Chương trình đào tạo Tông đồ giáo dân - Khoá I.2003
Đề tài 10
Mầu nhiệm Giáo hội Công giáo
I. Tiếp cận vấn đề
Mỗi tổ thảo luận về một trong ba câu hỏi sau đây:
1.1 Nếu có người không công giáo hỏi anh chị: “Đạo Công giáo là gì?” thì anh chị sẽ trả lời người ấy thế nào?
1.2 Theo anh chị thì giữa Giáo hội Công giáo và một tôn giáo khác như Phật giáo có gì khác nhau? Do đâu mà có sự khác nhau đó?
1.3 Anh chị đã gia nhập Giáo hội Công giáo và trở nên thành viên của Giáo hội ấy khá lâu rồi (30-40-50-60 năm). Anh chị hãy nói những gì anh chị biết về Giáo hội Công giáo ấy?
II. Học hiểu giáo lý
Muốn hiểu về Giáo hội, không có cách nào hơn là chúng ta tìm hiểu Giáo lý Công đồng Vatican II về Giáo hội. Công đồng Vatican II được xem là Công đồng về Giáo hội với 16 văn kiện trình bày mọi đặc điểm và mọi hoạt động của mọi thành phần Giáo hội. Đứng đầu 16 văn kiện của Công đồng là Hiến chế tín lý về Giáo hội, còn được gọi là Hiến chế Anh sáng muôn dân (Lumen Gentium). Trong Hiến chế này, các Nghị phụ Công đồng đã lần lượt trình bày về "Mầu nhiệm Giáo hội" (Chương 1), "Dân Thiên Chúa" (Chương 2), "Tổ chức phẩm trật Giáo hội và đặc biệt về chức Giám mục" (Chương 3), "Giáo dân" (Chương 4), "Lời kêu gọi mọi người nên thánh trong Giáo hội" (Chương 5), "Tu sĩ" (Chương 6), "Đặc tính cánh chung của Giáo hội lữ hành và sự hiệp nhất với Giáo hội trên trời" (Chương 7), và "Đức Trinh nữ Maria Mẹ Thiên Chúa trong Mầu nhiệm Chúa Kitô và Giáo hội" (Chương 8).
2.1 Giáo hội là một xã hội có phẩm trật:
Giáo hội Công giáo là một tổ chức mang tính toàn cầu, nghĩa là ở khắp các quốc gia trên thế giới hiện nay, có guồng máy cai quản từ Trung Ương (gọi là Tòa Thánh Vatican) cho đến địa phương (quốc gia) và xuống tới tận hạ tầng cơ sở (giáo phận, giáo xứ).
* Đứng đầu Giáo hội là Thánh Phêrô và các Tông đồ. Người kế vị Thánh Phêrô, tông đồ trưởng là Đức Giáo hoàng và những người kế vị các Tông đồ là các Giám mục. Thánh Phêrô và các Tông đồ hợp thành Tông đồ đoàn thế nào thì Đức Giáo hoàng và các Giám mục cũng hợp thành Giám mục đoàn như thế.
* Người đứng đầu Giáo hội toàn cầu là Đức Giáo hoàng hay Giáo chủ, còn thường được gọi là Đức Thánh cha. Giúp việc Ngài có giáo triều Roma gồm các Bộ (Ví dụ các Bộ Phúc âm hóa các dân tộc, Phụng tự, Giám mục, Giáo dục Kitô giáo), các Hội đồng (Vd Hội đồng giáo hoàng về giáo dân, gia đình, công lý và hòa bình, văn hóa) các Văn phòng đặc trách (Vd Văn phòng đại kết).
* Ở cấp quốc gia có Hội đồng Giám mục toàn quốc, đứng đầu là vị chủ tịch, các phó chủ tịch, tổng thư ký và ban thường vụ. Hội đồng Giám mục có các ủy ban Giám mục (Ví dụ ủy ban Giám mục về phụng vụ, giáo lý, giáo dân, bác ái xã hội, văn hóa…) và có văn phòng giúp việc.
