CHÚA NHẬT I MÙA VỌNG B
Isaia 63: 16b-17, 19b; 4: 2b-7; Tv 80; 1 Côrintô 1: 3-9; Marcô 13: 33-37
Anh chị em thân mến,
Tối hôm qua tôi đã thức khuya để viết bài này sau ngày bầu cử toàn quốc. Cho dù ứng cử viên nào đắc cử tổng thống cũng không sao, vì chúng ta đã nghe những lời họ hứa hẹn trong lúc vận động tranh cử. Họ đề xuất các mục tiêu của họ và làm cách nào để đạt được những việc ấy, dù mục tiêu của hai bên có thể khác nhau, nhưng cả hai ứng viên của hai đảng đều hứa: Sẽ giúp đỡ cho những người đau khổ do sự sụt giảm kinh tế, bị mất nhà; Họ sẽ tìm cách kết thúc chiến tranh; lo bảo hiểm y tế cho người chưa có; tìm cách thống nhất đất nước, xóa bớt những tỵ hiềm chia rẽ nhau giữa hai đảng phái; giúp cho người nghèo có cơ hội được giáo dục đầy đủ; làm tốt hơn các mối bang giao với các nước; cam kết thực hiện sự công bằng và bình đẳng cho tất cả các công dân; hợp tác chặt chẽ với tôn giáo và chủng tộc, v.v..
Những điều nói trên là những đề tài của cuộc tranh cử, được phát trên truyền hình thương mại, các blog internet và báo chí. Nhưng đối với các Kitô hữu, khi bắt đầu Mùa Vọng, không phải chỉ có các chủ đề chính trị để thảo luận. Chúng ta còn nghe những đề tài của Mùa vọng và chúng ta đã cầu nguyện nhiều cho họ, không những chỉ trong Mùa vọng, mà trong suốt cả năm phụng vụ.
Trong Mùa vọng, chúng ta hướng lòng trí về Đức Chúa, mong Ngài đáp lại những nhu cầu căn bản của chúng ta. Trong Mùa vọng chúng ta tin tưởng nơi Thiên Chúa vì Ngài đã nhiều lần chứng tỏ sự trung tín trong lời hứa đối với chúng ta qua các bậc tiền nhân: Đó là những lời hứa mà Đức Chúa đã nói với Môi-sê vì Ngài là Đức "Giavê" - "Ta sẽ luôn luôn hiện diện bên ngươi". Trông đợi Thiên Chúa và trông đợi một thế giới sống trong hòa hợp với cộng đồng không chỉ là lời cầu nguyện của các Kitô hữu trong Mùa vọng, mà đó cũng là lời cầu nguyện trong suốt năm Phụng Vụ của chúng ta và hãy chia sẻ điều này với anh chị em của các tôn giáo khác.
Đây ngôn sứ Isaia. Chính ông sẽ nói với chúng ta trong ba Chúa nhật Mùa vọng. Vì ông là ngôn sứ của Mùa vọng. Chính ông thay mặt chúng ta để dâng lời nguyện lên Thiên Chúa và ông cũng nói với chúng ta về Thiên Chúa. Hôm nay Isaia sẽ nói về Thiên Chúa cho chúng ta. Ông mở lời dựa trên đức tin cơ bản của dân Do thái, "Lạy ĐỨC CHÚA, Ngài mới là Cha, là Đấng cứu chuộc chúng con: đó là danh Ngài từ muôn thuở.."(Is.63:16)
Chính Thiên Chúa đã lập nên mối dây liên lạc đầu tiên với loài người qua mối quan hệ với dân Do thái. Ngài đã chọn họ; cứu họ ra khỏi kiếp nô lệ; chăm sóc, dẫn đưa họ qua sa mạc, cho sống trong miền đất hứa. Thiên Chúa quả là Cha thật của dân tộc Do Thái. Ngài còn làm gì hơn nữa cho họ? Nhưng dân Do Thái không đáp lại sự trung tín của Thiên Chúa mà Isaia gọi là "cha" và là "đấng cứu chuộc." Trái lại, họ trở nên cứng lòng với Đức Chúa trong sa mạc. Lời ngôn sứ Isaia là lời than thở: "Tại sao Ngài lại để chúng tôi lạc xa đường lối của Ngài?" – Họ than van như muốn nói rằng: "Sao Ngài lại để cho những điều này xảy đến cho chúng tôi?"
