Đề tài suy nghĩ & cầu nguyện Mùa Chay 2003
của Giáo lý viên



Thực thi sứ vụ giảng dạy giáo lý
trong nền kinh tế thị trường



Nhập đề

Có lẽ từ trước đến nay, chưa bao giờ công việc dạy giáo lý của Giáo hội Việt Nam gặp nhiều thuận lợi và khó khăn như hiện nay. Có nhiều thuận lợi như: (1) Có rất nhiều giáo dân nam nữ, già trẻ đã ý thức và tích cực tham gia công việc quan trọng này. (2) Sách vở tài liệu tương đối đầy đủ hơn trước. (3) Một phần giáo lý viên được đào tạo về Giáo lý và về sư phạm, giúp họ có một hành trang cần thiết cho công tác được giao. Còn khó khăn thì cũng nhiều chủ yếu là do ảnh hưởng của nền kinh tế thị trường mà nhiều người đã tỏ ra thờ ơ với đời sống tâm linh nói chung và với việc học giáo lý nói riêng.

Nhưng dù có thuận lợi hay khó khăn thì việc dạy giáo lý vẫn là vấn đề quan trọng có tính sống còn của Giáo hội. Có thể nói càng khó khăn, Giáo hội càng phải ra sức chu toàn trách nhiệm và sứ mạng Thiên Chúa giao cho. Là giáo lý viên, chúng ta cần nhìn lại vấn đề một cách tường tận, để có định hướng rõ rệt và dấn thân tích cực và thích hợp hơn trong thời gian tới.

Câu hỏi gợi ý suy nghĩ

Tôi xin được nêu lên ba câu hỏi để giúp các anh chị Giáo lý viên suy nghĩ. Ba câu hỏi cũng là ba phần của bài chia sẻ của tôi.
1. Nền kinh tế trị trường có những đặc điểm gì?
2. Nền kinh tế thị trường tác động như thế nào trên đời sống người Việt Nam nói chung và người Công giáo nói riêng?
3. Các Giáo lý viên phải làm gì để thực thi Sứ vụ Giảng dạy Giáo lý trong nền kinh tế thị trường?

Trình bày

I. Một vài đặc điểm của nền kinh tế thị trường

Chúng ta không phải là những nhà kinh tế, nên những gì chúng ta trao đổi chia sẻ với nhau ở đây về nền kinh tế thị trường, không mang tính chuyên môn mà chỉ là những cảm nhận mà một người dân bình thường nào cũng có thể có được. Chúng ta cũng không phê phán nền kinh tế thị trường ấy, tự nó, tốt hay xấu, mà chỉ quan tâm đến những gì mà nền kinh tế ấy tác động trên đời sống con người nói chung và trên đời sống gia đình nói riêng, trên gia đình Việt Nam nói chung và trên gia đình Công giáo nói riêng. Sau đây là một số nét "đặc trưng" của nền kinh tế thị trường:

(1) Nền kinh tế thị trường xây dựng trên tự do mậu dịch và kinh tế đa thành phần: Trước khi theo đuổi chính sách đổi mới thì nền kinh tế Việt Nam chỉ có kinh tế quốc doanh và tập thể (hợp tác xã), còn kinh tế cá thể không quan trọng. Nay nền kinh tế của chúng ta đã và đang là nền kinh tế thị trường nên chẳng những có quốc doanh, tư doanh, công tư hợp doanh, mà còn có cả đầu tư vốn nước ngoài (một phần hay toàn phần) và thành phần kinh tế cá thể trở nên rất quan trọng.

