Đức Ông xứ Hà-Thao



Cô gái Mường, váy đen, áo tím, thắt lưng xanh, xà tích bạc, bước lên giảng đài đọc Lời Chúa. Người ngồi nghe chật kín sân Nhà Thờ Hà Thao, ra đến tận bờ hồ ngoài khuôn viên, nơi pho tượng Thánh Phê-rô nhìn xa ra đồng ruộng, ao chuôm, sông ngòi còn phủ một lớp sương mờ mờ. Những con đường nhỏ từ đường sắt Thống Nhất ven quốc lộ 1 cũ đưa vào làng, hồi sớm tấp nập, bây giờ đã vắng lặng. Đường làng lát gạch cổ với những dây cờ xanh vàng đỏ trắng, cũng thưa thớt người.

Mọi người hình như đổ về khuôn viên này cả. Không chỉ người Hà Thao, mà cả các Xứ Đạo lân cận, những nơi mang tên rất dân dã như Nghệ, Sổ, Chuôn, Lường, người từ Hà Nội xuống, từ Tân Độ sang, và bà con Mường... Lúc ban kèn đồng tấu lên: "Chúng con về từ khắp thôn làng, cùng với lớp sóng người hành hương, về Nhà Chúa đi, về Nhà Chúa đi...", và đoàn đồng tế từ nhà xứ Hà Thao tiến ra, đi đầu là các chức việc mặc áo thụng xanh, mang Thánh Giá, nến cao, thì những người "về từ khắp thôn làng" còn vo ve như ong vỡ tổ trước tiền đình Nhà Chúa. Bắt đầu từ lúc đọc sắc phong của Tòa Thánh, mọi người không ai bảo ai tự nhiên im bặt, nghển cổ nghe Tòa Thánh nói gì.

Đại để Tòa Thánh dùng lời lẽ trang trọng khen ngợi cha Nguyễn Ngọc Oánh, chánh xứ Hà Thao, và hiện nay kiêm đại diện Giám Mục đặc trách vùng dân tộc Hà Tây, Hòa Bình, là đã có công củng cố và mở rộng Đức Tin, và ban tặng danh hiệu " Giám Chức Danh Dự", nói nôm na là "Đức Ông". Người ta vỗ tay rào rào. Sắc phong của Tòa Thánh đặt trên kiệu hoa cho mọi người chiêm ngưỡng.

Sáng hôm nay, lần đầu tiên dân Hà Thao thấy Cha Xứ già của mình trong bộ áo chùng màu tím tía. Màu áo ấy trên thân hình cao lớn của cha như tạo ra một vừng sáng ấm giữa khối người đông đúc tụ tập chung quanh biểu ngữ "Chúc tụng Đấng nhân danh Chúa mà đến" chờ đón Đức Hồng Y về chủ sự Thánh Lễ Tạ Ơn. Các cô gái cười toe toét chỉ trỏ Cha Xứ của mình. Mấy bà lớn tuổi từ Hà Nội đến, chạy lại líu ríu: "Lạy cha, chúng con đến mừng Đức Ông. Chúng con vui mừng lắm, vui mừng lắm..."Thanh niên và quý ông lăng xăng tất bật duy trì trật tự, hướng dẫn xe vào bãi đỗ, và khách phương xa vào chỗ của mình.

Đức Hồng Y đến, mọi người được yêu cầu ai ngồi yên chỗ nấy ngay trên sân gạch, đừng đứng dậy kẻo di động sinh chen lấn mất trật tự. Đức Hồng Y đã già yếu, bước đi lẫm chẫm, cha Oánh đi dìu bên cạnh. Một vệt đỏ mảnh khảnh, và một vệt tía đẫy đà chầm chậm xuyên qua khuôn viên, giữa biển người phất cao những tờ giấy in các bài sẽ hát trong Thánh Lễ như một rừng bướm trắng. Đây đó, có người mang hoa theo mình đang vẫy những bông cúc đại đóa, thược dược, mẫu đơn, lai-ơn... Những ngày sau Tết Nguyên Đán, tiết trời se lạnh, không nắng, không mưa, hoa cỏ miền Bắc có những sắc màu tươi mát đặc biệt. Trên lễ đài, những cây đào thế Nhật Tân nở rộ, và những chậu quất chín trĩu sai. Thánh Lễ bắt đầu...