Bài đọc 1 hôm nay là phần thứ ba của sách Isaia. Phần này không giống như hai phần trước, là phần nói về dân Do Thái bị đi đày, Phần thứ ba nói về những người còn sống sót, trở về vùng đất cũ và đã thấy Đền thánh của họ bị tàn phá. Họ thấy trước mắt một nhiệm vụ hết sức khó khăn, là mọi thứ phải được xây dựng lại: Từ nền kinh tế, chính quyền, đền thờ, v.v... Đây là lời than van của ngôn sứ: "... Tất cả chúng con đã trở nên như người nhiễm uế, mọi việc lành của chúng con khác nào chiếc áo dơ. Tất cả chúng con héo tàn như lá úa, và tội ác chúng con đã phạm, tựa cơn gió, cuốn chúng con đi.. "(Is. 64:5)
Chúng ta cùng dâng lên lời nguyện xin với ngôn sứ Isaia thay cho toàn thế giới, thay cho đất nước và thay cho Giáo hội. Không phải Thiên Chúa mắc nợ chúng ta đâu. Cũng không phải lời cầu nguyện của chúng ta dâng lên trong Mùa vọng này sẽ buộc Thiên Chúa phải đến giúp đỡ chúng ta. Trái lại, Ngôn sứ Isaia nhắc nhở chúng ta là lời nguyện của chúng hôm nay dâng lên Thiên Chúa sẽ được Ngài lắng nghe và đoái nhìn chúng ta, vì Thiên Chúa là người Cha nhân từ, Một Đấng cứu chuộc mến yêu. Chính Ngài, ngay từ đầu, đã đã đoái đến loài người chúng ta với tâm tình lắng nghe như một người Cha nhân từ để tha thứ và để nghe lời chúng ta cầu khẩn, để làm cho lòng trí chúng ta nên mới trong Mùa vọng này.
Sợ sẽ có lúc chúng ta quên đi Thiên Chúa là ai, nên ngôn sứ Isaia nhắc lại trong phần cuối của bài đọc 1: "Lạy ĐỨC CHÚA, Ngài là Cha chúng con; chúng con là đất sét, còn thợ gốm là Ngài, chính tay Ngài đã làm ra tất cả chúng con."(Is.64:7) Thiên Chúa tạo ra chúng ta từ đất sét. Và hôm nay, khi khởi sự Mùa vọng này, chúng ta cần Thiên Chúa đặt tay trên chúng ta một lần nữa để uốn nắn chúng ta thành một dân trung tín với Ngài. Để chúng ta luôn hướng về Chúa và cùng lúc ấy, chúng ta cố gắng làm những việc tốt mà chúng ta được dựng nên để làm.
Trong những ngày này, tôi cảm thấy không đủ kiên nhẫn để chờ xem sự vật trên thế giới và trong Giáo hội của chúng ta được thay đổi. Tôi biết đó là nhiệm vụ mà chúng ta phải làm. Chúng ta, các Ki tô hữu phải trở nên là bàn tay của Thiên Chúa, là Đấng ngự trị trong thế gian này. Nhưng chúng ta không thấy gì thay đổi cả. Thật ra, chúng ta khó trông thấy được những thành quả của việc chúng ta làm. Mọi sự có vẻ như ngày càng tồi tệ hơn trước rất nhiều; như đối với các nạn nhân chiến tranh; đối với những bóc lột trong thế giới này. Như vậy, đây là lời nguyện không giống ai mà cứ lập đi lập lại trong Mùa vọng này, là tôi sẽ luôn dâng lời than van của Isaia, như là lời cầu nguyện từ đáy lòng: "Phải chi Ngài xé trời mà ngự xuống!" (Is.63:19) Lạy Thiên Chúa, chúng con cần được giúp đỡ nơi đây!
