Công đồng Vatican II
với Giáo Hội Việt Nam



Nhập đề


Công đồng Vatican II được khai mạc vào ngày 11.10.1962 đến nay là đã tròn 40 năm. Công đồng Vatican II vẫn được Giáo hội công giáo nhìn nhận là một lễ Hiện Xuống mới mà Thiên Chúa đã ban cho Giáo hội công giáo toàn cầu cũng như ở các địa phương cuối thế kỷ XX. Hoa trái của Công đồng vẫn tiếp tục nuôi dưỡng đời sống cá nhân và cộng đoàn của hàng triệu, hàng tỷ người công giáo khắp năm châu. Tinh thần của Công đồng vẫn đang thâm nhập và thay đổi cõi lòng con người và cơ cấu xã hội.

Để mừng kỷ niệm 40 Công đồng Vatican II, mới đây Uy Ban Văn Hóa Hội đồng Giám Mục Việt Nam - mà Giám mục chủ tịch là Đức Cha phụ tá của Tổng giáo phận Sài gòn, Giuse Vũ Duy Thống- đã tổ chức hội nghị mang tên BỐN MƯƠI NĂM SAU VATICAN II NHÌN LẠI, tại Tòa Tổng Giám mục Sàigòn vào các ngày 11, 12 và13.12.2002. Đây quả là một sự kiện lớn đối với Giáo hội Việt Nam, vì từ trước tới giờ, chưa bao giờ có một hội nghị qui tự đông đảo ngưới tham dự đến như vậy, khoảng 7-800 người theo ước lượng của ban tổ chức.

Hội nghị có bốn bài thuyết trình mỗi ngày, tập trung vào một mảng chủ đề lớn: 1. Giáo hội nhìn lại mình 2. Giáo hội nhìn ra thế giới 3. Hội nhập văn hóa (1) . Dù rằng có một số yếu tố trong khâu tổ chức khiến cho hội nghị không thành công như nhiều người trônt đợi (như chương trình quá "nặng", số người tham dự quá đông mà không phải thành phần chọn lọc, không có hội thảo và đúc kết nhóm), nhưng phải nói là hội nghị đã tạo được niềm "vui mừng và hy vọng" lớn cho Giáo hội Việt Nam.


Trình bày

I.Công đồng Vatican II 40 năm sau tại Việt Nam

Dù có 12 bài thuyết trình trong ba ngày, hội nghị BỐN MƯƠI NĂM SAU VATICAN II NHÌN LẠI vẫn không cho thấy được Giáo hội Việt Nam đã tiếp nhận được những gì của Công đồng Vatican II và chưa tiếp nhận được gì từ Công đồng ấy.

Khách quan mà nói vấn đề trên quả là rất khó vì khi nói tới Công đồng Vatican II tại Việt Nam, người ta cứ phải có cảm tưởng như là "có có không không, hư hư thật thật, mờ mờ ảo ảo (2). Thật vậy nếu đặt câu hỏi Giáo hội Việt Nam có biết, có hiểu và có tiếp nhận Công đồng Vatican II không? thì câu trả lời lương thiện phải là: "Có, nhưng..." Giáo hội Việt Nam có biết, hiểu và tiếp nhận Công đồng Vatican II chứ, vì 16 Giám Mục Miền Nam hồi bấy giờ đã đi Roma dự Công đồng mà! vì các văn kiện của Công đồng Vatican II đã được dịch ra tiếng Việt từ năm1972 mà! (3) vì trong các bài giảng, bài thuyết trình, Công đồng Vatican II vẫn được các giám mục, linh mục trích dẫn một cách mạch lạc và phù hợp với bối cảnh mà! vì trong các đại chủng viện và học viện, các chủng sinh và tu sĩ có được học kỹ càng về Công đồng mà! vì trong các cử hành Bí tích, Phụng vụ, Giáo hội đã dùng tiếng Việt, từ các lời nguyện cho đến các bài đọc mà!

