Vì thế gắn liền với một thân thể cường tráng và một sức khỏe dẻo dai phải là một nhân cách trưởng thành, một tình cảm quân bình, một ý chí sắt đá kiên cường, một tri thức tương đối mới tương xứng với một con người của thế kỷ 20 sắp bước sang thế kỷ 21. Người La Mã xưa rất coi trọng sự hài hòa giữa thân thể và tâm hồn nên đã có phương châm nổi tiếng này: "Một tâm hồn lành mạnh trong một thân thể cường tráng"(Anima sana in corpore sano). Một tâm hồn lành mạnh không chỉ được hiểu là một tâm hồn không bệnh hoạn, không yếu ớt mà còn phải được hiểu là một tâm hồn phong phú, có phẩm chất, có ý chí, có hiểu biết và đạo đức. Muốn có được một tâm hồn như thế, người trẻ phải mất biết bao công sức rèn luyện, tập tành, học hỏi, trau dồi. Và có thể nói chúng ta có rèn luyện suốt đời cũng chưa đủ như chính Đức Gioan Phaolo đã nói trong bài diễn văn trên.
Chiêm ngắm Đức Giêsu, chúng ta sẽ thấy Đức Giêsu có tất cả những điểm nổi bật về thể xác và tâm hồn của một chàng thanh niên Galilê. Chúng ta biết Đức Giêsu đã hành nghề "thợ mộc kiêm thợ nề" tại làng Nadarét. Có lẽ Ngài đã đóng bàn, ghế, giường, tủ, cửa lớn, cửa nhỏ. Có lẽ Ngài đã dựng nhà, đã xây tường, trát vách và sửa chữa các đồ vật trong nhà cho dân làng. Ngài là một người thợ khỏe mạnh, đó là điều chắc chắn! Sau này trong đời sống công khai Rao Giảng Nước Trời, Ngài đã sống nay đây mai đó, có lúc đã ngủ đường ngủ bụi, có lúc đã phải chịu đói chịu khát, nhất là trong thời gian 40 ngày ăn chay cầu nguyện và chịu sa tan cám dỗ trong hoang địa. Rồi cuối cùng trong cuộc tử nạn, chúng ta thấy rõ Đức Giêsu có một sức khỏe dẻo dai, kiên cường chịu đựng sự đánh đập tra tấn dã man của người Do Thái và lính Roma. Rồi Ngài đã phải tự vác khúc cây thập tự giá lên Núi Sọ bên ngoài thành Giêsusalem để chịu người ta đóng đinh chân tay vào cây gỗ ấy. Ngài đã bị treo lên và Ngài đã nhanh chóng tắt thở dưới sức nặng của thân xác kéo ghì Ngài xuống.
Bên trong thân thể cường tráng khỏe mạnh ấy, chúng ta khám phá ra tâm hồn tuyệt diệu của Đức Giêsu. Ngài có một nhân cách không ai chê trách vào đâu được. Ngài có một đời sống tình cảm chan chứa, dạt dào, đồng cảm với mọi người nhất là với những người khốn khổ trong xã hội. Nhưng Ngài cũng rất quân bình trong tình cảm, không bao giờ mềm yếu. Đức Giêsu còn thể hiện một ý chí sắt đá kiên cường, không nản chí trước khó khăn, thử thách, phản bội; không chùn bước trước chống đối, xua đuổi của người đời; luôn kiên quyết theo đuổi mục tiêu mà Chúa Cha đã đặt ra cho Ngài. Ngài đã không theo học tại các trường nổi tiếng với các giáo sư danh giá thời bấy giờ nhưng Ngài có một hiểu biết rộng rãi uyên thâm. Thật ra Ngài chẳng thua kém ai: Các bậc thông thái và các bậc thày của Israel đều phải bái phục Ngài và dân chúng thì hết sức ngưỡng mộ, kính phục Ngài (Mt 4, 23-25).
b.- Rèn luyện và trưởng thành về tâm linh tức về mối quan hệ với Thiên Chúa.