* Người đứng đầu giáo phận là Đức Giám mục hay Tổng Giám mục, còn thường được gọi là Đức Cha. Giúp việc Ngài có văn phòng tòa Giám mục, các hội đồng, các ban mục vụ... Như ở giáo phận Sàigòn, có hội đồng linh mục, hội đồng hạt trưởng, hội đồng mục vụ… Về các ban mục vụ giáo phận thì có ban mục vụ giới trẻ, thiếu nhi, gia đình...
* Người đứng đầu giáo xứ là linh mục chánh xứ. Giúp việc ngài có linh mục phụ tá, hội đồng mục vụ giáo xứ, các tiểu ban mục vụ, các hội đoàn...
2.2 Giáo hội là Mầu nhiệm Hiệp thông của Thiên Chúa.
(1) Giáo huấn của Công đồng Vatican II:
"Vì Giáo hội ở trong Chúa Kitô như bí tích hoặc dấu chỉ và khí cụ của sự kết hợp mật thiết với Thiên Chúa và của sự hiệp nhất toàn thể nhân loại, nên dựa trên giáo huấn của các Công đồng trước, Giáo hội muốn làm sáng tỏ bản tính và sứ mệnh phổ quát của mình cho tín hữu và toàn thế giới...(Ánh sáng muôn dân, 1).
"Bởi ý định khôn ngoan nhân lành, hoàn toàn tự do và mầu nhiệm Chúa Cha hằng hữu đã tạo dựng vũ trụ; Ngài dã quyết định nâng loài người lên tham dự đời sống thần linh, và Ngài đã không từ bỏ con người sa ngã trong Ađam, nhưng luôn ban sự trợ giúp để họ được cứu rỗi, nhờ Chúa Kitô Đấng Cứu thế, là ‘hình ảnh Thiên Chúa vô hình, Con đầu lòng của tạo vật . (Cl 1,15). Thực vậy, từ muôn thuở tất cả mọi người được tuyển chọn, Chúa Cha ‘đã biết trước và đã tiền định cho họ trở nên giống hình ảnh Con Chúa hầu người Con đó được trở nên trưởng tử trong nhiều anh em (Rm 8,29). Thế nên Chúa Cha muốn qui tụ những ai tin kính Chúa Kitô vào trong Giáo hội ".Ánh sáng muôn dân, 2).
"Như thế Giáo hội phổ quát xuất hiện như một dân tộc hiệp nhất do sư hiệp nhất giữa Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần. (Ánh sáng muôn dân, 4).
(2) Triển khai của Sách Giáo lý Hội thánh Công giáo:
"Giáo hội sống trong lịch sử, nhưng vượt trên lịch sử. Chỉ với "con mắt đức tin", chúng ta mới có thể thấy được thực tại thiêng liêng mang sức sống thần linh nơi thực tại hữu hình của Giáo hội" (Số 770). Nghĩa là:
(a) Giáo hội vừa hữu hình vừa thiêng liêng.
"Đức Kitô, Đấng trung gian duy nhất, đã thiết lập và không ngừng nâng đỡ Hội thánh luôn thánh thiện, là một cộng đồng sống đức tin, cậy mến như một cơ cấu hữu hình trên trần gian. Qua Hội thánh, Người loan truyền chân lý và ân sủng cho mọi người”. Hội thánh đồng thời là:
- Xã hội có tổ chức theo phẩm trật (1) và là Nhiệm thể Chúa Kitô (2);
- Tập họp hữu hình và cộng đoàn thiêng liêng;
- Hội thánh dưới đất và Hội thánh được trang bị những ân sủng trên trời;.
- Những chiều kích trên cấu thành một thực thể phức tạp, duy nhất, được tạo nên do hai yếu tố nhân loại và thần linh kết thành" (3) (Ánh sáng muôn dân, 8; GL HTCG, 771).
