Thánh Phao-lô kỳ thị phụ nữ?

Nếu người đọc những câu sau đây, tách rời nội dung Kinh Thánh hay xét ra ngoài bối cảnh và ít thông hiểu về Thánh Phao-lô thì hẳn có thể cho rằng ngài là một người đặc biệt ghét phụ nữ (Misogyne):

(Ep 5,22) 22 Người làm vợ hãy tùng phục chồng như tùng phục Chúa,
(Cl 3,18) 18 Người làm vợ hãy phục tùng chồng, như thế mới xứng đáng là người thuộc về Chúa.
(1Cr 14,34), 34 phụ nữ phải làm thinh trong các buổi họp, vì họ không được phép lên tiếng; trái lại, họ phải sống phục tùng như chính Lề Luật dạy.
(1Cr 7,4) 4 Vợ không có quyền trên thân xác mình, nhưng là chồng;
(1Cr 11,13-15)13 Anh em hãy tự xét xem: người nữ không che đầu mà cầu nguyện với Thiên Chúa thì có xứng hợp không?14 Chính thiên nhiên lại không dạy anh em rằng người nam mà để tóc dài là điều ô nhục,15 còn người nữ mà để tóc dài thì lại là vinh dự cho họ đó sao? Là vì Thiên Chúa ban cho người nữ mái tóc làm khăn che đầu.


Theo các tài liệu tham khảo về đề tài phụ nữ và thánh Phao-lô bằng Pháp ngữ tôi đếm tới 17 vị thần học hoặc tác giả, tất cả đều dẫn chứng và quả quyết rằng KHÔNG, thánh Phao lô không ghét phụ nữ.

Để nhận định các đoạn Kinh Thánh này, trước tiên có lẽ nên nhìn một cách tổng quát khái niệm của Thánh Nhân đối với nguồn tư tưởng Do Thái đang được phổ biến thời ấy và sau đó tìm hiểu các huấn dụ của ngài về tương quan vợ chồng trong hôn nhân.

Khái niệm của thánh Phao lô về tư tưởng Do Thái cổ điển

Quan điểm của Thánh Phao-lô trái hẳn với tín ngưởng, của văn hoá Do Thái đương thời. Người phụ nữ bị gán một cách khinh miệt vào hàng người già, trẻ con, tàn phế và nô lệ, không có một vai trò nào trong cộng đoàn tôn giáo, không có một quyền hạn nào trên phương diện pháp lý và dĩ nhiên không có quyền tự ý lỵ dị chồng.

Tư tưởng của Thánh nhân được phát biểu rõ ràng nhất trong chương 7, thư thứ nhất gửi tín hữu Cô-rin-tô. Đoạn Kinh Thánh này đề xướng những yếu tố cụ thể giải đáp các vấn đề liên quan đến hôn nhân và đời sống độc thân.

Đối với ngày nay, nguyên tắc bình quyền nam nữ được coi là thông lệ nhưng trong bối cảnh thời gian và không gian của Thánh Phao lô, đây là những nền tảng tín lý tiên khởi, rất “cách mạng” được rao giảng trong cộng đồng Ki-tô: 3 Chồng hãy làm tròn bổn phận đối với vợ, và vợ đối với chồng cũng vậy.4 Vợ không có quyền trên thân xác mình, nhưng là chồng; cũng vậy, chồng không có quyền trên thân xác mình, nhưng là vợ (1Cr 7,3-4).

Tương quan vợ chồng trong đời sống hôn nhân

Người nữ và người nam trước mặt Thiên Chúa: Thánh Phao-lô phục hồi hoàn toàn sự bình quyền nam nữ trong cặp vợ chồng trước mặt Thiên Chúa. Trong chương 11 của thư thứ nhất gửi tín hữu Cô-rin-tô, ngài đặt mối tương quan này hệ tại Thiên Chúa.

3 Nhưng tôi muốn anh em biết rằng thủ lãnh của người nam là Đức Ki-tô, thủ lãnh của người nữ là người nam, và thủ lãnh của Đức Ki-tô là Thiên Chúa.4 Phàm người nam nào cầu nguyện hoặc nói tiên tri mà che đầu, thì hạ nhục Đấng làm đầu mình.5 Phàm người nữ nào cầu nguyện hoặc nói tiên tri mà lại để đầu trần, thì làm nhục kẻ làm đầu mình, vì người ấy như thể trọc đầu vậy (1Cr 11,3-5).