Nhưng nếu chúng ta đi sâu vào đời sống Giáo hội Việt Nam, chúng ta sẽ thấy tình trạng "nửa vời" của việc biết, hiểu và tiếp nhận Công đồng Vatican II. Một ví dụ: Cuốn THÁNH CÔNG ĐỒNG CHUNG VATICANÔ II vẫn là một cuốn sách được trưng trên kệ sách hơn là được đọc đi đọc lại, được học hỏi và áp dụng. Nhất là đối với đại đa số giáo dân thì cuốn sách "dày cộm" ấy (giống như cuốn Thánh Kinh, cuốn Giáo lý Hội Thánh Công Giáo) vẫn là một cuốn sách khó hiểu, khó đọc và xa vời! Thậm chí không ít giáo dân vẫn gọi Công đồng Vatican II là Cộng đồng Vatican II. Một ví dụ khác: Trong suy nghĩ của những người Việt Nam không Công giáo vẫn còn nhiều nghi kỵ đối với Công giáo vì họ vẫn nghĩ rằng người Công giáo cho họ là đi theo bụt thần ma quỉ, trong khi Công đồng Vatican II khẳng định trong các tôn giáo khác cũng có những mảnh nhỏ(fragments of truth)chân lý (4). Hoặc nhiều người lương dân vẫn nghĩ rằng muốn vào Công giáo thì phải từ bỏ ông bà tổ tiên, trong khi quan điểm của Giáo hội sau Công đồng Vatican II đã khác xa với những não trạng tiền Công đồng Vatican II. Một ví dụ khác: Mối tương quan giữa giáo sĩ và giáo dân Việt Nam vẫn đậm "nét gia trưởng" của Nho giáo, hoặc biểu hiện một cách lãnh đạo mang tính áp đặt từ trên xuống (dominating-leader-ship), chứ chưa lột tả sự bình đẳng căn bản về phẩm gía của mọi Kitô hữu (5) và sự tham gia của mọi thành phần Dân Chúa vào quá trình đi tới quyết định. Một ví dụ khác nữa: linh đạo (tức con đường nên thánh) của người giáo dân theo Công đồng mang "tính trần thế" trong khi đại đa số giáo dân Việt Nam vẫn sống và hành đạo theo kiểu ô (hay ngăn) kéo: ô kéo ở nhà thờ thì hoàn toàn khác với ô kéo tại công ty, xí nghiệp hay ở ngoài chợ (6). Một ví dụ nữa: Trong khi đối thoại, việc tham gia vào quá trình quyết định vấn đề và tính đồng trách nhiệm của mọi thành phần Dân Chúa là những gía trị rất lớn trong Giáo hội học của Công đồng Vatican II thì trong cung cách làm việc và điều hành của hàng ngũ lãnh đạo Việt Nam vẫn chưa thấy nổi bật những gía trị ấy. Ở giáo phận nào có hội đồng linh mục, thì cũng ở trên giấy nhiều hơn trên thực tế. Chưa giáo phận nào có hội đồng kinh tế như Giáo luật yêu cầu. Có lẽ chỉ có một vài giáo phận có hội đồng mục