Vợ Chồng Tùng Phục Nhau và Tự Hiến Cho Nhau Nhìn trong Ánh Sáng Mầu Nhiệm Tam Vị (2)



Dẫn Nhập

Cô cháu gái nói với tôi nhân lúc sửa soạn bài đọc lễ cưới: “Cậu chọn bài đọc nào cũng được, nhưng nhớ đừng lấy cái bài có câu Thánh Phaolô bảo rằng ‘Người làm vợ hãy tùng phục chồng như tùng phục Thiên Chúa.’” Tôi hỏi: “Tại sao vậy?” “Cậu không thấy như vậy là tiếp tay cho lối sống ‘chồng chúa, vợ tôi’ sao? Thời giải phóng phụ nữ mà ăn nói kiểu ấy thì làm sao nghe được?” Tôi chống chế theo kiểu con nhà có đạo gốc: “Tại cháu chưa hiểu đó thôi, đến như Chúa Giêsu mà cũng còn phục tùng Chúa Cha nữa cơ mà.”

Bẵng đi một thời gian, tình cờ đọc được bài viết của John S. Grabowski Ph.D., giáo sư thần học tại Đại học Công Giáo Hoa Kỳ (CUA) mang tựa đề ‘Mutual Submission and Trinitarian Self-Giving’ tôi mới thấy rõ được câu trả lời chính xác cho thắc mắc của cô cháu gái, và có lẽ cũng là của nhiều người có quan điểm tương tự.

Mừng Chúa Lên Trời, đón Chúa Thánh Thần Hiện Xuống, cử hành lễ Chúa Ba Ngôi, tôn thờ tình thương của Chúa Kitô trong bí tích Thánh Thể, hân hoan mừng ngày Hiền Mẫu, tất cả đều xuất hiện trong tháng Năm năm nay, cũng là tháng Hoa Mẹ. Một trùng phùng tuyệt vời hiếm hoi và khôn tả. Tất cả đều minh họa cho tình yêu tự hiến, dù đó là tình thương muôn thuở nơi Chúa Cha, hay là tình yêu hỗ tương của Cha và Con, biểu hiện nơi Chúa Thánh Thần, hoặc là tình yêu hy sinh cho đến chết trên thập tự của Chúa Con, hay tình yêu vâng phục của người Nữ Tỳ trung trinh hoặc của người mẹ trần thế lúc nào cũng tần tảo hy sinh cho chồng, cho con.


GIÁO HUẤN

ĐGH Gioan Phaolô II không phải là không ý thức về quan điểm của nền thần học thánh kinh tân thời, ngài còn dựa trên các thành quả của nền thần học ấy để đưa ra các phân tích bản văn. Tuy nhiên, giáo huấn của ngài được đặt trong một văn mạch mang tính giáo luật và thần học rộng lớn hơn.

Khởi điểm giáo lý của ngài về thân xác chính là những chương mở đầu sách Sáng Thế, qua đó ngài đưa ta trở về với ý định nguyên thủy của Thiên Chúa khi sáng tạo sự sống con người, được tiết lộ ngay tự “thuở ban đầu,” cũng như mối rạn nứt mà tội lỗi đã đem vào sự sống ấy. Khi đọc những dòng ghi lại lời Giavê phán với người phụ nữ sau khi ông bà nguyên tổ phạm tội rằng, ‘người ấy sẽ cai trị ngươi’ (Gen 3:16), Đức cố GH đã nhìn thấy việc người đàn ông thống trị vợ mình được mô tả trong hôn nhân và sự phân biệt đối xử dành cho phụ nữ được công bố trong xã hội (MD số 10).

Hậu quả của tội lỗi trong tương quan nam-nữ thì có rất nhiều và còn đậm nét bi thảm nữa. Thay cho mối dây hợp nhất của hai người mang tính chất giao ước, trong đó tình yêu phu phụ liên kết người nam và người nữ như hai nhân vị bình đẳng cho dù vẫn mang nét khác biệt không thể giản lược được, thì tội lỗi đã làm băng hoại mối dây hợp nhất và bình đẳng này. Thay cho việc tự hiến cho nhau—vốn tạo nên căn bản hiệp thông ngôi vị trong hôn nhân—thì tội lỗi làm méo mó đi cái nhận thức về người khác hầu biến họ thành đối tượng để lợi dụng. Từ đó, ước muốn phục vụ tình yêu đã bị bóp méo bởi ba thứ dục vọng: “dục vọng của tính xác thịt, dục vọng của đôi mắt, và thói cậy mình có của” (1Jn 2:16; MD số 10). Kết quả là phẩm giá của cả hai phái đều bị hạ giảm, nhưng phía phụ nữ thì bị hậu quả nặng nề hơn, bởi vì đã trở thành đối tượng cho người đàn ông thống trị.