"Giáo hội Công giáo là một thực thể phức tạp duy nhất, được tạo nên do hai yếu tố nhân loại và thần linh kết thành: Giáo hội có đặc tính vừa nhân loại vừa thần linh, vừa hữu hình vừa hàm chứa những thực tại vô hình, vừa nhiệt tình hoạt động vừa chiêm niệm, vừa hiện diện trên trần gian nhưng đồng thời cũng là lữ khách. Tuy nhiên, trong Giáo hội, yếu tố nhân loại quy hướng và lệ thuộc vào yếu tố thần linh; những thực tại hữu hình quy hướng vể những thực tại vô hình; hoạt động hướng về chiêm niệm; và những gì hiện tại phải hướng về thành đô tương lai là nơi chúng ta đang tìm kiếm" (Hiến chế về Phụng vụ thánh, 2).
(b) Giáo hội - mầu nhiệm hiệp nhất giữa loài người với Thiên Chúa.
"Chính trong Giáo hội, Đức Kitô hoàn tất và mặc khải Mầu nhiệm sâu thẳm của Người như cùng đích của ý định Thiên Chúa: "thâu tóm mọi sự trong Chúa Kitô" (Ep 1,10). Sự kết hiệp giữa Đức Kitô và Hội thánh là hiền thê của Người được thánh Phaolô gọi là "Mầu nhiệm cao cả" (Ep 5,32). Vì được kết hiệp với Đức Kitô như phu quân của mình, Giáo hội đến lượt mình cũng trở thành Mầu nhiệm. Chiêm ngắm mấu nhiệm này, thánh Phaolô nói: "Đức Kitô đang ở giữa anh em, Đấng ban cho chúng ta niềm hy vọng đạt tới vinh quang".
Mục đích của Giáo hội là giúp con người hiệp thông với Thiên Chúa nhờ đức ái không bao giờ tàn tạ (x. 1 Cr 13,8); mục đích ấy chi phối tất cả những gì là phương tiện mang tính bí tích, gắn liền với thế giới đang qua đi (x. Ánh sáng muôn dân, 48; GLHTCG, 772-773).
(c) Giáo hội - bí tích phổ quát của ơn cứu độ.
"Trong Đức Kitô, Giáo hội là bí tích, nghĩa là dấu chỉ và khí cụ của sự kết hiệp mật thiết giữa con người với Thiên Chúa và của sự hiệp nhất toàn thể nhân loại”"(Anh sáng muôn dân, 8). Mục đích đầu tiên của Giáo hội là trở thành bí tích của sự kết hiệp mật thiết con người với Thiên Chúa. Vì sự hiệp thông giữa con người với nhau bắt nguồn từ sự kết hiệp với Thiên Chúa, nên Giáo hội cũng là bí tích hiệp nhất của nhân loại. Trong Giáo hội, sự hiệp nhất đó đã bắt đầu, vì Giáo hội qui tụ những người "thuộc mọi quốc gia, mọi chủng tộc, mọi dân tộc, mọi ngôn ngữ"(Kh 7,9); đồng thời, Giáo hội là “dấu chỉ và khí cụ"thực hiện trọn vẹn sự hiệp nhất còn phải đạt đến"(GLHTCG, 775).