Rèn luyện và trưởng thành về mặt tâm linh cũng là điều hết sức quan trọng đối với người trẻ chúng ta. Vì ngoài thế giới hữu hình mà ai nấy đều nhìn thấy, chúng ta còn có một thế giới siêu hình mà chúng ta đang sống, đang ngụp lặn trong đó. Đó là thế giới của Thiên Chúa, thế giới của những gía trị bất tử, thế giới của Niềm Tin, của đời sống thiêng liêng, đời sống cầu nguyện, thế giới của mối tương quan của chúng ta với Đức Giêsu, với Thiên Chúa. Con người, nhất là người trẻ, luôn khát khao và tìm kiếm thế giới ấy. Dù rằng trong lịch sử các dân tộc, không thiếu gì lần, không thiếu gì lớp người, không thiếu gì chế độ đã tìm mọi cách để bôi nhọ, chế diễu, để chối bỏ, khước từ thế giới ấy, nhưng không phải vì thế mà thế giới của Thiên Chúa mai một đi, vì chưng nếu Thiên Chúa là Đấng Hằng Sống thì thế giới của Ngài cũng luôn luôn hiện hữu giữa loài người, trong tâm hồn mọi người.
Chúng ta hãy nhìn vào Đức Giê-su để xem Ngài sống với Cha Ngài như thế nào, để xem Ngài coi trọng sứ mạng của Cha giao là Loan Báo Tin Mừng như thế nào và để xem Ngài coi trọng các gía trị vĩnh hằng như thế nào để chúng ta noi theo bắt chước. Trước hết chúng ta hãy chiêm ngưỡng Đức Giêsu sống với Cha Ngài trong tư cách làm con, một người con hết sức hiếu thảo. Có thể nói Đức Giê-su đã sống hết mình, hết tình, hết nghĩa với Cha. Câu nói đầu tiên thoát ra từ miệng Đức Giê-su là câu nói về Chúa Cha: "Sao cha mẹ lại tìm con? Cha mẹ không biết là con có bổn phận ở nhà của Cha con sao?"(Lc 2,49). Ở nhà của Cha có nghĩa là lo toan các công việc của Cha. Câu nói cuối cùng của Đức Giêsu trên Thập giá trước khi chết cũng là câu nói với Cha: "Lạy Cha, con xin phó thác linh hồn con trong tay Cha" (Lc 23, 46). Bằng cách đặt lời nói đầu tiên và lời nói cuối cùng của Đức Giêsu đều liên quan tới Chúa Cha, Thánh Luca muốn nói với thiên hạ rằng: Đức Giêsu hết lòng, hết ý hết tình, hết sức với Cha. Thật vậy Đức Giêsu chỉ bận tâm về có một việc duy nhất là thi hành, là thực thi Ý Muốn của Cha, Đấng đã sai Người đến trần gian:
"Lương thực của Thầy
là thi hành Ý Muốn của Đấng đã sai Thầy,
và hoàn tất công trình của Người”"(Ga 4, 34)
Thứ đến chúng ta thấy Đức Giêsu vì lo thi hành Ý Muốn của Cha, hoàn thành công trình của Cha, nên Ngài đã làm nhiều việc, đã dùng nhiều cách nhằm mặc khải về Cha cho các môn đệ và loài người chúng ta (đọc phép lạ hóa bánh ra nhiều, chữa người mù từ khi mới sinh, làm cho kẻ chết sống lại... và các dụ ngôn yến tiệc, chiên bị lạc, đồng tiền bị mất người con hoang đàng...).
Rồi chúng ta còn thấy Đức Giêsu quan tâm đến việc dạy các môn đệ và chúng ta biết cách sống với Cha giống như cách Ngài đã sống với Cha. Phúc Âm kể lại rất nhiều lần Đức Giêsu hoặc thức khuya, hoặc dạy sớm để có những khoảnh khắc sống riêng với một mình Cha trong thiên nhiên, bên bờ hồ, trên ngọn núi, bên sườn đồi. Chúng ta không biết (vì Phúc Âm không đề cập) trong những phút giây thân mật ấy, Đức Giêsu nói gì với Cha và Cha nói gì với Ngài. Nhưng nhờ những điều Phúc Âm cho chúng ta biết, chúng ta có thể hiểu được phần nào mối tương quan mật thiết, gắn bó giữa Chúa Cha và Chúa Con. Phúc Âm cho ta biết vào những thời điểm quan trọng (trước khi thực hiện một phép lạ cứu người, trước lúc chọn 12 tông đồ trong số các môn đệ theo Ngài, trước lúc bước vào cuộc khổ nạn, trước khi tắt thở trên thập giá) Đức Giêsu đều có những phút giây, những lời cầu nguyện đặc biệt với Cha, thể hiện một mối tương quan khắng khít, chặt chẽ với Cha, Đấng luôn Hiện Diện (nhưng Vô Hình) bên Ngài.