(2) Qui luật của nền kinh tế thị trường là cạnh tranh: tự do mậu dịch sẽ dẫn tới tự do cạnh tranh. Có cạnh tranh thì chất lượng hàng mới tốt, giá thành mới rẻ, người tiêu dùng mới hưởng lợi nhiều ("khách hàng là thượng đế"). Nhưng tự do cạnh tranh sẽ dễ dàng dẫn tới cảnh "cá lớn nuốt cá bé" và phát sinh cạnh tranh "không lành mạnh", bằng cách lừa đảo hoặc cấu kết với nhau để đè bẹp, tiêu diệt kẻ khác để trục lợi nhiều hơn hay để độc quyền hưởng lợi (Vụ Năm Cam đang được tòa án xét xử là một thí dụ sinh động).

(3) Mục đích của kinh tế thị trường là lợi nhuận: và càng nhiều lợi nhuận càng tốt... Lợi nhuận là động cơ thúc đẩy mọi người, mọi tổ chức lao động, sáng tạo, cạnh tranh không biết mệt mỏi.

(4) Giá trị của nền kinh tế thị trường là đồng tiền: Đồng tiền là vua, là chúa, là tất cả hay như cách người ta thường nói bây giờ: "đồng tiền là tiên, là phật, là sức bật của tuổi trẻ, là sức khỏe của tuổi già, là đà thăng tiến xã hội..." Người ta đánh giá con người qua đồng tiền mà người ấy kiếm được chứ không phải trên phẩm chất cuộc sống của người ấy. Người ta coi trọng "to have" hơn "to be" nghĩa là coi trọng cái người ta có hơn điều người ta là.

(5) Kết quả của kinh tế thị trường là đời sống vật chất tinh thần của một bộ phận dân chúng được cải thiện và nâng cao, nhưng lại làm cho đời sống của một bộ phận khác trở nên tồi tệ gấp bội. Hố ngăn cách giữa người giầu và người nghèo, giữa nước giầu và nước nghèo càng ngày càng lớn: giầu thì càng giầu thêm, nghèo thì càng nghèo đi. Thống kê về hố ngăn cách giầu nghèo trên thế giới cho thấy: Vào năm 1820, sự cách biệt về thu nhập giữa 20% giầu nhất với 20% nghèo nhất nhân loại là 3 lần, đến năm 1870 sự cách biệt nói trên là 7 lần và đến năm 1913 lên tới 11 lần. Vào năm 1960 khoảng cách giầu nghèo nói trên lên tới 30 lần. Với tiến trình toàn cầu hóa, hố phân cánh này càng sâu thẳm: năm 1990 nhẩy vọt lên 60 lần, năm 1997 là 74 lần và vẫn tiếp tục nâng cao hơn mỗi năm. Trong xã hội Việt Nam chúng ta, hố ngăn cách giữa người giầu và người nghèo, giữa thành thị và nông thôn cũng rất rõ rệt. Người ta thường nói "có tiền là có quyền và có quyền là có tiền." (Vụ Năm Cam).

II. Tác động của nền kinh tế thị trường trên đời sống người Việt Nam nói chung và người Công giáo nói riêng.

Chúng ta có thể liệt kê những tác động đáng kể sau đây:

(1) Đồng tiền là đối tượng sát sườn gần gũi nhất và quan trọng nhất mà mọi người nhắm tới: Cả một guồng máy sản xuất hàng hóa, dịch vụ nhằm phục vụ con người cách tốt nhất, nhanh nhất và rẻ nhất. Nhưng để có được các sản phẩm hay dịch vụ tốt nhất, nhanh nhất và rẻ nhất người ta phải có tiền. Có tiền là có tất cả. Ngày xưa người ta nói: "Có tiền mua tiên cũng được". Ngày nay người ta nói: "Đồng tiền là tiên, là phật, là sức bật của tuổi trẻ, là sức khỏe của tuổi già, là đà thăng tiến xã hội ...". Không có tiền thì chẳng có gì hết! Xã hội là một nhà máy khổng lồ: sản xuất và cung cấp mọi sản phẩm và dịch vụ. Đồng thời cũng là một thị trường tiêu thụ khổng lồ: tiêu thụ mọi sản phẩm và thụ hưởng mọi dịch vụ. Thậm chí người ta sản xuất cả những sản phẩm không cần thiết và cung cấp cả những dịch vụ tội lỗi, miễn sao thu được nhiều tiền.

