Vợ Chồng Tùng Phục Nhau và Tự Hiến Cho Nhau Nhìn trong Ánh Sáng Mầu Nhiệm Tam Vị (4)
Dẫn Nhập
Cô cháu gái nói với tôi nhân lúc sửa soạn bài đọc lễ cưới: “Cậu chọn bài đọc nào cũng được, nhưng nhớ đừng lấy cái bài có câu Thánh Phaolô bảo rằng ‘Người làm vợ hãy tùng phục chồng như tùng phục Thiên Chúa.’” Tôi hỏi: “Tại sao vậy?” “Cậu không thấy như vậy là tiếp tay cho lối sống ‘chồng chúa, vợ tôi’ sao? Thời giải phóng phụ nữ mà ăn nói kiểu ấy thì làm sao nghe được?” Tôi chống chế theo kiểu con nhà có đạo gốc: “Tại cháu chưa hiểu đó thôi, đến như Chúa Giêsu mà cũng còn phục tùng Chúa Cha nữa cơ mà.”
Bẵng đi một thời gian, tình cờ đọc được bài viết của John S. Grabowski Ph.D., giáo sư thần học tại Đại học Công Giáo Hoa Kỳ (CUA) mang tựa đề ‘Mutual Submission and Trinitarian Self-Giving’ tôi mới thấy rõ được câu trả lời chính xác cho thắc mắc của cô cháu gái, và có lẽ cũng là của nhiều người có quan điểm tương tự.
(tiếp theo và hết)
Hàm Ý Thực Tiễn
Cho dù định thức “tùng phục lẫn nhau” xem chừng khá triệt để cả trong hàm ý lẫn trong cách hình thành, nhưng nó không phải hoàn toàn xa lạ với nhiều tương quan hiện thực giữa các đôi vợ chồng Kitô giáo. Bởi lẽ, trong bất kỳ một hôn nhân thành công dài lâu nào nói chung cũng có thể thấy ít nhiều yếu tố trong nguyên tắc vừa nói được ứng dụng. Khi đôi vợ chồng thực sự yêu thương nhau, họ sẽ cố gắng đối thoại với nhau, lắng nghe nhau, quy hướng về nhau. Nếu đúng là tình yêu hỗ tương, thì hẳn không phải lúc nào cũng chỉ có một phía, mà là cả hai cùng hành động.
Cuộc đối thoại liên tục trong tình yêu sẽ xẩy ra, không phải ở đâu xa, mà là ngay trong chính các phẩm tính riêng biệt của đôi vợ chồng, xét như người nữ và ngưòi nam, cũng như trong tính khí và ân tặng cá nhân mỗi người. Không giống như trường hợp chủ nghĩa cá nhân tự do kiểu mới, ở đây, không nhất thiết phải y hệt như nhau thì mới bình đẳng với nhau được. Về khía cạnh này, điều quan trọng là phân biệt, một bên là các phẩm tính biệt loại của phái tính, mà theo nền nhân học Tam Vị của Đức Gioan Phaolô II, được phân định rõ rệt nhờ “từ trên cao,” với bên kia là các vai trò biệt loại của phái tính vốn uyển chuyển và chịu ảnh hưởng sâu đậm bởi tính khí cá nhân cũng như bởi nền văn hoá. Hạn từ “ơn kêu gọi” mà Đức Gioan Phaolô II sử dụng xem chừng như gần gũi với nhóm trước hơn là với nhóm sau, bởi lẽ chúng là sự nối dài duy nhất của tính nguyên thủy nơi người nam và người nữ. Sau khi phân biệt như vậy, ta có thể nói rằng các vai trò biệt loại của phái tính trong hôn nhân (tỉ như trong đôi vợ chồng, thì ai sẽ làm việc trong nhà, và ai làm việc ngoài nhà) đều có thể thương thảo được, thế nhưng các ơn kêu gọi căn bản của họ (tỉ như làm vợ hay làm chồng, làm cha hay làm mẹ) thì không phải như thế, bởi vì nó bén rễ trong chính nhân vị xét như căn tính của mình.