Chúng ta còn thấy Đức Giêsu dạy các môn đệ biết cách cầu nguyện đẹp lòng Thiên Chúa Cha: Chỉ cần đọc những lời căn dặn của Đức Giêsu về cầu nguyện (Mt 6, 5-7) và đọc chính Kinh Lạy Cha mà Đức Giêsu đã dạy các môn đệ (Mt 6, 9-13) là chúng ta biết chúng ta phải cầu nguyện như thế nào, phải ưu tiên quan tâm tới những gì có liên quan tới Thiên Chúa là Thánh Danh, Thánh Ý và Triều Đại của Thiên Chúa, trước khi chúng ta lo lắng cho các nhu cầu chính đáng về phần xác (lương thực hàng ngày dùng đủ) và phần hồn (xin tha tội cho chúng con, xin đừng để chúng con sa chước cám dỗ, nhưng cứu chúng con cho khỏi sự dữ) của chúng ta.
Điều cuối cùng phải nói lên ở đây là: nếu chúng ta muốn phát triển đời sống tâm linh thì chúng ta không thể coi thường việc học hỏi về Giáo Lý, Thánh Kinh, Công Đồng, Thần Học được. Chúng ta cũng không thể coi thường các sinh hoạt giới trẻ hay hội đoàn, các buổi linh thao hay tĩnh tâm. Việc học hỏi với những người chuyên môn, việc gặp gỡ trao đổi kinh nghiệm giữa các bạn trẻ với nhau, việc sống những ngày cầu nguyện, suy nghĩ, kiểm điểm đời sống sẽ giúp cho đời sống tâm linh của chúng ta mỗi ngày thêm phong phú. Cũng như thân xác cần có của ăn "có chất lượng" để lớn mạnh, tâm hồn chúng ta cũng cần được bồi dưỡng bằng những của ăn tinh thần "có chất lượng cao". Chúng ta chỉ có món ăn tinh thần ấy khi chúng ta tham dự các khóa học hỏi, các buổi sinh hoạt, cầu nguyện hay khi chúng ta đọc báo, đọc sách Đạo. Rất tiếc là phần đông các bạn trẻ không hay chưa quan tâm đến những phương thế cần thiết ấy.
c. Rèn luyện và trưởng thành về các mối quan hệ xã hội:
Con người là con vật có tính xã hội rất cao. Con người không thể sinh ra, lớn lên, phát triển và trưởng thành nếu như không có tình thương và sự hỗ trợ muôn mặt của người khác, của xã hội. Có thể nói những tương quan xã hội là một phần cuộc sống của con người. Càng có nhiều mối quan hệ xã hội, cuộc sống của chúng ta càng thêm phong phú. Các mối quan hệ xã hội của chúng ta càng tốt, cuộc sống của chúng ta càng thêm đạo đức tốt lành. Các tương quan xã hội tốt là các tương quan được xây dựng trên các giá trị yêu thương, tôn trọng, hài hòa, san sẻ, giúp đỡ, bù đắp bổ túc cho nhau, vô vị lợi và biết hy sinh quên mình. Vì thế ngay từ khi còn trẻ, chúng ta cần rèn luyện cho mình "tinh thần kính trên nhường dưới", "tôn trọng người khác và tôn trọng của công", "tương thân tương ái với mọi người" cũng như "tinh thần trách nhiệm" trong lời ăn, tiếng nói, hành động của mình. Làm sao để được mọi người chung quanh yêu mến, quí trọng. Đó cũng là chìa khóa của thành công trên đường đời và là con đường Loan báo Tin Mừng hữu hiệu nhất, tự nhiên nhất.
Đức Giêsu là một con người " kiểu mẫu " về các mối tương quan xã hội. Qua Phúc Âm chúng ta thấy Đức Giêsu có mối quan hệ tốt đẹp với tất cả mọi thành phần xã hội, nhất là với thành phần thấp kém. Ngài chỉ có thái độ gay gắt với một hạng người mà thôi: đó là với các Biệt Phái và Kinh Sư. Chúng ta nhớ rất rõ những gì Thánh Matthêu đã ghi lại trong chương 23 sách Phúc Âm thứ nhất. Nhưng các nhà chú giải Thánh Kinh ngày nay cho rằng những lời kết án gay gắt - với những "khốn cho các ngươi" ấy - phản ánh thái độ đối nghịch giữa cộng đoàn tín hữu đầu tiên và người Do Thái cuối thế kỷ thứ nhất hơn là phản ánh sự xung khắc giữa Đức Giêsu và những người Pharisêu đương thời của Ngài. Thật vậy, Phúc Âm Matthêu được viết vào lúc cộng đoàn Matthêu bị người Do Thái bách hại dữ dội. Vì thế cho nên trong Mt 23 đã có những lời hết sức gay gắt, quyết liệt với các hạng người Pharisêu và Kinh Sư. Thực ra Phúc Âm cho thấy Đức Giêsu là một con người rất dễ gần gũi, không thành kiến, không tự cao tự đại, không xa cách, không hách dịch, ai cũng có thể đến gần Ngài. Đức Giêsu rất dễ hoà nhập với những người chung quanh kể cả với hạng người bị người Do Thái nguyền rủa, đến nỗi người ta đặt cho Ngài một biệt danh là "bạn của phường tội lỗi" hay một biệt danh khác là "kẻ hay ăn uống với bọn thu thuế".