(2) Các giá trị vật chất lên ngôi lấn áp và thay thế các giá trị đạo đức: Vật chất được quan tâm và đề cao quá mức thì đạo đức và tâm linh sẽ bị lãng quên, bị coi thường. Nhất là khi vật chất là những gì sờ mó, cảm nhận, thụ hưởng ngay được, còn đạo đức, tâm linh là những giá trị vô hình, không sờ mó, cảm nhận được bằng giác quan! Dần dần con người đi đến chỗ sống một cách vô thần…. không còn tin Thiên Chúa nữa, không dành cho Thiên Chúa một vị trí, vai trò gì trong cuộc sống cá nhân và gia đình, xã hội…nữa. Khi đã loại được Thiên Chúa ra khỏi tâm hồn và cuộc sống của mình rồi thì con người sẽ sống theo sự thúc đẩy của bản năng thấp hèn. Đời sống xã hội sẽ đầy ắp tội ác: chiến tranh, hận thù, mãi dâm, buôn bán phụ nữ và trẻ em, ma túy…
(3) Con người quá bận rộn không còn thời gian dành cho nhau và dành cho việc trau dồi tâm linh như trước nữa. Cuộc sống chạy theo cơm áo gạo tiền khiến mọi người đều bận rộn, "đầu tắt mặt tối" không còn thời gian để sống, để thở nữa. Người trẻ thì học hành, thi cử, vui chơi giải trí! Người lớn thì lao động kiếm tiền, hưởng thụ cuộc đời! Đúng như phương châm: "Làm ngày không đủ, tranh thủ làm đêm, làm thêm chủ nhật". Con người sống bên cạnh nhau, nhưng sống hời hợt và ích kỷ, không có mối hiệp thông sâu sắc giữa người với người, không quan tâm tới nhau, không biết tâm tư nguyện vọng của nhau, không chia sẻ với nhau nữa: mỗi người sống đóng kín trong thế giới riêng của mình.

(4) Con người, nhất là giới trẻ, chạy theo lốỉ sống thực dụng: Vì chạy theo vật chất và tiện nghi trong một thế giới chụp giật: nhanh tay nhanh chân thì có phần, chậm tay chậm chân thì không có gì hết, nên con người chỉ coi trọng những kết quả trước mắt, tức thì. Đó là lối sống thực dụng: điều gì có lợi cho tôi là điều tốt, điều gì không có lợi cho tôi là điều xấu. Có lợi theo nghĩa là có lợi vật chất, trước mắt, ngay lập tức. Các mối quan hệ gia đình, bạn bè cũng dần dần phai nhạt tính vô tư, tình nghĩa và mang dần nét vụ lợi, tính toán.

III. Các phương thế cụ thể và thiết thực giúp giáo lý viên thực thi sứ vụ giảng dạy giáo lý trong nến kinh tế thị trường.

Muốn chu toàn sứ vụ dạy giáo lý trong nền kinh tế thị trường, giáo lý viên cần đào sâu và đổi mới cả tư duy lẫn hành động trong lãnh vực quan trọng này.

3.1 Đào sâu và đổi mới sự hiểu biết về ý nghĩa và tầm quan trọng của việc dạy Giáo lý.