Chúng ta phải làm thế nào để khỏi bị chán nản khi thấy thế giới thiếu cải tổ để nên tốt hơn, mặc dù chúng ta cố gắng hết sức? Có lẽ đó là điều mà thánh Phaolô viết trong thư gởi cho tín hữu Côrintô. Thánh Phaolô hầu như liên tục nhắc đến sự trông đợi mãi mãi, vì ông hy vọng các Kitô hữu giữ cho đức tin ăn sâu vững chắc trong lòng trí họ.
Trong đoạn mở đầu thư thứ nhất gởi tín hữu Côrintô. Như thường lệ, thánh Phaolô mở đầu bằng lời chào hỏi và lời nguyện cảm tạ Thiên Chúa cho Giáo hội ở đó. Thánh Phaolô nói về các giáo hữu ở đó cũng như nói với chúng ta là chúng ta cũng đang chờ đợi "trong lúc mong đợi ngày Đức Giê-su Ki-tô, Chúa chúng ta, mặc khải vinh quang của Người."(1Cor1:7). Đây là bổn phận mà chúng ta phải làm với tư cách là Kitô hữu. Chúng ta là những người chờ đợi Thiên Chúa quang lâm. Nhưng không phải chúng ta chờ đợi một mình trong những khó khăn cám dỗ đời này, mà chúng ta chờ đợi với sức mạnh của Chúa Giêsu.
Và chúng ta cùng với cộng đoàn chờ đợi, với sự giúp đỡ và khuyến khích nhau. Nếu không có sự nâng đỡ và hiệp thông trong cộng đoàn qua Bàn tiệc thánh thì Mùa vọng sẽ đi về đâu? Chúng ta nhìn xung quanh bàn tiệc thánh, chúng ta sẽ thấy sự nâng đỡ của đức tin cho những người cao tuổi trong cộng đoàn. Họ là những chứng nhân giúp chúng ta biết rằng Thiên Chúa không bỏ chúng ta trong những lúc chúng ta cần đến Ngài. Quả thật, qua họ đã nhắc nhở cho chúng ta biết Thiên Chúa là Đấng luôn trợ giúp chúng ta hăng say cầu nguyện hằng ngày, trong suốt cuộc sống của chúng ta. Từ nơi bàn tiệc Thánh này, với sự góp sức của nhiều người có chức thánh, đã tập hợp thêm sức mạnh cho con cái của sự sáng làm tỏa rạng giữa đêm tối âm u.
Chúng ta nhìn lại xung quanh bàn tiệc lần nữa, chúng ta sẽ thấy giới thiếu nhi rước lễ lần đầu hay chịu phép Thêm sức, đây là những thế hệ tương lai. Lại có các cặp vợ chồng mới cưới, những người trẻ dấn thân trong ơn gọi dâng hiến, những giáo lý viên, các ca viên trong ca đoàn, phụ giúp trong các chương trình dạy làm bánh, v.v..
Cộng đoàn chúng ta chưa hoàn hảo, cũng không phải là gương mẫu trong Giáo hội. Thường khi chúng ta chỉ là những kẻ bình thường, cố gắng để giữ cho gia đình được êm ấm, con cái được giáo dục, học nghề... và cố gắng giúp nhau khi cần đến. Thực ra, chúng ta không khác gì hơn cộng đoàn tín hữu đầu tiên ở Côrintô mà thánh Phaolô nói đến: "Tôi hằng cảm tạ Thiên Chúa của tôi vì anh em, về ân huệ Người đã ban cho anh em nơi Đức Ki-tô Giê-su." Thánh Phaolô nhắc các tín hữu Côrintô và cả chúng ta nữa là kẻ đang sống trong Mùa vọng rằng Thiên Chúa đã và đang tiếp tục trung tín với lời hứa của Ngài. Có lẽ trong Giáo hội ở Côrintô đã có những thắc mắc trong cộng đoàn, cũng như ngày nay những thắc mắc vẫn xảy ra trong giáo phận, hay trong toàn Giáo hội. Tuy vậy, thánh Phaolô vẫn mở đầu thư bằng một lời cầu nguyện và lời cảm tạ Thiên Chúa cho các tín hữu.