Bây giờ cô gái Mường cao giọng: "Đọc Lời Chúa trong sách Ngôn Sứ I-sai-a:
"Hãy vui mừng với Giê-ru-sa-lem,
Hãy vì Thành Đô mà hoan hỉ,
Hỡi tất cả những người yêu mến Thành Đô,
Như mẹ hiền an ủi con thơ, Ta sẽ an ủi các ngươi...
"

Vâng, có một ngày vui mừng và an ủi, có lẽ dành cho vị Linh Mục già không bằng cho cái đám người đông đảo đang tụ tập chung quanh Nhà Thờ Hà Thao này, những người mang Đức Tin âm thầm đi qua những chặng đường thử thách xa thẳm diệu vợi. Chẳng cao minh thông thái gì, chỉ là một bản năng, một hạt giống, một thôi thúc nào từ nội tâm khiến cho người ta cứ lầm lũi mà đi từng bước, hết năm này đến năm khác, hết đời cha ông đến đời con cháu. Hình như cái đám đông này hôm nay cũng mặc chung áo đỏ, áo tím với mấy vị ngồi trên kia. Mấy vị ấy cô đọng nơi mình lộ trình chung của đại chúng, lộ trình bụi bặm te tua sắp một nửa thế kỷ...

Năm 1954 lịch sử ấy, cha Oánh vừa lấy bằng tiến sĩ xã hội học ở Mỹ. Nhiều người có Đạo bỏ chạy vào Nam. Cha lại được gọi đi ngược dòng ra Bắc. Cuộc đối đầu Đông Tây đang hồi gay cấn, ngược dòng kiểu đó là chấp nhận thân phận hạt giống bị vùi trong lòng đất. Sao lại đi học Mỹ ? Học cái gì ? Học làm tay sai đế quốc chắc ? Đã đi sao còn về đây, lúc này ? Có ý đồ gì không ? Bọn CIA ẩn nấp ở những hang ổ nào ?

Ông Linh Mục trẻ gầy, cao, đeo cặp kính gọng đen dày, còn có thì giờ tổ chức mấy lớp Giáo Lý cho Giới Trẻ Hà Nội. Rồi chiến tranh leo thang. Những thành phần lơ mơ như ông được chiếu cố kỹ, ông được đưa đi quản chế ở Chuôn. Không phải Nhà Thờ Chuôn, nhưng một nhà Giáo Họ lẻ có nhiều Giáo Dân. Ông tiến sĩ hóa ra ông ẩn sĩ bất đắc dĩ. Học được cái khoa sống một mình với Chúa. Một thân một bóng đi ra đi vào ở cái nhà giáo thường dân chẳng ai được đến gần ấy, hết mùa nóng bỏng đến mùa giá lạnh, mười mấy năm trời.

Đúng ra thì cũng có một người thỉnh thoảng tiếp tế cho ông. Đó là bà Thuận. Bà là một Nữ Tu Mến Thánh Giá sống ở Nghệ, bên kia đường số 1. Bà Thuận một tay chèo chống giữ gìn chăm sóc Nhà Thờ và đất Nhà Thờ Kẻ Nghệ. Bà lo luôn chuyện kinh hạt phần hồn cho Kẻ Nghệ. Đến năm nay thì bà đã hơn 100 tuổi mà vẫn tốt tướng, phúc hậu, vẫn sống ở Nhà Phước Nghệ. Nhà Phước không còn rêu phong ẩm ướt như ngày xưa. Lớp Nữ Tu trẻ đã đến làm nhà mới sáng sủa phong quang. Suốt ngày bà ở trên giường đọc kinh lần hạt, đến giờ chị em đưa bà ra hè hóng nắng, cho bà nhìn rau cỏ cây cối ngoài vườn, và nghe chuông ngân trên tháp Nhà Thờ. Thỉnh thoảng bà nói mấy câu líu lo như chim, người lạ chẳng hiểu bà nói gì, chỉ mấy Nữ Tu trẻ nhìn miệng bà mà hiểu ý. Chị em vẫn trao đổi được với nhau.