Dạy giáo lý có phải là nhồi nhét một mớ kiến thức, dù đó là kiến thức về Thiên Chúa, cho người học giáo lý không? hay dạy Giáo lý là giúp học viên - người lớn cũng như trẻ nhỏ - gặp được Đức Giêsu Kitô & Thiên Chúa và sống mật thiết, gắn bó với Người và sống theo Người? Tài liệu Hướng dẫn tổng quát về việc dạy Giáo lý (Directoire général pour la catéchèse) của Thánh Bộ Giáo Sĩ được ban hành ngày 15 tháng 8 năm 1997 xác định bản chất, mục đích và nhiệm vụ của việc dạy Giáo lý như sau:

" a) Bản chất của việc dạy Giáo lý: Tự bản chất, việc dạy Giáo lý là hoạt động của Giáo hội với tư cách là cộng đoàn được mời gọi để trở nên nhà giáo dục đức tin, khi Giáo hội tiếp tục sứ mạng của Thày Giêsu và dưới tác động của Thánh Thần'"(tlđd, số 78).
"b) Mục đích của việc dạy Giáo lý : Mục đích quyết định của việc dạy Giáo lý không chỉ là giúp người học giáo lý tiếp cận với Đức Giê-su Ki-tô mà còn là giúp người ấy đi vào mối tương quan hiệp thông, mật thiết với Người" (tlđd, số 80).
c) Nhiệm vụ chính của việc dạy Giáo lý : gồm những việc sau đây:

(1o) Tạo điều kiện thuận lợi cho việc hiểu biết về đức Tin:

Ai đã gặp Chúa Ki-tô thì ước mong biết Người nhiều hơn nữa; người ấy cũng ước mong hiểu biết kế hoạch của Chúa Cha mà Chúa Giê-su đã biểu lộ. Hiểu biết nội dung của đức Tin là điều cần thiết cho việc gắn bó với đức Tin. Việc đào sâu hiểu biết về đức Tin đem lại cho cuộc sống một ánh sáng mới, nuôi dưỡng đời sống đức Tin, và giúp hiểu cái lý lẽ của đức Tin trong cuộc sống.

(2o) Giáo dục về phụng vụ:

Thật ra "Đức Ki-tô luôn hiện diện trong Hội Thánh, nhất là trong các hoạt động phụng vụ". Sự hiệp thông với Đức Giê-su Ki-tô dẫn tới việc cử hành sự hiện diện cứu độ của Người trong các bí tích và nhất là trong Bí tích Tạ Ơn. Giáo hội hết sức ước mong các tín hữu tham dự cách trọn vẹn, ý thức và tích cực vào sự hiện diện này. Vì thế, việc dạy Giáo lý không những phải giúp người học giáo lý hiểu ý nghĩa phụng vụ và các bí tích mà còn phải huấn luyện các môn đệ Đức Giê-su Ki-tô về "cầu nguyện, tạ ơn, sám hối; về sự tin tưởng phó thác trong cầu nguyện và về ý nghĩa cộng đoàn...".

(3o) Huấn luyện về luân lý:

Quay về với Đức Giê-su Ki-tô bao hàm việc đi theo Người. Vì thế việc dạy Giáo lý phải truyền đạt cho các môn đệ những thái độ của Thày. Nhờ đó họ sẽ theo một tiến trình biến đổi nội tâm mà qua tiến trình ấy họ "chuyển từ con người cũ sang con người mới trong Đức Ki-tô”" nhờ việc họ tham dự vào mầu nhiệm Phục Sinh của Người. Bài giảng trên núi, đang đó Đức Giê-su lặp lại Mười Giới Răn và tinh thần Tám Phúc Thật, là một qui chiếu cần thiết trong việc giáo dục về luân lý.

(4o) Dạy cầu nguyện:

Sự hiệp thông với Đức Giê-su Ki-tô khiến các môn đệ có cung cách và thái độ cầu nguyện và chiêm niệm giống như Thày. Tập cầu nguyện với Đức Giê-su là cầu nguyện với những tâm tình mà Người đã diễn tả ra khi Người cầu nguyện với Cha: đó là tâm tình thờ phượng, ngợi khen, cảm tạ, tin cậy phó thác, cầu xin, ngưỡng mộ trước vinh quang của Cha. Các tâm tình ấy được phản ánh trong Kinh Lạy Cha, kinh mà Đức Giê-su đã dạy các môn đệ và là mẫu mực của kinh nguyện Ki-tô giáo (tlđd, số 85).