Thánh Phaolô làm sao giải thích được là Giáo hội thời đó chia rẽ, nhưng họ vẫn cùng nhau thờ phượng Thiên Chúa nếu như không có ơn Chúa giúp họ? Thánh Phaolô sẽ tốn bao nhiêu mực để viết thư răn dạy các tín hữu Côrintô vì những hành vi ngược lại Phúc âm mà họ đã được giảng dạy. Bao nhiêu chia rẽ trong cộng đoàn, ngay cả nơi Bàn tiệc thánh, xung đột về pháp lý giữa các thành viên; có người dâng lễ vật bằng gia súc theo đạo cũ v.v... Các cộng đoàn thời đó đã gặp biết bao xáo trộn. Tuy vậy, thay vì để than thở với Thiên Chúa, thánh Phaolô lại mở đầu thư của mình với lời nguyện tạ ơn Thiên Chúa cho họ, cho dù họ gặp khó khăn, chia rẽ và nhiều thất bại, nhưng họ vẫn chứng tỏ là ân sủng Thiên Chúa vẫn sống và hoạt động trong họ.
Chúng ta có thể bắt đầu Mùa vọng bằng cách hãy cùng với những người phục vụ Thiên Chúa hôm nay để dâng lời cảm tạ lên Thiên Chúa vì bao ơn lành Ngài đã ban tặng cho từng cá nhân và cho toàn thể cộng đoàn để giúp chúng ta làm nhân chứng rằng: Thiên Chúa đang ở giữa chúng ta và Ngài sẽ quang lâm. Đây là mùa vọng, chúng ta hãy cùng với thánh Phaolô dâng lời cảm tạ Thiên Chúa
Chuyển ngữ FX Trọng Yên, OP
Isaia 63: 16b-17, 19b; 4: 2b-7; Tv 80; 1 Côrintô 1: 3-9; Marcô 13: 33-37
Anh chị em thân mến,
Tối hôm qua tôi đã thức khuya để viết bài này sau ngày bầu cử toàn quốc. Cho dù ứng cử viên nào đắc cử tổng thống cũng không sao, vì chúng ta đã nghe những lời họ hứa hẹn trong lúc vận động tranh cử. Họ đề xuất các mục tiêu của họ và làm cách nào để đạt được những việc ấy, dù mục tiêu của hai bên có thể khác nhau, nhưng cả hai ứng viên của hai đảng đều hứa: Sẽ giúp đỡ cho những người đau khổ do sự sụt giảm kinh tế, bị mất nhà; Họ sẽ tìm cách kết thúc chiến tranh; lo bảo hiểm y tế cho người chưa có; tìm cách thống nhất đất nước, xóa bớt những tỵ hiềm chia rẽ nhau giữa hai đảng phái; giúp cho người nghèo có cơ hội được giáo dục đầy đủ; làm tốt hơn các mối bang giao với các nước; cam kết thực hiện sự công bằng và bình đẳng cho tất cả các công dân; hợp tác chặt chẽ với tôn giáo và chủng tộc, v.v..
Những điều nói trên là những đề tài của cuộc tranh cử, được phát trên truyền hình thương mại, các blog internet và báo chí. Nhưng đối với các Kitô hữu, khi bắt đầu Mùa Vọng, không phải chỉ có các chủ đề chính trị để thảo luận. Chúng ta còn nghe những đề tài của Mùa vọng và chúng ta đã cầu nguyện nhiều cho họ, không những chỉ trong Mùa vọng, mà trong suốt cả năm phụng vụ.