Các ơn kêu gọi này tương ứng với—và trong một mức độ nào đó—còn cưu mang những phẩm tính phân định nơi mỗi phái tính. Thí dụ như nghiên cứu cho thấy rằng hiện tượng xem ra phổ quát là: người nam có tính hay gây hấn, và có nhiều cách biểu lộ văn hóa khác nhau trong nghi lễ, nhiệm vụ, vai trò và thể chế. Điều này phần nào lý giải cho sự kiện là người đàn ông thường nắm nhiệm vụ quyết định hay giải quyết các vấn đề mà gia đình hay xã hội phải đối đầu. Tuy nhiên, mô thức Tam Vị nói trên cho thấy hai điểm quan trọng sau đây: (1) trong ánh sáng mạc khải và qua tác động của ân sủng, người đàn ông Kitô hữu được kêu mời uốn nắn tính gây hấn và khả năng có nhiều sáng kiến của mình sao cho hoà hợp với ưu quyền quảng đại bao dung của Chúa Cha và được mạc khải trọn vẹn qua Chúa Kitô. Nếu không làm như thế, các thể chế độc tài tàn ác thống trị tất sẽ nẩy sinh, như lịch sử tội lỗi của con người đã minh chứng hùng hồn; (2) sáng kiến này chỉ hoàn tất và trở thành chân chính khi được chu toàn trong sự “tùng phục” người phối ngẫu của mình bằng cách cùng nhau đối thoại yêu thương. Còn người phối ngẫu, đến lượt nàng, cũng sẽ đáp trả lại bằng tình yêu dựa trên khuynh hướng căn bản của mình là nuôi dưỡng và nâng đỡ sự hiệp thông mà cả hai cùng chia sẻ.
Như vậy, rõ ràng là khái niệm ‘tùng phục hỗ tương’ đã giả định và không thể hoạt động được nếu không có sự thông đạt liên tục. Các nghiên cứu mới đây đã chứng minh rằng ở đâu cũng có những dị biệt phái tính thật đáng kể. Thế nhưng các dị biệt này tự chúng đã trở thành một mời gọi niềm thông cảm yêu thương sâu đậm hơn trong đời sống và sự quyết định của đôi lứa.
Chỉ cần lấy thí dụ về trường hợp đôi vợ chồng sử dụng phương pháp Kế Hoạch Hóa Gia Đình Tự Nhiên như là phương tiện điều hoà nhân số trong gia đình. Họ phải thông đạt với nhau để tiến tới quyết định chung về kế hoạch sinh sản. Khi đã chọn phương tiện này thì tất nhiên phải loại trừ các quyết định hàm hồ khác. Nhưng việc thông đạt này chứa chất toàn thể các dị biệt sinh học giữa dục tính và sự sinh sản của nam và nữ, giữa lối cấu tạo khác biệt về tâm lý và hoài vọng của mỗi bên về cách thức thân mật, cũng như giữa các phẩm tính cơ bản biệt loại phái tính vốn tạo nên người nam và người nữ. Nếu sáng kiến về tương quan vợ chồng thường xuất phát từ người chồng do bởi lối cấu tạo tâm lý-phái tính của chàng, thì rồi sẽ đến lúc được người vợ điều chỉnh lại, nhờ sự thông đạt tâm trạng của nàng, hầu tiến đến thoả thuận giữa hai bên là nên có thai hay không trong một thời điểm nào đó. Kiểu cách cùng thông đạt và quyết định sau khi đối thoại này, xét về nhiều phương diện, chính là đang ứng dụng thiết thực sự tùng phục hỗ tương trong từng ngày sống của đôi vợ chồng.
Nói thế không có nghĩa là hết mọi quyết định của vợ hay chồng cũng đều cần phải được sự thoả thuận của bên kia, nhưng những quyết định quan trọng có ảnh hưởng đến đời sống chung của đôi lứa thì chắc chắn cần phải có sự thoả thuận. Do bởi tính khí hoặc ân tặng cá nhân, vợ hay chồng có thể nhường trách nhiệm cho người kia quyết định mà không cần tham khảo. Thế nhưng, có những điều quá quan trọng trong đời sống vợ chồng không thể nhường cho riêng ai, cho dù mỗi bên có sự góp phần khác nhau.