2.3 Giáo hội là dân của Thiên Chúa.
"Chắc chắn trong mọi thời đại và mọi dân tộc, bất cứ người nào kính sợ Thiên Chúa và thực hành đức công chính đều được Ngài đoái thương (x.Cv 10,35). Tuy nhiên Thiên Chúa không muốn thánh hóa và cứu rỗi loài người cách riêng rẽ, thiếu liên kết, nhưng Ngài muốn qui tụ họ thành một dân tộc để họ nhận biết chính Ngài trong chân lý, và phụng sự Ngài trong thánh thiện. Vì thế Ngài đã chọn dân Ítraen là dân Ngài, đã thiết lập với họ một giao ước, giáo huấn họ dần dần bằng cách tỏ chính mình và ý định mình qua lịch sử dân ấy, và Ngài đã thánh hóa họ để dành riêng cho mình. Tuy nhiên, tất cả những điều ấy chỉ là chuẩn bị và hình bóng của giao ước mới và hoàn hảo, sẽ được ký kết trong Chúa Kitô và là chuẩn bị cho mạc khải trọn vẹn hơn do chính Ngôi Lời Thiên Chúa nhập thể mang đến. Thiên Chúa phán: "Này đây sẽ tới ngày Ta ký giao ước mới với nhà Ítraen và nhà Giuđa...Ta sẽ ban luật Ta trong lòng chúng, và khắc ghi luật ấy trong trái tim chúng, và Ta sẽ là Thiên Chúa của chúng, và chúng sẽ trở thành dân Ta...Tất cả mọi người từ nhỏ chí lớn đều sẽ nhận biết Ta. Đó là lời Chúa phán”"(Gr 31,31-34). Chúa Kitô đã thiết lập minh ước mới ấy, đó là giao ước mới trong máu Người (x.1 Cr 11,25). Người triệu tập dân chúng từ dân Ítraen và từ các dân ngoại họp thành một khối duy nhất trong Thánh Thần, để làm họ nên dân tộc mới của Thiên Chúa. Thực vậy, những ai tin kính Chúa Kitô đều được tái sinh...bởi nước và Thánh Thần và trở thành một dòng giống được tuyển chọn, thành hàng tư tế vương giả, dân tộc thánh, dân tộc đã được Thiên Chúa thu phục, trước kia không phải là một dân, mà nay là dân của Thiên Chúa" (1 Pr 2,9-10) (Ánh sáng muốn dân, 9).
Dân Chúa có:
* Lịch sử: Lịch sử Cứu độ,
* Giao ước: Canvê,
* Thủ lãnh: Chúa Giêsu Kitô, Đấng Mêsia (được xức dầu),
* Phẩm giá: của những người con tự do của Thiên Chúa có Chúa Thánh Thần ngự trong tâm hồn,
* Luật: Giới răn mới là "yêu thương nhau như Chúa Kitô đã yêu thương",
* Đời sống: Cầu nguyện, Phụng vụ, Bí tích và Bác ái,
* Chức năng: tư tế, ngôn sứ và vương giả (phục vụ), nhờ tham dự vào chức tư tế, ngôn sứ và vương quyền của Chúa Kitô,
* Sứ mạng: Làm muối đất và ánh sáng thế gian hay loan báo Tin mừng và xây dựng Nước Thiên Chúa nơi trần gian để mọi người được cứu. (x. Ánh sáng muôn dân, 9; GLHTCG, 782).
2.4 Giáo hội là Thân Thể mầu nhiệm của Chúa Kitô (Nhiệm thể)
"Khi đáp lại Lời Thiên Chúa và trở nên chi thể Đức Kitô, các tín hữu được kết hợp mật thiết với Người: "Trong thân thể ấy, sự sống Chúa Kitô tràn lan trên các tín hữu. Nhờ các bí tích các tín hữu được kết hợp thật sự và mầu nhiệm với Chúa Kitô đau khổ và hiển vinh" (Anh sáng muôn dân, 7). Thật vậy nhờ bí tích Thánh Tẩy, chúng ta được kết hợp với Đức Kitô trong cuộc khổ nạn và phục sinh của Người (x. Rm 6,4-5;1 Cr 12,13); và nhờ bí tích Thánh Thể, chúng ta "được thông dự vào Thân Thể của Đức Kitô", nên chúng ta được nâng lên để hiệp thông với Người và với nhau" (Ánh sáng muôn dân, 7).
"Quả thế, được dìm vào nước Thánh Tẩy để nên một với Đức Kitô, tất cả anh em được mặc lấy Đức Kitô; không còn chuyện phân biệt Do Thái hay Hy Lạp, nô lệ hay tự do, đàn ông hay đàn bà; vì tất cả anh em chỉ là một nhờ được kết hợp với Đức Kitô Giêsu" (Gl 3,27-28) (GLHTCG, 790).