Chữ “thủ lãnh” ở đây được dùng để dịch không sát nghĩa cho lắm một từ ngữ nguyên văn bằng tiếng Hy Lạp, vì thế khó hiểu. Chính thực từ ngữ này bao gồm nhiều nghĩa: “là đầu, thủ lãnh, nguyên khởi và nền tảng”. Thật ra ngài dựa vào tập quán Do Thái thời ấy, để đặt mối tương quan nam nữ đối với Thiên Chúa như một tam giác đều góc. Ngài biện minh một cách tế nhị và khéo léo:

Từ một tập quán ở chương 11 câu 13: 13 Anh em hãy tự xét xem: người nữ không che đầu mà cầu nguyện với Thiên Chúa thì có xứng hợp không?

ngài chuyển qua chứng cứ thiên nhiên, câu 14-15: 14 Chính thiên nhiên lại không dạy anh em rằng người nam mà để tóc dài là điều ô nhục,15 còn người nữ mà để tóc dài thì lại là vinh dự cho họ đó sao? Là vì Thiên Chúa ban cho người nữ mái tóc làm khăn che đầu.

Ngài tiếp tục luận chứng bằng cách khởi đầu bằng mô hình tam giác có đẳng cấp, để dẫn tới mô hình: trong Chúa, không nam thì chẳng có nữ, và không nữ thì chẳng có nam (1Cr 11,11).

Đây là một cách biện luận bằng Kinh Thánh (une preuve scripturaire):Thật vậy chúng ta hãy đọc câu (1Cr 11, 7-9; 12): 7 Người nam không được che đầu, bởi vì là hình ảnh và vinh quang của Thiên Chúa; còn người nữ là vinh quang của người nam.8 Thật vậy, không phải người nam tự người nữ mà có, nhưng người nữ tự người nam.9 Cũng chẳng phải người nam được dựng nên vì người nữ, nhưng người nữ vì người nam.
12 Thật thế, như người nữ tự người nam mà có, thì người nam cũng bởi người nữ mà sinh ra, và mọi sự đều tự Thiên Chúa mà có.


Hai câu này được đối chiếu với sách Sáng Thế:
1- (St 1,26-27): 26 Thiên Chúa phán: "Chúng ta hãy làm ra con người theo hình ảnh chúng ta, giống như chúng ta, để con người làm bá chủ cá biển, chim trời, gia súc, dã thú, tất cả mặt đất và mọi giống vật bò dưới đất."
27 Thiên Chúa sáng tạo con người theo hình ảnh mình,


2- (St 2,18; 22)
18 ĐỨC CHÚA là Thiên Chúa phán: "Con người ở một mình thì không tốt. Ta sẽ làm cho nó một trợ tá tương xứng với nó.22 ĐỨC CHÚA là Thiên Chúa lấy cái xương sườn đã rút từ con người ra, làm thành một người đàn bà và dẫn đến với con người.

Có lẽ Thánh nhân muốn nói (theo sách La Pléiade) người nam phải để đầu trần vì là hình ảnh, và vinh quang của Thiên Chúa. Người nữ là vinh quang của người nam. Không phải người nam từ người nữ mà ra nhưng chính là người nữ từ người nam mà ra. Không phải người nam được sinh ra cho người nữ mà ngược lại. Chính vì thế, như các thiên thần phải đội trên đầu một dấu chỉ biểu hiện quyền năng của mình, người phụ nữ mang trên đầu biểu vật tượng trưng cho “thủ lãnh” của mình, theo nghĩa chữ Hy Lạp được dẫn giải ở đoạn trên.

Xét như thế cũng chưa đủ để nói lên một nguyên tắc nền tảng, độc đáo của tư tưởng Thánh Phao-lô về bình quyền giữa nam nữ. Vì vậy trong hai câu sau ngài nói rõ hơn:

11 Tuy nhiên, trong Chúa, không nam thì chẳng có nữ, và không nữ thì chẳng có nam.12 Thật thế, như người nữ tự người nam mà có, thì người nam cũng bởi người nữ mà sinh ra, và mọi sự đều tự Thiên Chúa mà có (1Cr 11,11-12).

Nguyên tắc này chứng minh rõ ràng hơn, người phụ nữ có một vai trò mới trong việc phụng thờ và ngợi khen Thiên Chúa. Theo nhà thần học A. Jaubert thì Thiên Chúa ban cho nhân loại một đặc sủng được ca tụng Thiên Chúa, trong ấy nhiều khi người phụ nữ ngợi khen Thiên Chúa qua trung gian người nam, nhưng không vì thế mà phụ nữ bị hạ cấp. Đấng Ki-tô từ Thiên Chúa mà ra, và là “thủ lãnh” (đứng đầu) loài người, Ngài không hạ cấp loài người, trái lại Ngài giải thoát loài người để cùng dâng lời ca tụng Thiên Chúa. Người phụ nữ có quyền ca tụng Thiên Chúa, hay nói tiên tri trước cộng đoàn.