vụ giáo phận mà có nơi hội đồng mục vụ giáo phận cũng có các linh mục và nam tu sĩ là thành viên, nữ tu và giáo dân không có chỗ. Giáo phận nào cũng có qui chế ban hành giáo hay hội đồng mục vụ giáo xứ, nhưng mỗi giáo xứ tổ chức một cách riêng và việc huấn luyện tâm linh và chuyên môn cho thành phần quan trọng này cũng chưa được coi trọng. Riêng tại giáo phận thành phố Hồ chí Minh, một qui chế mới được ban hành ngày vọng Lễ Thánh Thần hiện xuống năm 2002 sau nhiều bản dự thảo và góp ý của nhiều thành phần trong giáo phận. Nhưng nhiều linh mục vẫn thờ ơ, thậm chí chỉ trích qui chế ấy, vì các ngài cho rằng qui chế giao cho giáo dân nhiều quyền hạn quá. Trong khi đó thì nhiều giáo dân vẫn kêu ca là qui chế quá dè dặt, nửa vời vì không dám giao quyền cho giáo dân. Còn ban mục vụ gia đình giáo phận sau hơn hai năm (6.2000-1.2003) vẫn chỉ có 17 linh mục chánh phó ban và đặc trách mục vụ gia đình 15 giáo hạt là thành viên, trong khi cả trong Giáo hội lẫn ngoài xã hội, vấn đề gia đình đang là vấn đề đáng phải được quan tâm nhất. Một ví dụ cuối cùng: Hội đồng Giám mục Việt Nam vẫn chưa có một văn phòng (gồm cơ sở vật chất, nhân viên và chuyên viên) theo đúng chức danh và nhiệm vụ, trong khi bất cứ một ủy ban nhân dân xã nào của chính quyền cũng có một tòa nhà to lớn, nổi bật trong một khu vực dân cư, dù rất nghèo. Còn nữa: các ủy ban Giám mục thì vẫn dừng lại ở chỗ chỉ có một Giám mục làm chủ tịch. Vị Giám mục ấy mời một ít người cộng tác trong nhiệm kỳ của ngài và nếu vị Giám mục khác lên cho nhiệm kỳ tiếp theo thì công việc lại bắt đầu từ đầu. Riêng ủy ban Giám mục về Giáo dân thì từ ngày qui chế được Hội đồng Giám mục ban hành trong kỳ họp thường niên năm 2001 đến nay đã hơn một năm, mà chưa có tiến triển gì trong việc hình thành cơ cấu tối thiểu để làm việc! Còn những vấn đề hội nhập văn hóa, đối thoại với các tôn giáo khác, đối thoại với người nghèo trong xã hội Việt Nam....mà Công đồng Vatican II và Tông huấn Giáo hội tại Á châu đã rất nhấn mạnh thì Giáo hội Việt Nam rất khó viết được một bản báo cáo về những gì đã và đang thực hiện. Nổi bật nhất trong các việc Giáo hội đã thực hiện được cũng chỉ là các lớp học tình thương, trẻ em kém may mắn, đường phố, mồ côi...