d. Rèn luyện và trưởng thành về sự khôn ngoan:
Ba lãnh vực thể xác, tâm linh và quan hệ xã hội trên là ba yếu tố trọng yếu của một cuộc sống, của một con người. Nhưng như thế vẫn chưa đủ. Người trẻ còn cần phải phát triển về sự khôn ngoan, sự khôn ngoan của những người con Chúa (Vua Salomon trong Cựu Ước chẳng xin Thiên Chúa điều gì khác ngoài ơn khôn ngoan). Sự khôn ngoan bao giờ cũng cần thiết cho chúng ta để chúng ta nhận chân giá trị sự việc và con người. Và là điều cần thiết nhất cho cuộc sống của mọi người. Vì thế Phúc Âm Luca khi nói về sự trưởng thành của Đức Giêsu đã đặt sự khôn ngoan trước các lãnh vực khác. Nhất là vào thời buổi nhiễu nhương lộn xộn như bối cảnh xã hội Việt Nam chúng ta hiện nay, thực hư lẫn lộn, xấu tốt không biết đâu mà phân biệt... thì chúng ta lại càng cần đến sự khôn ngoan, để chúng ta biết phán đoán sự việc. Phán đoán hay lượng giá không phải theo số đông, theo phong trào, theo mốt thời thượng của người đời, mà theo giá trị đích thực của các sự vật và con người. Sự khôn ngoan sẽ giúp các bạn trẻ phân biệt được chân/giả, thực/hư, tốt/xấu mà chọn lựa đúng và hành động đúng trong mọi tình huống cuộc đời. Nhất là trong những lúc bị xúi giục, dụ dỗ ngon ngọt bởi xác thịt, thế gian hay ma quỉ, người trẻ càng cần có sự khôn ngoan để khước từ cám dỗ, chống trả kẻ thù và đứng vững trên lập trường kiên định của mình. Chúng ta gọi sự khôn ngoan ấy là sự khôn ngoan của các con cái Thiên Chúa. Ở vào tuổi nào, thì con người cần có sự khôn ngoan của tuổi ấy. Một thiếu nhi cần có sự khôn ngoan của thiếu nhi; một thiếu niên cần có sự khôn ngoan của thiếu niên; một thiếu nữ, một thanh niên cần có sự khôn ngoan của thiếu nữ, của thanh niên; người trưởng thành cần có sự khôn ngoan của người trưởng thành.
Nhìn vào Đức Giêsu chúng ta cũng thấy Ngài có sự khôn ngoan của con cái Thiên Chúa. Ngay khi bắt đầu đời sống công khai, Đức Giêsu đã bị ma quỉ cám dỗ trong hoang địa (Mt 4, 1-11). Ma quỉ chẳng những đem sự giầu sang vinh quang phú quí, quyền lực thế gian để dụ dỗ Chúa mà còn dùng cả lời Kinh Thánh để thuyết phục Chúa. Nhưng nhờ khôn ngoan mà Đức Giêsu đã đánh bại và xua đuổi được Sa tan, chọn lựa con đường và cung cách sống phù hợp với thánh Ý Thiên Chúa. Sau này Đức Giêsu bị các địch thủ gài bẫy nhiều lần, nhiều cách khác nhau: ví dụ về việc nộp thuế cho chính quyền (Mt 22, 15-22), về cách đối xử với người phụ nữ bị bắt quả tang phạm tội ngoại tình (Ga 8, 1-11). Nhưng nhờ khôn ngoan mà Ngài đã thoát khỏi các cạm bẫy do kẻ thù giăng ra, một cách dễ dàng và an toàn.