Vấn đề ở đây không phải là được quyền hay không được quyền dâng của lễ mà là mỗi người ca tụng Thiên Chúa với các đặc sủng có phẩm trật khác nhau. Tới đây chúng ta có thể hiểu câu (1Cr 14, 34):
34 Phụ nữ phải làm thinh trong các buổi họp, vì họ không được phép lên tiếng

Theo tác giả J. Murphy-O’Copnnor, câu này Thánh Phao-lô chỉ lập lại và tóm tắc ý của tín hữu thành Cô-rin-tô: Thật vậy ngài thường dùng cũng một cách nói ấy trong các câu sau đây với tín hữu Cô-rin-tô ở các chương khác, để tóm ý lại của cộng đồng đối tượng của bức thư để rồi sau đó ngài phát biểu ý riêng của ngài:

-1Cr 1,12) 12 Tôi muốn nói là trong anh em có những luận điệu như: "Tôi thuộc về ông Phao-lô, tôi thuộc về ông A-pô-lô, tôi thuộc về ông Kê-pha, tôi thuộc về Đức Ki-tô."
-(1Cr 6,12)12 "Tôi được phép làm mọi sự"; nhưng không phải mọi sự đều có ích.
-(1Cr 7,1) 1 Bây giờ, tôi đề cập tới những điều anh em đã viết cho tôi:


Ở đây, vì thế ngay sau khi ta đọc đoạn nói phụ nữ phải làm thinh. .. (1Cr 14, 34...) ngài mới có câu sau đây (1Cr 14,36), câu này để nói rõ những ý trên là của tín hữu Cô-rin-tô mà Thánh Phao-lô hỏi có phải phát xuất từ Thiên Chúa hay không, và gián tiếp ngài cho đó là các thành kiến lỗi thời.?:

36 Lời Thiên Chúa có phát xuất từ anh em không? Hay lời ấy chỉ đến với một mình anh em mà thôi? (1Cr 14,36)

Tóm lại, nếu cần phải minh chứng rằng Thánh Phao-lô không hề kỳ thị phụ nữ thì chúng ta có thể đọc trong Kinh Thánh, những dòng chính ngài viết cho các phụ nữ môn đệ đã từng cùng ngài rao giảng Tin Mừng và gầy dựng các cộng đồng Ki-tô tiên khởi với tất cả tấm lòng huynh đệ ưu ái và kính trọng như trong thư gởi tín hữu Rôma (Rm 16, 1; 3-5; 6; 16):

1 Tôi xin giới thiệu với anh em chị Phê-bê, người chị em của chúng tôi,. ..Chị có việc gì cần đến anh em, xin anh em giúp đỡ, vì chính chị cũng đã bảo trợ cho nhiều người, kể cả tôi nữa.
3 Tôi xin gửi lời thăm chị Pơ-rít-ca và anh A-qui-la, những người cộng tác với tôi để phục vụ Đức Ki-tô Giê-su;4 hai anh chị đã liều mất đầu để cứu mạng tôi. Không chỉ mình tôi, mà còn các Hội Thánh trong dân ngoại cũng phải mang ơn anh chị.5
6 Xin gửi lời thăm chị Ma-ri-a, người đã vất vả nhiều vì anh em.7 Xin gửi lời thăm các anh An-rô-ni-cô và Giu-ni-a, bà con với tôi, và đã từng ngồi tù với tôi; các anh là những người xuất sắc trong các Tông Đồ,. ..
16 Anh em hãy hôn chào nhau một cách thánh thiện. Tất cả các Hội Thánh Đức Ki-tô gửi lời chào anh em.


Rút từ bài học này tôi càng cảm nghiệm được Chúa luôn luôn mặc khải cho con người những gì con người có thể hiểu và chấp nhận được, qua Thánh Phao-lô Chúa đã đặt những viên gạch đầu tiên của vai trò người phụ nữ ngày nay, ngay từ trong xã hội Do Thái thế kỷ thứ nhất.

Cũng như trong Cựu Ước khi con người còn nghĩ tới báo oán như thời Ca-in:

(St 4,23-24) Ông La-méc khoe với các bà vợ, vì một vết thưong ông đã giết một người, vì một chút sây sát đã giết một đứa trẻ và hứa sẽ báo thù còn hơn người ta trả thù cho Ca-in gấp bảy, ông thì gấp bảy mươi bảy lần !

Thời ấy Thiên Chúa dạy chỉ được “mắt trả mắt, răng đền răng” mà thôi, cho đến khi Chúa Kitô đến Ngài mới dạy đưa má bên trái cho tát khi bị tát bên má phải, và phải yêu thương kẻ thù.

Vì thế với ánh sáng của Chúa Giêsu Phục Sinh mà giả thử chúng ta còn nghĩ là “mắt đền mắt, răng đền răng “ thì đìều đó dĩ nhiên chướng tai gai mắt như những người đọc những câu của Thánh Phao-lô về phụ nữ nêu trên đầu bài với tâm lý ngày nay.