Ngoài ra việc dạy Giáo lý giúp người Ki-tô hữu có khả năng sống cộng đoàn và tham dự tích cực vào đời sống và vào sứ mạng của Giáo hội. Công đồng Vatican II nhấn mạnh với các mục tử, về nhu cầu "phát triển tinh thần cộng đoàn" và với các tân tòng, về việc tập "cộng tác tích cực vào việc Phúc Âm hóa và vào việc xây dựng Giáo Hội". Vì thế việc dạy Giáo lý còn có một vài nhiệm vụ khác, đó là khai tâm và giáo dục về đời sống cộng đoàn và về truyền giáo.

(5o) Giáo dục đời sống cộng đoàn:

"Đời sống cộng đoàn Kitô không phải tự nhiên mà có, trái lại cần phải giáo dục cẩn thận. Trong việc thực tập sống cộng đoàn, giáo huấn của Đức Giêsu về đời sống cộng đoàn được Mátthêu tường thuật lại trong Tin Mừng, nêu lên một số thái độ mà việc giảng dạy Giáo lý phải tập luyện: tinh thần đơn sơ khiêm tốn (Mt 18,3); sự quan tâm đến những người bé nhỏ nhất (Mt 18,6); đặc biệt quan tâm đến những người lạc đường (Mt 18,12); việc sửa lỗi huynh đệ(Mt 18,15); cầu nguyện cộng đoàn (Mt 18,19); sự tha thứ lẫn cho nhau (Mt 18,22). Tình yêu huynh đệ thống nhất tất cả các thái độ kể trên" (Ga 13,34).

(6o) Khai tâm về truyền giáo:

"Việc dạy Giáo lý cũng tạo động lực cho việc truyền giáo. Việc dạy Giáo lý giúp các môn đệ Đức Giêsu biết hiện diện với tư cách là Kitô hữu, trong xã hội, trong đời sống nghề nghiệp, trong lãnh vực văn hóa và xã hội. Việc dạy Giáo lý cũng chuẩn bị họ biết đóng góp vào nhiều công việc của Giáo Hội, tùy theo ơn gọi riêng của mỗi người. Việc dấn thân truyền giáo nơi người giáo dân xuất phát từ các bí tích khai tâm Kitô giáo và từ tính “trần thế” trong ơn gọi của họ.

Những thái độ mà Đức Giêsu đã đề nghị cho các môn đệ của Người khi Người hướng dẫn họ vào sứ vụ truyền giáo cũng là những thái độ mà việc dạy Giáo lý phải cổ võ: tìm kiếm chiên lạc; cùng lúc loan báo và chữa lành; sống khó nghèo, không vàng bạc không túi bị; biết chấp nhận sự ruồng bỏ và bách hại; đặt niềm tin tưởng vào Cha và vào sự trợ giúp của Thánh Thần; lấy niềm vui được hoạt động cho Nước Trời làm phần thưởng" (tlđd, số 85).

3.2 Đào sâu và đổi mới sự hiểu biết về ý nghĩa và tầm quan trọng của vai trò giáo lý viên.

(1) Tài liệu Hướng dẫn của Thánh bộ Giáo sĩ năm 1997 đã nhắc đến ở trên trình bày về vai trò của giáo lý viên như sau:

"Dù xử dụng bất kỳ phương pháp đã được chứng nghiệm bằng thực hành nào đi chăng nữa thì giáo lý viên cũng vẫn phải đầu tư làm việc trong mọi giai đoạn của tiến trình giảng dạy giáo lý.
Đặc sủng của Chúa Thánh Thần, một đời sống tâm linh vững chắc, một chứng tá đời sống trong sáng là linh hồn của tất cả mọi phương pháp và chỉ có những đức tính nhân bản và Kitô giáo của giáo lý viên mới bảo đảm việc xử dụng tốt các bản văn và các dụng cụ làm việc khác.
Giá