Chúng ta còn thấy chính tông đồ trưởng Phêrô can dán Đức Giêsu đừng đi vào con đường thập giá (Mc 8, 32-33). Rồi cả đám đông dân chúng âm mưu đưa Ngài lên làm Vua (Ga 6, 14-15), ép Ngài nhận đóng vai một Mêsia chính trị, cứu độ bằng con đường bạo lực thay vì bằng tình yêu và theo chủ trương giải phóng chính trị trần thế thay cho chủ trương giải phóng toàn diện con người, mà điểm thâm sâu nhất là giải phóng con người khỏi tội lỗi. Đức Giêsu đã không nghe theo lời can dán của Phêrô. Ngài cũng không nghe theo sự xúi giục của đám đông dân chúng. Ngài đã khôn ngoan chọn con đường, cách sống đẹp lòng Thiên Chúa và kiên định trong chọn lựa của mình.
2. Tuổi trẻ là thời gian gặp gỡ Đức Giêsu Kitô, gặp gỡ Thiên Chúa.
2.1 Phúc Âm kể lại gì về các cuộc gặp gỡ với Đức Giêsu?
Bốn Phúc Âm đã tường thuật lại rất nhiều cuộc gặp gỡ giữa Đức Giêsu và các hạng người khác nhau trong xã hội. Cuộc gặp gỡ nào cũng đem lại cho những người trong cuộc một điều gì tốt lành. Một vài ví dụ: Người phong cùi được hết cùi (Mt 8, 1-4), người đầy tớ của ông đại đội trưởng thành Carphanaum hết bại liệt (Mt 8, 5-13), bà mẹ vợ ông Phêrô hết sốt (Mt 8, 14-15), nhiều người bị quỉ ám được chữa lành (Mt 8,16-17. 28-34). Nhưng Đức Giêsu không chỉ chữa lành khỏi các bệnh tật thể xác, mà còn ban ơn soi sáng, hoán cải cho những người gặp Ngài: Nicôđêmô (Ga 3,1-21), người phụ nữ Samari (Ga 4, 1-42), Maria và Macta (Lc 10, 38-42; Ga 11, 1-44) Giakêu (Lc 19, 1-10), hoặc các môn đệ trên đường Emmaus (Lc 24, 13-35) đều là những người đã nhận được những hồng ân lớn lao từ các cuộc gặp Đức Giêsu. Nếu có thời gian, chúng ta nên đọc lại từng câu chuyện một và đặt mình vào trong bối cảnh của Tin Mừng, hoặc bằng cách nhận một vai trong các nhân vật của câu chuyện, hoặc đứng quan sát và rút ra những kết luận cho mình.
2.2 Người trẻ có thể tìm gặp Chúa ở đâu?
Nhưng ngày nay chúng ta không có "diễm phúc" được gặp Đức Giêsu bằng xương bằng thịt như các người Israel sống đồng thời với Ngài. Vậy câu hỏi đầu tiên mà chúng ta có thể đặt ra là: "Chúng ta có thể gặp được Đức Giêsu không và phải tìm gặp Ngài ở đâu?". Chúng ta tin Đức Giêsu là Thiên Chúa và tin Ngài đã phục sinh từ cõi chết và Ngài luôn hiện diện bên chúng ta như lời Ngài đã hứa: "Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế" (Mt 28, 20).Vì thế cho nên chúng ta vẫn có thể gặp Ngài. Vấn đề chỉ là chúng ta cần biết Ngài có mặt ở đâu để chúng ta tìm đến với Ngài mà thôi. Theo giáo lý công giáo dạy thì chúng ta chúng ta có thể gặp Đức Giêsu ở nhiều nơi nhiều chỗ, chẳng hạn:
* Chúng ta có thể gặp Đức Giêsu trong cuôc sống, trong môi trường sinh hoạt gia đình, học đường, lao động của chúng ta.
* Chúng ta có thể gặp Đức Giêsu trong nhóm sinh hoạt, trong cộng đoàn Giáo xứ. Lời Ngài đã nói: "Khi hai ba người họp nhau lại vì danh Ta, thì có Ta ở đó".
* Chúng ta có thể gặp Đức Giêsu trong tha nhân, nhất là trong các người nghèo, vì họ là tạo vật được Thiên Chúa tạo dựng theo hình ảnh Ngài, giống như Ngài và vì Đức Giêsu đã đồng hóa mình với mọi con người, nhất là với những kẻ bé mọn trong xã hội (xem Mt 25).
* Chúng ta có thể gặp Đức Giêsu trong các biến cố xẩy ra trong cuộc đời cá nhân, gia đình, giáo xứ, xã hội và thế giới vì mọi sự xẩy ra đều nằm trong sự cho phép của Thiên Chúa, mọi sự đều có ích cho người yêu mến Thiên Chúa.