Đó là trường hợp trách nhiệm làm cha mẹ. Trong khi nhìn nhận trách nhiệm làm cha mẹ là một thực tại được chia sẻ, Đức Gioan Phaolô II chủ trương rằng, xét về nhiều mặt, mẫu tính xem ra có phần đòi hỏi nhiều cố gắng hơn (MD số 18). Vai trò duy nhất của phụ nữ trong sự cấu thành một nhân vị mới không chỉ giới hạn ở việc mang thai hay ở thời kỳ sau khi sinh con, nhưng còn tiếp diễn suốt cuộc đời làm mẹ. Hơn hẳn người chồng, phụ nữ là những cô giáo đầu tiên và quan trọng nhất của con cái mình và thực hiện được nhiều sáng kiến trong việc đào tạo nhân cách của chúng. Có vẻ như đứng ngoài lề, các ông chồng, theo một nghĩa nào đó, phải học nơi vợ mình cách thức để làm người cha (MD số 18). Tuy nhiên, sự đóng góp tích cực của các ông để giúp con cái phát triển là điều thiết yếu cho cả gia đình lẫn xã hội. Hợp tác hỗ tương cho dù vẫn có những dị biệt cá nhân chính là một nguyên tắc không chỉ áp dụng cho hiệp thông vợ chồng mà còn cho cả cộng đồng tình yêu rộng lớn hơn trong gia đình.
KẾT LUẬN
Cuộc nghiên cứu này nhằm chứng tỏ rằng: cách thức Đức Gioan Phaolô II xác định tương quan giữa vợ chồng Kitô giáo dưới tiêu đề “tùng phục lẫn nhau vì lòng kính sợ Đức Kitô” chính là một bước khai triển chính thống học thuyết công giáo về hôn nhân. Giáo huấn này có nền tảng thánh kinh vững chắc và được đánh giá chính xác, không phải như một đối nghịch với các định thức chính thức trước đây, mà là đặt nó trong một bối cảnh thần học bao quát hơn và đầy đủ hơn. Trọng tâm của bối cảnh này là khi nói về nhân vị con người, dù nam hay nữ, thì đều quy hướng về Tam Vị một cách hiển nhiên. Với sự đồng hiện hữu của các dị biệt cá nhân trong duy nhất tính của nhân tính chung và trong cách thức “tính nguyên thủy” của họ, xét như nhân vị, bằng cách loại suy, phản ảnh được một số các phẩm tính của Ngôi Vị thần linh, ta thấy rõ ràng một căn bản thần học dẫn đến việc thấu hiểu người nam và người nữ đã được tạo dựng theo hình ảnh Thiên Chúa như thế nào.
Nhưng chính trong tương quan hôn nhân còn có thêm một chiều kích khác nữa—đó là chiều kích mà lối nói “tùng phục hỗ tương” đã tập chú vào. Sự thống nhất ý chí trong hiệp thông tình yêu vĩnh cửu giữa các Ngôi Vị thần linh và việc các Ngài tôn vinh lẫn nhau trong nhiệm cục cứu độ chính là mẫu mực cho vợ chồng trong sự quy hướng về nhau. Chính cùng một tình yêu này, tình yêu đã được Đức Kitô mang lại qua việc tự hiến trên thập giá và tuôn trào qua Chúa Thánh Thần, đã khiến cho vợ chồng kết hợp lại trong bí tích hôn phối hầu vinh danh, quy hướng và hy sinh đời sống cho nhau. Chính sự hiện diện của cùng một tình yêu mãnh liệt vô biên và ban sự sống này đã làm cho cả Tam Vị lẫn hôn nhân (vốn là phản ảnh của Tam Vị) trở nên một hiệp thông ngôi vị--communio personarum.
Cho dù ý thức sâu xa những dấu tàn phá mà tội lỗi đã ghi hằn trên người nam và người nữ, nhưng nhãn quan của Đức Gioan Phaolô II về tương quan nam nữ vẫn mang đậm nét hy vọng lạc quan. Với ngài, tự căn rễ, người nam và người nữ không được tạo dựng để làm đối thủ tranh chấp của nhau mà là để hợp tác với nhau. Cả hai phái chỉ thành toàn khi tự hiến bản thân mình, cho dù mang những hình thái khác biệt nhau. Những dị biệt nam nữ không phải để chia cắt họ mà là để thâu tóm họ lại trong hiệp thông tình yêu. Trong một nền văn hóa chất ngất chủ nghĩa cá nhân và bị xâu xé bởi các ý thức hệ lúc nào cũng chờ chực để chơi nước cờ đem hai phái tính ra đối chọi nhau, thì nhãn quan mà Đức Gioan Phaolô II đã cống hiến thực sự xuất hiện như là một tin mừng đích thực.
(Nguyên tác: John S. Grabowski, Ph.D. ‘Mutual Submission and Trinitarian Self-Giving’ đăng trong: www.salvationhistory.com)