Là vì đã có một lớp Nữ Tu trẻ tiếp nối. Sau mười mấy năm lủi thủi, cha Oánh cũng được giải quản. Mỗi ngày một tí. Lúc đầu luật lệ nghiêm ngặt. Ví dụ: đi chủ sự Chầu Thánh Thể, hay làm phép xác ở một Nhà Thờ nào trong vùng, được đúng một nửa tiếng đồng hồ, không hơn. Có lần công tác, bổn đạo thương cha đi đường xa, cho ăn một bát cháo, mới ăn nửa bát, kim đồng hồ chỉ đúng nửa giờ, cha bỏ luôn bát cháo đó, dứt khoát bỏ về. Hôm sau đại diện nhà cầm quyền trách: "Sao ông làm thế ? Chẳng hóa ra chúng tôi cay nghiệt với ông lắm à ?" - "Tôi đã hứa rồi đấy thôi, đúng nửa giờ là tôi xong hết !"

Dần dần rồi những "nửa giờ" cũng nới ra. Một mình cha coi năm bảy Nhà Thờ. Có ông nhạc sĩ ngày trước đặt bài hát về thời chiến tranh chấm dứt: "Sống sót trở về, Linh Mục dựng gác chuông, Chúa xuống ơn lành cho bổn đạo bốn phương..." Cha Oánh cũng dựng gác chuông, dựng được cho nơi mình đã bị quản chế một ngôi Nhà Thờ khá tươm tất. Sau cùng, Đại Chủng Viện Hà Nội mở lại, cha Oánh giữ một chân giáo sư, nhưng hàng tuần cứ phải đi đi về về giữa Chủng Viện và Giáo Xứ cách nhau khoảng 40 km lưu thông dày đặc.

Mỗi người một cảnh. Dân Chúa ở đây ai cũng phải vượt qua những đoạn đường cheo leo hiểm trở. Cứ xem ba vị ngồi ở ghế chủ sự Thánh Lễ hôm nay. Lúc cha Oánh đang bị quản chế thì Đức Cha Tụng đang ở Bắc Ninh. Chẳng còn Linh Mục, Đức Cha giải quyết bằng cách làm lịch cho các Xứ Đạo đúng ngày về Tòa Giám Mục dự lễ, chịu các Bí Tích, nghe giảng, giải quyết các vấn đề. Thế là dù nắng mưa, nóng lạnh, ngày thứ bảy, Chúa Nhật nào Tòa Giám Mục và Nhà Thờ Chính Tòa Bắc Ninh cũng giống như một khu cắm trại khổng lồ. Người ta đến bằng xe đò, xe công nông, xe lửa, xe đạp, bằng "chân cứng đá mềm". Người lớn, trẻ con, mang theo khẩu phần gạo để nấu ăn chung. Các thanh niên lo trật tự, các thiếu nữ bếp núc. Có lẽ trên thế gian này chẳng có Giáo Phận nào như thế cả !

Lúc ấy Đức Cha Trọng còn là Cha Xứ Nam Định. Nam Định có hai cha, lúc bị ném bom chết mất một, cha Trọng lo thu dọn đống đổ nát, tìm thi hài và tống táng người anh em. Làm hết sức trong cảnh sơ sài thời chiến. Nhà nước thì hết sức quan tâm việc Nhà Thờ có thể bị đối phương lợi dụng. Cha Trọng thường xuyên được học tập chính sách. Có khi chính sách cha đã thuộc lòng, đồng chí công an vẫn chưa an tâm, thuyết đi thuyết lại năm lần bảy lượt. Đến một lúc, cha nhắm mắt tĩnh tâm lần chuỗi thầm. "Này ! Ông làm gì thế hả ?" - "Thưa tôi đang cầu nguyện". - "Cầu nguyện cái gì ? Có phải ông cầu nguyện cho bọn tôi chết mẹ nó đi phải không ?" -"Ấy ! Sao ông lại nói thế ! Chúa dạy chúng tôi phải kính trọng và yêu mến các ông, đời nào tôi lại mong cho các ông gặp phải sự dữ !"