Trong Mùa vọng, chúng ta hướng lòng trí về Đức Chúa, mong Ngài đáp lại những nhu cầu căn bản của chúng ta. Trong Mùa vọng chúng ta tin tưởng nơi Thiên Chúa vì Ngài đã nhiều lần chứng tỏ sự trung tín trong lời hứa đối với chúng ta qua các bậc tiền nhân: Đó là những lời hứa mà Đức Chúa đã nói với Môi-sê vì Ngài là Đức "Giavê" - "Ta sẽ luôn luôn hiện diện bên ngươi". Trông đợi Thiên Chúa và trông đợi một thế giới sống trong hòa hợp với cộng đồng không chỉ là lời cầu nguyện của các Kitô hữu trong Mùa vọng, mà đó cũng là lời cầu nguyện trong suốt năm Phụng Vụ của chúng ta và hãy chia sẻ điều này với anh chị em của các tôn giáo khác.
Đây ngôn sứ Isaia. Chính ông sẽ nói với chúng ta trong ba Chúa nhật Mùa vọng. Vì ông là ngôn sứ của Mùa vọng. Chính ông thay mặt chúng ta để dâng lời nguyện lên Thiên Chúa và ông cũng nói với chúng ta về Thiên Chúa. Hôm nay Isaia sẽ nói về Thiên Chúa cho chúng ta. Ông mở lời dựa trên đức tin cơ bản của dân Do thái, "Lạy ĐỨC CHÚA, Ngài mới là Cha, là Đấng cứu chuộc chúng con: đó là danh Ngài từ muôn thuở.."(Is.63:16)
Chính Thiên Chúa đã lập nên mối dây liên lạc đầu tiên với loài người qua mối quan hệ với dân Do thái. Ngài đã chọn họ; cứu họ ra khỏi kiếp nô lệ; chăm sóc, dẫn đưa họ qua sa mạc, cho sống trong miền đất hứa. Thiên Chúa quả là Cha thật của dân tộc Do Thái. Ngài còn làm gì hơn nữa cho họ? Nhưng dân Do Thái không đáp lại sự trung tín của Thiên Chúa mà Isaia gọi là "cha" và là "đấng cứu chuộc." Trái lại, họ trở nên cứng lòng với Đức Chúa trong sa mạc. Lời ngôn sứ Isaia là lời than thở: "Tại sao Ngài lại để chúng tôi lạc xa đường lối của Ngài?" – Họ than van như muốn nói rằng: "Sao Ngài lại để cho những điều này xảy đến cho chúng tôi?"
Bài đọc 1 hôm nay là phần thứ ba của sách Isaia. Phần này không giống như hai phần trước, là phần nói về dân Do Thái bị đi đày, Phần thứ ba nói về những người còn sống sót, trở về vùng đất cũ và đã thấy Đền thánh của họ bị tàn phá. Họ thấy trước mắt một nhiệm vụ hết sức khó khăn, là mọi thứ phải được xây dựng lại: Từ nền kinh tế, chính quyền, đền thờ, v.v... Đây là lời than van của ngôn sứ: "... Tất cả chúng con đã trở nên như người nhiễm uế, mọi việc lành của chúng con khác nào chiếc áo dơ. Tất cả chúng con héo tàn như lá úa, và tội ác chúng con đã phạm, tựa cơn gió, cuốn chúng con đi.. "(Is. 64:5)
Chúng ta cùng dâng lên lời nguyện xin với ngôn sứ Isaia thay cho toàn thế giới, thay cho đất nước và thay cho Giáo hội. Không phải Thiên Chúa mắc nợ chúng ta đâu. Cũng không phải lời cầu nguyện của chúng ta dâng lên trong Mùa vọng này sẽ buộc Thiên Chúa phải đến giúp đỡ chúng ta. Trái lại, Ngôn sứ Isaia nhắc nhở chúng ta là lời nguyện của chúng hôm nay dâng lên Thiên Chúa sẽ được Ngài lắng nghe và đoái nhìn chúng ta, vì Thiên Chúa là người Cha nhân từ, Một Đấng cứu chuộc mến yêu. Chính Ngài, ngay từ đầu, đã đã đoái đến loài người chúng ta với tâm tình lắng nghe như một người Cha nhân từ để tha thứ và để nghe lời chúng ta cầu khẩn, để làm cho lòng trí chúng ta nên mới trong Mùa vọng này.