* Chúng ta có thể gặp Đức Giêsu trong Lời Chúa, vì đó là Lời Hằng Sống của Đấng Hẵng Sống.
* Chúng ta có thể gặp Đức Giêsu trong các Bí tích, nhất là Bí Tích Thánh Thể và Hòa Giải, là các điểm gặp gỡ đặc biệt để Chúa ban hồng ân cho con người, nuôi sống và cứu chữa con người.
2.3 Người trẻ có thể gặp Chúa khi nào?
Một câu hỏi nữa chúng ta có thể đặt ra là: "Vậy thì chúng ta có thể gặp Đức Giêsu khi nào?"- Chúng ta có thể gặp Đức Giêsu bất cứ lúc nào. Chỉ cần chúng ta "nhận thức sự hiện diện của Ngài và tự nguyện tìm đến với Ngài". Thật ra thì Đức Giêsu luôn chờ đợi chúng ta và tìm cách đến gặp chúng ta. Ngài luôn là "người có sáng kiến" và là "người đến trước" chứ không phải chúng ta. Vì thế nhiều khi chúng ta gặp được Ngài vào chính những lúc chúng ta bất ngờ nhất, những lúc chúng ta không hề chờ đợi. Nhiều người đã nhận ra Ngài khi sa ngã, thất bại, bế tắc, cùng đường... chứ khi họ thành công, hạnh phúc thì họ chẳng biết Chúa là ai, chẳng quan tâm gì tới Chúa cả.
2.4. Bằng cách nào người trẻ có thể gặp Chúa?
Câu hỏi cuối cùng được đặt ta là: "Làm cách nào chúng ta có thể gặp Đức Giêsu?" - Chúng ta có thể gặp được Đức Giêsu bằng cách ý thức sự hiện diện của Ngài, lắng nghe tiếng nói của Ngài, nhận ra dung mạo của Ngài và đáp lại lời mời gọi của Ngài bằng lòng yêu thương chân thành, bằng tình bạn gắn bó, bằng sự vâng phục thảo hiếu của một người môn đệ, của một người con.
3.Tuổi trẻ là thời gian làm chứng cho Tin Mừng.
3.1 Sứ mạng làm chứng:
"Chính anh em là chứng nhân của những điều này”"(Lc 24, 48).
"Những điều này”là những điều gì? Trong văn mạch của Phúc Âm Luca, thì "những điều này" là lời Đức Giêsu nói trước đó về cuộc tử nạn phục sinh của Ngài và về sứ mạng rao giảng Tin Mừng cho muôn dân của những kẻ tin theo Ngài:
"Có lời Kinh Thánh chép rằng: Đấng Kitô phải chịu khổ hình, rồi ngày thứ ba, từ cõi chết sống lại, và phải nhân danh Người mà rao giảng cho muôn dân, bắt đầu từ Giêrusalem, kêu gọi họ sám hối để được ơn tha tội" (Lc 24, 46-47)
3.2 Thế nào là làm chứng?
* Làm chứng là nói, là giới thiệu về một người, một biến cố mà mình biết và thuyết phục người khác tin vào lời chứng của mình, để người đó cũng tin vào người ấy, biến cố ấy như chính mình đã biết và đã tin.
* Nếu dùng ngôn ngữ của chính Đức Giêsu, thì làm chứng chính là làm muối, làm men, làm ánh sáng:
"Chính anh em làm muối cho đời. Nhưng muối mà nhạt đi, thì lấy gì muối nó cho mặn lại? Nó đã thành vô dụng, thì chỉ còn việc quăng ra ngoài cho người ta chà đạp thôi. Chính anh em là ánh sáng cho trần gian. Một thành xây trên núi không tài nào giấu được. Cũng chẳng có ai thắp đèn lên rồi lại đặt bên dưới cái thùng, nhưng đặt trên đế, và nó soi sáng cho mọi người trong nhà. Cũng vậy ánh sáng của anh em phải chiếu giãi trước mặt thiên hạ, để họ thấy những công việc anh em làm, mà tôn vinh Cha của anh em, Đấng ngự trên trời" (Mt 5,13-16).
3.3 Làm chứng về Ai, về điều gì ?
* Chúng ta làm chứng về Thiên Chúa là Đấng tạo dựng vũ trụ vạn vật, là Cha của hết mọi người, yêu thương hết mọi người. Chính vì yêu thương loài người mà Thiên Chúa đã sai Con Một đến trần gian để cứu độ chúng sinh. Người Con Một ấy là Đức Giêsu Nagiaret.