Chuyện thương, chuyện khó, và buồn vui lỉnh kỉnh, kể sao cho hết. Và đến lúc "Linh Mục dựng tháp chuông" thì Đức Cha Tụng về Hà Nội làm Tổng Giám Mục. Cha Trọng cũng lên Hà Nội làm Giám Mục Phụ Tá, cha Oánh về tiếp tục gây dựng Chủng Viện. Mấy cây cổ thụ chụm lại mà dựng nhà, dựng người. Còn những Linh Mục đứng tuổi đang đồng tế hôm nay, lúc ấy người làm lơ xe, người làm ông lang, người làm thợ hớt tóc v.v... cũng trở lại Nhà Thờ nối tiếp những sợi dệt tưởng đã đứt...

Cha Oánh không còn vẻ xương xảu khi xưa. Tuổi tác làm dịu đi những nét góc cạnh. Tóc đã bạc, chưa gù nhưng lưng không còn dáng thẳng băng. Bước đi có vẻ đã nặng nề. Nói năng cũng ôn tồn chứ không lý luận tưng bừng như xưa. Muốn hỏi nhiều chuyện khúc mắc hay cao siêu, cha lại chỉ thích nói những chuyện thường ngày. Cha tấm tắc: "Con X thật giỏi. Chữ nghĩa chẳng ra gì vậy mà gặp ai nó cũng truyền bá Đức Tin ngon ơ !” Lại điểm mặt các thanh niên cha đã gây dựng: "Thằng Y năm nay đã lên đại học năm thứ hai. Thằng Z đã ra trường, làm ăn khá giả, mà rất ngoan..."

Rồi cha quay ra lục lọi giấy tờ, tưởng có tài liệu gì quan trọng lắm, hóa ra là một bức thư viết nguệch ngoạc trên giấy học trò: “Con là Loan, 13 tuổi, hôm nay con gửi số tiền 20.000 đồng này tới cha, để nhờ cha chuyển cho các người nghèo. Con biết có một em bé cũng gửi cha 100.000 cho các bạn nghèo, con lớn hơn mà số tiền lại quá ít, nên con rất ngại đến gặp cha. Nhưng số tiền này là do con ăn chay đấy. Xin cha giúp con. Con Loan cám ơn cha”. Cha Oánh cứ xuýt xoa mãi với bức thư, quên tiệt những câu hỏi nghiêm túc của khách.

Năm này qua năm khác, rồi những ông ngày trước làm phụ xe, thầy lang, hay hớt tóc, đi học Roma, đi học Paris cũng đã về, bằng cấp đầy đủ. Cha Oánh từ từ rút khỏi Chủng Viện, được cử làm đại diện Giám Mục đặc trách vùng dân tộc ít người. Chức vụ này chẳng qua chính thức hóa một việc cha đã làm lâu năm trước. Ở Hà Thao này đi về phía Tây vài chục cây số là đã ở giữa vùng núi đá vôi, giữa đồng bào Mường. Xưa kia, từ Hà Tây sang Hòa Bình đã có nhiều Giáo Điểm của các Thừa Sai. Đã có cả Linh Mục người Mường. Mấy chục năm chiến tranh tan hoang hết. Nhưng dịp lễ lớn, bà con người Mường vẫn bồng bế nhau về xuôi từng nhóm nhỏ.

Từ ngày được tự do, cha Oánh hay lên vùng rừng núi với bạn bè và những người cộng tác. Trên những ngọn đồi thấp đá xếp thành tầng, có khi nổi lên những ngôi Nhà Thờ nho nhỏ thật xinh, bàn thờ bằng đá xanh chạm trổ. Nhiều chỗ khác chỉ còn bốn bức tường lộ thiên. Giữa lòng Nhà Thờ cây xanh mọc cao ngang bằng mái ngói xưa. Anh em đứng đó mà cầu nguyện, tưởng nhớ những người đi trước mở đường, và mong chờ một ngày nào Lời Chúa trở lại...