Sợ sẽ có lúc chúng ta quên đi Thiên Chúa là ai, nên ngôn sứ Isaia nhắc lại trong phần cuối của bài đọc 1: "Lạy ĐỨC CHÚA, Ngài là Cha chúng con; chúng con là đất sét, còn thợ gốm là Ngài, chính tay Ngài đã làm ra tất cả chúng con."(Is.64:7) Thiên Chúa tạo ra chúng ta từ đất sét. Và hôm nay, khi khởi sự Mùa vọng này, chúng ta cần Thiên Chúa đặt tay trên chúng ta một lần nữa để uốn nắn chúng ta thành một dân trung tín với Ngài. Để chúng ta luôn hướng về Chúa và cùng lúc ấy, chúng ta cố gắng làm những việc tốt mà chúng ta được dựng nên để làm.
Trong những ngày này, tôi cảm thấy không đủ kiên nhẫn để chờ xem sự vật trên thế giới và trong Giáo hội của chúng ta được thay đổi. Tôi biết đó là nhiệm vụ mà chúng ta phải làm. Chúng ta, các Ki tô hữu phải trở nên là bàn tay của Thiên Chúa, là Đấng ngự trị trong thế gian này. Nhưng chúng ta không thấy gì thay đổi cả. Thật ra, chúng ta khó trông thấy được những thành quả của việc chúng ta làm. Mọi sự có vẻ như ngày càng tồi tệ hơn trước rất nhiều; như đối với các nạn nhân chiến tranh; đối với những bóc lột trong thế giới này. Như vậy, đây là lời nguyện không giống ai mà cứ lập đi lập lại trong Mùa vọng này, là tôi sẽ luôn dâng lời than van của Isaia, như là lời cầu nguyện từ đáy lòng: "Phải chi Ngài xé trời mà ngự xuống!" (Is.63:19) Lạy Thiên Chúa, chúng con cần được giúp đỡ nơi đây!
Chúng ta phải làm thế nào để khỏi bị chán nản khi thấy thế giới thiếu cải tổ để nên tốt hơn, mặc dù chúng ta cố gắng hết sức? Có lẽ đó là điều mà thánh Phaolô viết trong thư gởi cho tín hữu Côrintô. Thánh Phaolô hầu như liên tục nhắc đến sự trông đợi mãi mãi, vì ông hy vọng các Kitô hữu giữ cho đức tin ăn sâu vững chắc trong lòng trí họ.
Trong đoạn mở đầu thư thứ nhất gởi tín hữu Côrintô. Như thường lệ, thánh Phaolô mở đầu bằng lời chào hỏi và lời nguyện cảm tạ Thiên Chúa cho Giáo hội ở đó. Thánh Phaolô nói về các giáo hữu ở đó cũng như nói với chúng ta là chúng ta cũng đang chờ đợi "trong lúc mong đợi ngày Đức Giê-su Ki-tô, Chúa chúng ta, mặc khải vinh quang của Người."(1Cor1:7). Đây là bổn phận mà chúng ta phải làm với tư cách là Kitô hữu. Chúng ta là những người chờ đợi Thiên Chúa quang lâm. Nhưng không phải chúng ta chờ đợi một mình trong những khó khăn cám dỗ đời này, mà chúng ta chờ đợi với sức mạnh của Chúa Giêsu.