Đúng là Giáo hội Việt Nam có biết, có hiểu và có tiếp nhận Công đồng Vatican II, nhưng mới chỉ biết, hiểu và tiếp nhận một cách sơ sài, hời hợt, giới hạn, chưa đồng bộ. Vì thế mà nhiều giá trị quan trọng của Công đồng Vatican II chưa thâm nhập sâu vào não trạng của người Công giáo Việt Nam -kể cả các vị lãnh đạo - chưa thấm sâu vào cơ chế của Giáo hội nên chưa thay đổi cách sống và cách truyền đạo của chúng ta. Vì thế mà nhu cầu nghiên cứu và áp dụng Công đồng Vatican II vẫn còn đó.

II.Nhu cầu nghiên cứu Công đồng Vatican II và học hỏi các kinh nghiệm của các Giáo hội bạn & quảng bá và áp dụng các nghiên cứu và học hỏi ấy.

Có nhiều nguyên nhân khiến Giáo hội Việt Nam chỉ mới biết, hiểu và tiếp nhận Công đồng Vatican II một cách hời hợt, sơ sài, giới hạn và không đồng bộ như tôi trình bày ở trên. Khách quan mà nói thì Công đồng bế mạc chưa được bao lâu (8.12.1965), Giáo hội Việt Nam chưa làm được gì nhiều thì biến cố 30.4.1975 ập đến. Với chính quyền Cộng sản Giáo hội cố gắng "tồn tại" là chính. Nhưng không phải vì thế mà chúng ta có quyền phủi tay hết trách nhiệm. Nếu trong hơn hai thập niên vừa qua chúng ta không làm được nhiều việc bên ngoài thì chúng ta vẫn có thể làm những việc âm thầm bên trong, như nghiên cứu, như soạn tài liệu một cách đơn sơ dễ hiểu vừa tầm với đại đa số giáo dân. Tôi biết trong Giáo hội Phật Giáo tại Sàigòn, vào những năm khó khăn nhất sau 1975 vẫn có những vị sư, những tín đồ soạn, dịch bài giáo lý, đánh máy và phân phối "cách bí mật”" bài giáo lý ấy cho phật tử. Tương tự như thế trong thời gian chưa ai nghĩ tới việc học chữ Hán chữ Nôm thì bên Phật Giáo vẫn có những vị sư gìa dạy chữ Hán chữ Nôm cho các thày sư trẻ. Và ngày hôm nay khi xã hội thông thoáng hơn, lực lượng tu sĩ trí thức về Hán học và Nôm học của Phật Giáo có nhiều đóng góp cho xã hội và đạo pháp. Nếu trong hai mươi năm 1975-1995 mà Giáo hội Công giáo Việt Nam cũng suy nghĩ và làm được như anh em Phật giáo mà giao cho một số linh mục, tu sĩ công việc nghiên cứu Thánh Kinh, Công đồng và soạn thành tài liệu thì ngày nay chúng ta không rơi vào tình trạng khát tài liệu học hỏi như hiện nay.

Tình hình mấy năm gần đây đã thay đổi khá nhiều. Các Giám mục của chúng ta đã đi nước ngoài một cách dễ dàng và thường xuyên. Các vị đã tham dự nhiều Thượng hội đồng Giám mục (ví dụ: về Châu Á, về Giám mục) cũng như hội nghị của Liên Hội đồng Giám mục Á châu (The Federation of Asian Bishops’ Conferences, viết tắt là FABC). Đây là cơ hôi tốt để các vị lãnh đạo Giáo hội Việt Nam học hỏi những kinh nghiệm quí báu của các Giáo hội chị em, nhất là các Giáo hội thuộc Châu Á. Thật ra thì từ năm 1975 Giáo hội Việt Nam cắt đứt liên lạc với FABC trong khi tổ chức này vẫn làm việc, hội nghị suốt gần ba thập niên vừa qua, với kho tàng nghiên cứu và kinh nghiệm hết sức phong phú (7).

Để những nghiên cứu Công đồng Vatican II và học hỏi kinh nghiệm của các Giáo hội chị em có đất sống, tức có cơ chế phổ biến, học tập, phản hồi...Giáo hội Việt Nam cần tổ chức những Trung Tâm học hỏi, mục vụ. Hiện nay một số giáo phận đã có trung tâm mục vụ nhưng xem ra các linh mục phụ trách mới chỉ là những người coi giữ nhà hơn là các giám đốc đích thực của trung tâm mang danh là mục vụ giáo phận tức lo tổ chức và điều hành các sinh hoạt đào tào, huấn luyện, bồi dưỡng cho mọi thành phần Dân Chúa trong giáo phận.

Có nhiều nguyên nhân khiến ngày nay nhiều người trong Giáo hội Việt Nam không mấy quan tâm đến Công đồng Vatican II. Có người cho rằng: Công đồng cũng đã cách đây 40 năm rồi, các điều Công đồng ấy dạy, chắc gì đã còn giá trị. Người khác lại cho rằng mình đã biết đủ về Công đồng Vatican II rồi, đâu cần học hỏi thêm làm chi cho mệt. Thậm chí có người không dám tìm hiểu sâu vào Công đồng Vatican II, càng không dám đem giáo huấn của Công đồng Vatican II áp dụng vào thực tế, vì sợ phải thay đổi, thậm chí sợ mất quyền lợi vật chất cũng như tinh thần.