Có chỗ gặp đồng chí chủ tịch xã khéo léo, đoàn vừa đến đã được mời vào trụ sở, thấy cơm nước thịnh soạn. Đồng chí chủ tịch chào đoàn, và mời ăn cơm bồi dưỡng. Nhưng hôm nay đồng bào mắc gặt lúa, không thể đón đoàn được. Cha Oánh vội chắp tay vái chào, và cám ơn xin đi chỗ khác ngay, vì còn nhiều nơi muốn thăm. Các bà, các cô Mường ở đâu vội chạy đến cha cha con con ríu rít, rồi chiêng cồng trầm ấm nổi lên dăm bảy phút, mới gạt nước mắt lưu luyến tiễn đoàn.

Lên đây, thấy cây cối xanh hơn, không khí trong mát hơn, tâm hồn cũng khoáng đạt hơn. Một anh bạn từ Sài-gòn ra tham quan cao hứng kể chuyện dưới thành phố người ta làm tiền thế nào, bon chen thế nào, thèm khát những gì. Cha Oánh quay ra hỏi: "Vậy họ không hạnh phúc như chúng ta à ?" - "Cha ơi, hạnh phúc giống như cái áo đẹp. Nó đẹp vì hợp với ly tấc của người mặc nó. Mang áo đẹp của người này cho người khác mặc, có khi lại không đẹp nữa. Cha thích ăn không hết nửa bát cháo, hay là lên đây ăn cơm lam thơm mùi tre núi, hết trèo đèo, lại băng suối trên mấy cây cầu dập dình, thì đó là ly tấc của cha..."

Từ ngày đó đến giờ, cha đã trở thành một khuôn mặt quen thuộc ở những nơi như Đồng Danh, Gò Mu, Kẻ Nứa, Chi Nê. Rải rác trên những đồi núi ấy, Chúa cũng có một đàn chiên 7, 8 ngàn linh hồn. Vì thế hôm nay bà con Mường có mặt ở đây. Không chỉ có cô gái đọc Thánh Thư. Nhiều người Mường mang y phục dân tộc tham gia đoàn dâng lễ vật, và bài hát: "Lời con như trầm hương, dâng lên tới Thiên Đường” "không đệm bằng đàn, mà bằng cồng chiêng rất hài hòa nhịp nhàng.

Cuối lễ, cha Oánh nói mấy lời rất vắn tắt. Cha bảo cha chẳng có gì ngoài tội lỗi, xin tạ ơn Chúa, xin cảm tạ Đức Thánh Cha, Đức Hồng Y và mọi thành phần Dân Chúa.

Lễ vừa xong, áo tím đã biến mất. Lát sau thấy cha Oánh mặc sơ-mi ngồi vào bàn ăn với Đức Hồng Y, Đức Cha Phụ Tá và quan khách. Cha vỗ vai mấy người quen: "Này ! Hôm nào lên Mường với mình một chuyến đi !" - "Ôi, đề nghị hấp dẫn làm sao ! Chỉ xin cụ nhớ cho, cụ 80 tuổi rồi đấy, và tim mạch đã cần phải đi cấp cứu mấy lần. Có lẽ cụ cũng đi vừa vừa thôi." - "Không sao, bảo đảm không sao cả. Cứ đi. Cứ đi..."

Tự nhiên lại nhớ tới một bài hát ngày xưa:
"Người về miền xuôi, đem theo tình người miền núi...
Đưa chân anh qua đồi, cơm lam đem theo người.
Lên cao anh ôm trời để dòng suối lẻ loi.
Đường về ruộng dưới ngát hương củi rừng gạo núi...
Tạm biệt một nơi thấy nhau ở cuối chân trời...
"

Hình như trong tai cụ Oánh lại đang lùng bùng âm điệu cồng chiêng...

Chúa Nhật 23.2.2003

Trích Ephata 101