* Chúng ta làm chứng về Đức Giêsu Nadarét là Ngôi Lời Thiên Chúa nhập thể làm người, sinh bởi Đức Trinh Nữ Maria. Người đã sống, đã rao giảng Nước Thiên Chúa và đã bị người ta giết chết trên thập giá và ngày thứ ba Người đã sống lại như lời Kinh Thánh Cựu Ước và lời của chính Ngài đã báo trước.
* Chúng ta làm chứng về Giáo Hội là một cộng đoàn huynh đệ yêu thương, được Thánh Thần Thiên Chúa qui tụ, thánh hóa, hướng dẫn để tiếp nối công cuộc Loan Báo Tin Mừng và Cứu Độ chúng sinh ở mọi thời, mọi nơi.
* Chúng ta làm chứng Triều Đại Tình Thương của Thiên Chúa đã đến và đang hiện diện trong cuộc đời của chúng ta. Hễ ai tin và sống theo các giá trị của Tin Mừng: yêu thương, đoàn kết, giúp đỡ người nghèo là chúng ta sống trong Triều Đại ấy.
* Chúng ta còn làm chứng cuộc sống con người không chấm dứt với cái chết mà còn tiếp tục trong cuộc sống bất tử, vì con người có linh hồn bất tử và phải chịu trách nhiệm về những gì mình đã có và đã sống. Giữa cuộc sống đời sau và cuộc sống đời này có mối quan hệ chặt chẽ, nhân quả.
3.4 Làm chứng cho ai?
Làm chứng cho hết mọi người mà chúng ta gặp trong cuộc sống của mình hay chúng ta tiếp cận được bằng cách này hay cách khác. Trước tiên là cho những người thân thiết, gần gũi với chúng ta trong gia đình, bạn bè, giáo xứ rồi đến những người cùng môi trường sinh sống làm việc với chúng ta. Trong các phương pháp tông đồ, có một cách rất hiệu quả mà người ta gọi là "đồng đẳng", có nghĩa là người giới nào thì làm chứng cho người giới ấy: học sinh-sinh viên thì loan báo Tin Mừng cho học sinh-sinh viên; công nhân lao động thì loan báo Tin Mừng cho công nhân, lao động; giáo viên công chức thì loan báo Tin Mừng cho giáo viên công chức; trí thức thì loan báo Tin Mừng cho trí thức. Nếu chúng ta có lòng nhiệt thành với việc loan báo Tin Mừng thì chúng ta còn phải làm chứng cho cả những người ở rất xa và thậm chí cả những người thù ghét, ám hại chúng ta (xa về mặt không gian cũng như xa về mặt tâm thức). Vì thế cho nên chúng ta không ngại tiếp cận với bất cứ ai. Chẳng những chúng ta nên tận dụng mọi cơ hội, mà chúng ta còn phải tự tạo ra cơ hội để có thể làm chứng cho Tin Mừng Cứu Độ, phải len lỏi vào mọi môi trường xã hội để có mặt và sống Tin Mừng tại đó, hầu tạo dịp cho người khác tìm hiểu và yêu mến Đạo Chúa và Chúa.
3.5 Làm chứng bằng cách nào?
* Bằng tư tưởng, lời nói, chữ viết, thái độ, cử chỉ, hành động, và cách sống.
* Muốn lời chứng của chúng ta được đón nhận (có tính khả tín) chúng ta cần có xác tín về những gì chúng ta làm chứng. Nghĩa là chúng ta cần có mối quan hệ gắn bó mật thiết với Đức Giêsu Kitô và với cuộc sống của Ngài. Mối quan hệ ấy chẳng những sẽ giúp lời chứng của chúng ta dễ được người ta đón nhận, mà còn giúp chúng ta vượt qua thử thách, khó khăn và cả thập giá.