Và chúng ta cùng với cộng đoàn chờ đợi, với sự giúp đỡ và khuyến khích nhau. Nếu không có sự nâng đỡ và hiệp thông trong cộng đoàn qua Bàn tiệc thánh thì Mùa vọng sẽ đi về đâu? Chúng ta nhìn xung quanh bàn tiệc thánh, chúng ta sẽ thấy sự nâng đỡ của đức tin cho những người cao tuổi trong cộng đoàn. Họ là những chứng nhân giúp chúng ta biết rằng Thiên Chúa không bỏ chúng ta trong những lúc chúng ta cần đến Ngài. Quả thật, qua họ đã nhắc nhở cho chúng ta biết Thiên Chúa là Đấng luôn trợ giúp chúng ta hăng say cầu nguyện hằng ngày, trong suốt cuộc sống của chúng ta. Từ nơi bàn tiệc Thánh này, với sự góp sức của nhiều người có chức thánh, đã tập hợp thêm sức mạnh cho con cái của sự sáng làm tỏa rạng giữa đêm tối âm u.
Chúng ta nhìn lại xung quanh bàn tiệc lần nữa, chúng ta sẽ thấy giới thiếu nhi rước lễ lần đầu hay chịu phép Thêm sức, đây là những thế hệ tương lai. Lại có các cặp vợ chồng mới cưới, những người trẻ dấn thân trong ơn gọi dâng hiến, những giáo lý viên, các ca viên trong ca đoàn, phụ giúp trong các chương trình dạy làm bánh, v.v..
Cộng đoàn chúng ta chưa hoàn hảo, cũng không phải là gương mẫu trong Giáo hội. Thường khi chúng ta chỉ là những kẻ bình thường, cố gắng để giữ cho gia đình được êm ấm, con cái được giáo dục, học nghề... và cố gắng giúp nhau khi cần đến. Thực ra, chúng ta không khác gì hơn cộng đoàn tín hữu đầu tiên ở Côrintô mà thánh Phaolô nói đến: "Tôi hằng cảm tạ Thiên Chúa của tôi vì anh em, về ân huệ Người đã ban cho anh em nơi Đức Ki-tô Giê-su." Thánh Phaolô nhắc các tín hữu Côrintô và cả chúng ta nữa là kẻ đang sống trong Mùa vọng rằng Thiên Chúa đã và đang tiếp tục trung tín với lời hứa của Ngài. Có lẽ trong Giáo hội ở Côrintô đã có những thắc mắc trong cộng đoàn, cũng như ngày nay những thắc mắc vẫn xảy ra trong giáo phận, hay trong toàn Giáo hội. Tuy vậy, thánh Phaolô vẫn mở đầu thư bằng một lời cầu nguyện và lời cảm tạ Thiên Chúa cho các tín hữu.
Thánh Phaolô làm sao giải thích được là Giáo hội thời đó chia rẽ, nhưng họ vẫn cùng nhau thờ phượng Thiên Chúa nếu như không có ơn Chúa giúp họ? Thánh Phaolô sẽ tốn bao nhiêu mực để viết thư răn dạy các tín hữu Côrintô vì những hành vi ngược lại Phúc âm mà họ đã được giảng dạy. Bao nhiêu chia rẽ trong cộng đoàn, ngay cả nơi Bàn tiệc thánh, xung đột về pháp lý giữa các thành viên; có người dâng lễ vật bằng gia súc theo đạo cũ v.v... Các cộng đoàn thời đó đã gặp biết bao xáo trộn. Tuy vậy, thay vì để than thở với Thiên Chúa, thánh Phaolô lại mở đầu thư của mình với lời nguyện tạ ơn Thiên Chúa cho họ, cho dù họ gặp khó khăn, chia rẽ và nhiều thất bại, nhưng họ vẫn chứng tỏ là ân sủng Thiên Chúa vẫn sống và hoạt động trong họ.
Chúng ta có thể bắt đầu Mùa vọng bằng cách hãy cùng với những người phục vụ Thiên Chúa hôm nay để dâng lời cảm tạ lên Thiên Chúa vì bao ơn lành Ngài đã ban tặng cho từng cá nhân và cho toàn thể cộng đoàn để giúp chúng ta làm nhân chứng rằng: Thiên Chúa đang ở giữa chúng ta và Ngài sẽ quang lâm. Đây là mùa vọng, chúng ta hãy cùng với thánh Phaolô dâng lời cảm tạ Thiên Chúa
Chuyển ngữ FX Trọng Yên, OP