Nhưng thật ra thì Công đồng Vatican II chẳng những không lỗi thời mà còn đang tiếp tục như một tác gỉa vừa cho xuất bản một cuốn sách mang tựa đề như thế (8). Chính Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II đã nhiều lần khẳng định là Công đồng Vatican II vẫn còn nguyên giá trị đối với Giáo hội cũng như đối với mỗi người giáo dân. Chúng tôi chỉ đơn cử hai "trích dẫn" mới nhất:

"Trong ngày năm thánh dành cho giáo dân này, cha từng mong ước một lần nữa đặt vào bàn tay và trong trái tim của tất cả anh chị em giáo dân của thế giới những văn kiện của Công đồng Vatican II. Công đồng đặt trọng tâm nơi Đức Kitô và Giáo hội của Người và đã mở cửa cho những thách đố mới trong một thế giới hiện đang thay đổi; như vậy Công đồng đã là một biến cố do Chúa quan phòng để sửa soạn cho Dân Chúa tiến vào ngàn năm thứ ba. Cha thúc đẩy các con - những người tín hữu giáo dân - học hỏi về giáo huấn của Công Đồng, hầu yêu mến và sống sứ điệp của Công đồng này. Được như vậy thì giáo dân sẽ trở thành ánh sáng và niềm hy vọng cho Giáo hội và xã hội. Ước chi Đức Kitô, Vua muôn thuở, hướng dẫn và ban sức mạnh cho các con luôn luôn" (9).

"Trong ngày năm thánh của giáo dân tại quảng trường Thánh Phêrô năm ngoái, trong khi mừng kính trọng thể Chúa Giêsu Kitô, Vua vũ trụ, cha đã phân phát các văn kiện Công đồng Vatican II cho các đại biểu giáo dân đến từ mọi lục địa. Mặc dù đã kết thúc cách đây ba mươi lăm năm, Công đồng Vatican II vẫn còn là một biến cố hết sức đặc biệt đối với Giáo hội mà chúng ta phải mãi mãi tìm về với Công đồng ấy để hiểu được đầy đủ ý nghĩa của các giáo huấn của Công đồng. Cách riêng, giáo dân các con phải đọc lại các văn kiện ấy. Công đồng đã mở ra cho các con những viễn tượng phi thường để các con dấn thân và hoà mình vào trong sứ mạng của Giáo hội" (10).

Vì thế mà Giáo hội Việt Nam ngày hôm nay có ba nhu cầu lớn và cấp bách: 1. Nghiên cứu Công đồng Vatican II một cách cặn kẽ, khoa học mà không quên đối chiếu với các vấn đề thực tế hiện nay của xã hội, 2. Học hỏi kinh nghiệm của các Giáo hội bạn, 3. Phổ biến những nghiên cứu và học hỏi ấy cho các thành phần Dân Chúa qua các lớp, các khóa, các trung tâm mục vụ.

Nhưng ai sẽ làm những công việc ấy khi các giáo phận không đủ số linh mục cho các giáo xứ và chủng viện, khi các tu sĩ hoặc không có thời gian hoăc không đủ chuyên môn, khi giáo dân không đủ khả năng? Trong trường hợp này chỉ có thể chọn một trong hai giải pháp: một là các giáo phận hy sinh một số nhu cầu trước mắt để dành ưu tiên cho công việc quan trọng có tầm mức thế kỷ hoặc là các giáo phận cứ tìm mọi cách để đáp ứng nhu cầu trước mắt mà hy sinh những công việc quan trọng quyết định đến tương lai của Giáo hội. Thật ra việc này không thể làm ở cấp độ giáo phận mà phải được thực hiện trên cấp độ quốc gia và Hội đồng Giám mục Việt Nam phải là người chịu trách nhiệm chính.

Mặt khác từ xưa đến nay các đại chủng viện của chúng ta chưa bao giờ đóng vai trò của một trung tâm tư tưởng của Giáo hội. Các giáo sư chỉ dạy các môn triết học, thần học, kinh thánh, luân lý cho chủng sinh mà chưa đầu tư vào việc nghiên cứu, biên soạn tài liệu, viết sách cho giáo dân, phục vụ giáo dân. Vì thế mà khó xác định giới trí thức công giáo của Giáo hội Việt Nam hiện nay ra sao?