* Thông thường việc làm chứng đòi chúng ta phải chiụ mất mát, hy sinh, thiệt thòi rất nhiều: về công sức, thời gian, tiền của, thanh danh, thậm chí cả mạng sống của mình như chính Đức Giêsu và các ngôn sứ của Cựu Ước cũng như của thời hiện đại.3.6 Làm chứng khi nào? Thánh Phaolô đã xác định trong bất cứ hoàn cảnh nào chúng ta cũng phải làm chứng: "trong lúc thuận lợi cũng như trong lúc khó khăn". Chúng ta không thể hình dung một tông đồ chỉ hoạt động khi hội đủ mọi điều kiện thuận lợi. Ngay cả những khi chúng ta thấy bế tắc tuyệt vọng nhất, chúng ta cũng cần phải sống tư cách chứng nhân. Trong thời gian đất nước vừa mới hết chiến tranh, giữa một bối cảnh xã hội đầy kỳ thị, thành kiến... có một số người đã không dám tỏ ra mình là người công giáo, không dám khai mình là người có đạo, vì sợ bị "làm khó", bị thiệt thòi trong công ăn việc làm. Điều đó cũng dễ hiểu. Nhưng chắc chắn nếu những người tín hữu kia có lòng tin xác tín hơn, phó thác hơn, kiên cường hơn để làm chứng cho Niềm Tin của mình thì vẫn hay hơn. Một trong những yếu tố tạo nên thay đổi trong bầu khí xã hội chúng ta, chính là các chứng tá sinh động của nhiều người có đạo, giáo dân có, tu sĩ nam nữ có, khiến thành kiến hiểu lầm dần dần tan biến nhường chỗ cho sự quí trọng và nhìn nhận.
Kết luận
Giới trẻ là tương lai của xã hội và Giáo Hội Việt Nam. Trách nhiệm của các bạn trẻ nặng nề và vinh quang biết bao! Cả xã hội và Giáo Hội đang chờ đợi các bạn, đang kỳ vọng ở các bạn. Trước thềm thế kỷ 21, biết bao việc cần và phải làm, cả từ phía xã hội và Giáo Hội, cả từ phía chính bản thân các bạn trẻ. Một đàng các bạn trẻ có quyền trông đợi, thậm chí đòi hỏi ở xã hội và Giáo Hội những đầu tư cân xứng cho công cuộc giáo dục đào tạo. Nhưng giả như xã hội và Giáo Hội có đầu tư cho chúng ta mà chúng ta không biết nắm bắt, không biết tận dụng, thì những đầu tư tốn kém kia cũng chẳng đem lại ích lợi gì cho chúng ta. Đàng khác chúng ta phải tự mình vượt qua những khó khăn, thiếu thốn của hiện tại, với óc sáng tạo, với ý chí quyết thắng của người trẻ thì chúng ta mới bắt kịp nhịp sống của thời đại và mới đáp lại cách tương xứng lời mời gọi của Thiên Chúa, của Giáo Hội, của con người thời nay và ngày mai. Chúc các bạn trẻ thành công trong việc rèn luyện và trưởng thành, trong đời sống thân mật với Đức Giêsu với Thiên Chúa và trong đời sống chứng tá của một Kitô hữu trẻ.
Trao đổi & chia sẻ
Mỗi tổ trao đổi chia sẻ với nhau về một câu hỏi sau đây. Sau đó chia sẻ lại với tất cả các bạn trẻ trong giáo xứ tham dự buổi sinh hoạt Mùa Chay này:
1. Xưa nay bạn có quan tâm rèn luyện trưởng thành trong cả bốn lãnh vực: thể xác, tâm linh, quan hệ xã hội và khôn ngoan không? Bạn quan tâm tới lãnh vực nào nhất? Tại sao?
2. Trong quá trình rèn luyện và trưởng thành về từng lãnh vực nêu trên, bạn gặp phải những khó khăn nào? Bạn giải quyết ra sao? và bằng cách nào?
3. Trong đời sống thường ngày, bạn có ý thức rằng: Chúa Giêsu Kitô luôn chờ đợi bạn ở đâu đó không? Bạn có tin rằng bạn có thể gặp được Người không?
4. Trong đời sống thường ngày, bạn đã nỗ lực tìm gặp Chúa Giêsu Kitô như thế nào? Kết quả ra sao? Từ nay trở đi bạn sẽ làm gì hơn nữa để gặp gỡ Chúa nhiều hơn, thân mật hơn?
5. Trong đời sống thường ngày bạn có quan tâm đến việc làm chứng về Chúa về Đạo Chúa cho người xung quanh không? Tại sao?
6. Trong đời sống thường ngày bạn làm chứng về Chúa về Đạo Chúa bằng cách nào? Kết quả ra sao? Bạn có thấy nhu cầu phải thay đổi cách sống, phải học hỏi thêm, phải đào sâu hơn nữa về Giáo lý, Thánh Kinh, Công đồng để có thể hoàn thành sứ mạng làm chứng không? Bạn quyết tâm làm gì?
Ngày 08 tháng 03 năm 2003