2.5 Giáo hội là Đền thờ Chúa Thánh Thần
"Chính nhờ Thánh Thần của Đức Kitô như một nguyên lý tiềm ẩn, mà tất cả các phần của Thân Thể được nối kết với nhau cũng như với Đầu, vì Người hiện diện trọn vẹn nơi Đầu, trọn vẹn nơi Thân thể, trọn vẹn nơi mỗi một chi thể" (x.Piô XII, Thông điệp Thánh Thể; DS 3898) "Chúa Thánh Thần làm cho Hội thánh trở nên Đền thờ của Thiên Chúa hằng sống" (2 Cr 6,16; x. 1 Cr 3,16-17; Ep 2,21) (GLHTCG, 797).
2.6 Giáo hội là Gia đình Thiên Chúa
Các tín hữu nói chung, các tín hữu Việt Nam nói riêng, tin rằng Thiên Chúa là Cha Chung đầy yêu thương của hết mọi người, và mọi người là anh em chị em "ruột thịt" với nhau nên Giáo hội Công giáo còn được xem là Gia đình của Thiên Chúa. Vì thế mọi tín hữu phải sống thảo hiếu với Cha và bác ái huynh đệ với nhau.
III. Ứng dụng thực hành
3.1 Có một nhận thức và hiểu biết đúng đắn về Giáo hội:
(a) Là Mầu nhiệm Hiệp thông của Thiên Chúa;
(b) Là Cộng đồng Dân Chúa;
Là Nhiệm Thể Chúa Kitô
Là Gia đình Thiên Chúa;
(đ) Là một tổ chức có phẩm trật.
3.2 Cảm tạ Chúa Giêsu Kitô đã thiết lập Giáo hội và đã mời gọi chúng ta vào trong Hội Thánh ấy để chúng ta có được một cộng đoàn, một gia đình.
3.3 Vững tin vào sự bền vững và thánh thiện của Giáo hội, nhất là trong những hoàn cảnh khó khăn, thử thách, bị bách hại và sa sút tinh thần hay lòng đạo.
3.4 Tích cực tham gia vào đời sống (cầu nguyện, phụng vụ, bí tích, bác ái và phục vu) & sứ mạng của Giáo hội (loan báo Tin mừng cho muôn dân và xây dựng Nước Thiên Chúa trong thế giới chúng ta đang sống) nhằm chu toàn bổn phận của một thành viên hiếu thảo và trưởng thành của Giáo hội.
IV. Trao đổi chia sẻ
4.1 Đại đa số giáo dân Việt Nam đều hết lòng yêu mến Giáo hội. Họ thể hiện lòng yêu mến và gắn bó ấy bằng nhiều cách khác nhau, anh chị hãy mô tả những cách thể hiện ấy.
4.2 Trong những cách thể hiện ấy, anh chị ưng ý với cách nào nhất, tại sao?
V. Cầu nguyện
5.1 Cho Giáo hội toàn cầu nói chung và Giáo hội Việt Nam nói riêng biết sống đúng với các chức năng, tính cách và trách nhiệm của mình.
5.2 Cho giáo dân của giáo xứ biết hết lòng yêu mến giáo xứ và tích cực xây dựng giáo xứ thành cộng đoàn như Chúa muốn.
VI. Quyết tâm cá nhân và cộng đoàn
6.1 Củng cố và nâng cao sự hiểu biết và lòng yêu mến Giáo hội.
6.2 Tích cực cộng tác với mọi người nhằm xây dựng Giáo hội Việt Nam, giáo phận và giáo xứ của mình.
6.3 Siêng năng cầu nguyện cho Giáo hội Việt Nam, cho giáo phận và giáo xứ của mình và cho mọi thành phần Dân Chúa.
Ngày 12 tháng 02 năm 2003