Theo thiển ý, vì chúng ta chưa có trường đại học công giáo nên các đại chủng viện không chỉ có trách nhiệm đào tạo các linh mục mà còn phải trở thành một trung tâm tư tưởng (tức nghiên cứu, tìm tòi, thử nghiệm) của Giáo hội. Tương tự như thế, các trung tâm mục vụ giáo phận phải mau chóng đóng vai trò đào tạo giáo dân nói chung, đào tạo tông đồ giáo dân, trí thức công giáo, giáo dân lãnh đạo các hội đoàn và các giáo xứ nói riêng. Chúng ta chưa có thói quen tập hợp nhân sự lại để làm một công việc chung. Ví dụ: con số các linh mục, tu sĩ, giáo dân đã sang Phi-líp-pin học tại Viện Mục Vụ Đông Á (East Asian Pastoral Institute, viết tắt là EAPI) là một con số đáng kể. Thế nhưng ai học xong thì về với công việc của giáo phận, của dòng tu của mình, chứ chưa được tập hợp lại để hình thành một ê-kíp đảm nhận một trung tâm hay một chương trình đào tạo cho Giáo hội. Có phải là đáng tiếc không?

Kết luận:

Công đồng Vatican II tuy đã được 40 năm, nhưng vẫn còn rất mới mẻ. Cách riêng đối với Giáo hội Việt Nam thì Công đồng ấy còn mới mẻ hơn nữa. Vì chúng ta mới chỉ chạm đến bề mặt mà chưa đi sâu vào Công đồng, chúng ta chỉ mới dừng lại ở một số điểm lý thuyết mà chưa đưa các điểm trọng tâm của Công đồng Vatican II vào đời sống và các mối tương quan đối nội đối ngọại của Giáo hội. Đúng như lời Đức Cha Giuse Vũ Duy Thống đã phát biểu trong buổi khai mạc hội nghị "Bốn mươi năm Vatican II nhìn lại": "Vatican II là công trình thế kỷ, nhưng Vatican II cũng vẫn là công trường còn dở dang từ thế kỷ XX sang thế kỳ XXI..." (11). Riêng với Giáo hội Việt Nam thì "công trường" ấy càng to lớn và bề bộn hơn nữa. Để việc thi công công trường có hiệu quả không những cần có thợ giỏi mà còn cần đốc công, kỹ sư, lãnh đạo giỏi.

Sàigòn ngày 15 tháng 01 năm 2003


Chú thích:

  • (1) Đọc cuốn "Bốn mươi năm sau Vatican hai nhìn lại" tài liệu hội thảo của Uy ban giám mục về văn hóa - mùa vọng, hai không không hai (lưu hành nội bộ).

  • (2) Mượn ý của Lm Nguyễn Trọng Viễn OP. trong bài nói chuyện về "Một số gía trị của Công đồng Vatican II" tại Tu viện Mai Khôi, trong khuôn khổ sinh hoạt Đức Tin và văn Hóa tối 4.1.2003.

  • (3) Bản dịch mang tên THÁNH CÔNG ĐỒNG CHUNG VATICANÔ II của Phân khoa Thần học - Giáo hoàng Học viện Thánh PIO X, Đà Lạt, 1972, Lời giới thiệu của Đức Giám mục Simon Hòa Nguyễn Văn Hiền, Giám mục địa phận Đà Lạt.

  • (4) Về giá trị của các tôn giáo không Kitô giáo, Công đồng Vatican II đã đưa ra quan điểm như sau:
    "Giáo hội Công giáo không hề phủ nhận những gì là chân thật và thánh thiện nới các tôn giáo đó. Với lòng kính trọng chân thành, Giáo hội xét thấy những phương thức hành động và lối sống, những huấn giới và giáo thuyết kia, tuy rằng có nhiều điểm khác với chủ trương mà Giáo hội duy trì, nhưng cũng thường đem lại ánh sáng của Chân Lý, Chân Lý chiếu soi hết mọi người...
    "Vì thế Giáo hội khuyến khích con cái mình nhìn nhận, duy trì và cổ động cho những thiện ích thiêng liêng cũng như luân lý và những gía trị xã hội văn hoá của các tín đồ thuộc các tôn giáo khác, bằng con đường đối thoại và hợp tác cách thận trọng và bác ái với các tín đồ các tôn giáo mà vẫn là chứng tá của đức tin và đời sống Kitô giáo
    " (Tuyên ngôn về liên lạc của Giáo hội với các Tôn giáo ngoài Kitô giáo, 2).

  • (5) Về tính bình đẳng về phẩm gía của mọi Kitô hữu, Công đồng Vatican II khẳng định:
    "Thế nên chỉ có một Dân Thiên Chúa được Ngài tuyển chọn: "chì có một Thiên Chúa, một đức tin, một Thánh Tẩy" (Ep 4,5), cùng chung một phẩm gía của những chi thể vì đã d0ược tái sinh trong Chúa Kitô, cùng một ân huệ được làm con cái, một ơn gọi trở nên trọn lành, một ơn cứu độ và một niềm hy vọng duy nhất và một đức ái không phân chia. Vì thế, trong Chúa Kitô và trong Giáo hội, không còn có sự hơn kém vì nguồn gốc hay dân tộc, vì địa vị xã hội hoặc vì nam nữ, bởi lẽ "không còn là người Do thái hoặc Hy lạp, nô lệ hay tự do, nam hay nữ, vì anh em hết thảy đều là một trong Chúa Giêsu Kitô" (Gl 3,28) (HC tín lý về Giáo hội, số 32).

  • (6) Về tính trần thế là tính riêng biệt của giáo dân, Công đồng Vatican II dạy:
    "Vì ơn gọi riêng, người giáo dân có bổn phận tìm kiếm Nước Thiên Chúa bằng cách đảm nhận các việc trần thế và xếp đặt chúng theo ý Thiên Chúa. Họ sống giữa trần gian, nghĩa là giữa tất cả cũng như từng công việc và nghĩa vụ của trần thế, giữa những cảnh sống thường ngày trong gia đình và ngoài xã hội: tất cả những điều đó như dệt thành cuộc sống của họ. Đó là nơi Thiên Chúa gọi họ, để dưới sự hướng dẫn của tinh thần Phúc Am, như men từ bên trong, họ thánh hóa thế giới bằng việc thi hành những nhiệm vụ của mình; và như thế, với lòng tin cậy mến sáng ngời, và nhất là với bằng chứng đời sống, họ bộc lộ Chúa Kitô cho kẻ khác. Chính họ là người có nhiệm vụ đặc biệt phải soi sáng và xếp đặt những thực tại trần gian có liên hệ mật thiết với họ, để chúng không ngừng phát triển và ngày một phong phú hơn lên theo Thánh Ý Đức Kitô, hầu ca tụng Đấng Sáng Tạo và Cứu Độ" (HC tín lý về Giáo hội, số 31).

  • (7) Các tài liệu của FABC trong 2 cuốn "For all the peoples of Asia", vol. 1, 2 của Gaudencio Rosales D.D. & C.G. Arévalo, S.J., Claretian Publications, 1997.

  • (8) Gian Franco Svidercoschi, (Italia): Vatican II: Un Concile qui continue (Vatican II một Công đồng còn đang tiếp tục). Sử biên niên, bản thống kê, những viễn ảnh của Vatican II, với lời bạt của Hồng Y Roberto Tucci, 182 trang, Ancora, Milan 2002, 14 Euros.

  • (9) Lời nhắn nhủ của Đức Gioan Phaolô II khi kết thúc thánh lễ dành riêng cho Hội nghị Tông Đồ Giáo Dân thế giới, tại Công trường Thánh Phêrô vào trưa ngày26/11/2000 (Bản tin ngày 26/11/2000 của Thông Tấn Xã Công Giáo).

  • (10) Trích thư của Đức Gioan Phaolô II viết ngày 12.3.2001, gửi hội nghị giáo dân Châu Á lần thứ 2 họp ngày 19-24.3.2002, tại Bangkok (Thái Lan).

  • (11) Xem cuốn "Bốn mươi năm sau Vatican hai nhìn lại" tài liệu hội thảo của Ủy ban giám mục về văn hóa -mùa vọng, hai không không hai (lưu hành nội bộ), trang 45.