Chính trong hoàn cảnh tha hóa phái tính này mà ta có thể thấu hiểu được hiệu quả biệt loại của ơn cứu độ Chúa Kitô mang lại cho tương quan nam nữ. Do bởi ân sủng không chỉ đền bồi những thiệt hại do tội lỗi gây ra nơi con người và hàn gắn sự phân cách của con người với Thiên Chúa, mà còn thuyên chữa và phục hồi những tương quan liên chủ thể ngõ hầu con người có thể nhận ra được ý định nguyên thủy của Thiên Chúa. Đức Gioan Phaolô II viết: “Theo một nghĩa nào đó, tự căn rễ, ơn cứu độ phục hồi sự thiện hảo mà tội lỗi đã làm suy giảm một cách đáng kể cũng như khôi phục lại di sản của nó trong lịch sử nhân loại” (MD số 11). Điều này bao gồm việc loại bỏ sự đối nghịch và bất bình đẳng giữa nam và nữ, bởi lẽ “trong Chúa Giêsu Kitô…không còn nam hay nữ (MD số 11; xem Gal 3:28). Nơi Mẹ Maria là Evà mới và nơi người Con Thiên Chúa là Ađam mới mà Mẹ cưu mang, ta thấy được sự mạc khải tuyệt vời về người nam và người nữ, vốn không hề bị chi phối bởi quyền lực tha hoá của tội lỗi. Tuy nhiên, mạc khải này không phải chỉ mang nét tượng trưng; nó thực sự mang lại hiệu quả trong việc chuyển thông ân sủng của Giao Ước mới mà mầu nhiệm Nhập Thể đã cống hiến. Đây cũng chính là ân sủng mà bí tích hôn nhân đã đem lại.

Đọc thư Êphêsô 5:21-33, Đức Gioan Phaolô II ghi nhận rằng bản văn chuyển động theo hai hướng cùng một lúc. Một mặt, nó nói đến tương quan nam nữ là thụ tạo được dựng nên theo hình ảnh của Thiên Chúa và được mời gọi để hình thành một hiệp thông ngôi vị qua tình yêu phu phụ mà Thiên Chúa đã an bài cho hôn nhân ngay tự “thuở ban đầu.” Mặt khác, nó xây dựng và gói ghém hình ảnh hôn phối được Cựu Ước xử dụng hầu mô tả mối tương quan giữa Thiên Chúa và dân Israel trong khung cảnh giao ước, đồng thời hướng chuyển nó về mối tương quan giữa Chúa Kitô và Hội Thánh. Cả hai phương diện này cùng nhau tạo thành cái gọi là ‘mầu nhiệm vĩ đại’ (sacramentum magnum) được mô tả trong Êphêsô 5:32. Cho dù căn bản loại suy giữa con người và Thiên Chúa vẫn thấy có trong bản văn vừa nói, nhưng cũng không thể loại bỏ đi sự đứt đoạn của hai cấp bậc này (MD số 23).

Chính vì dựa trên sự phân biệt hai cấp bậc này nơi bản văn mà Đức Gioan Phaolô II đã khẳng định rằng: “trong tương quan giữa Chúa Kitô và Hội Thánh, thì sự tùng phục chỉ thấy ở nơi Hội Thánh, còn trong tương quan vợ chồng thì sự phục tùng không hề là đơn phương mà là hỗ tương” (MD số 24). Đức Gioan Phaolô II đã đặt “tính chất mới mẻ của Tin Mừng” dựa trên một số các yếu tố. Trước hết, ngài ghi nhận sự quy chiếu rõ ràng về “việc tùng phục lẫn nhau vì lòng kính sợ Đức Kitô,” là câu mở đầu đoạn văn (Eph 5:21). Tiếp đến, ngài nêu bật phẩm giá và nhân vị bình đẳng của nữ giới bộc lộ trong các đoạn trình thuật về tạo dựng mà thư Êphêsô đã trích dẫn từ sách Sáng Thế 2:24 (Eph 5:31). Tiếp nữa, ngài nhấn mạnh đến tình yêu hy sinh người chồng dành cho vợ mình (5:25), điều này ăn khớp với “phong cách” của Đức Kitô khi cư xử với phụ nữ như là những ngôi vị bình đẳng được mô tả trong Tin Mừng (xem MD các số 12-16). Do đó, tuy vẫn nhìn nhận một số những yếu tố văn hoá tác động trong lời hướng dẫn các người vợ nên phục tùng chồng mình như là đầu (5:22-23), Đức Gioan Phaolô II luôn nhấn mạnh rằng lời hướng dẫn này “phải được thấu hiểu và thực hành theo một phương thức mới là: tùng phục lẫn nhau vì lòng kính sợ Đức Kitô” (MD số 24; Eph 5:21).

Chắc hẳn Đức Gioan Phaolô II cũng ý thức được sự mới mẻ của lời giáo huấn này so với những định thức trước đây, thế nhưng ngài chủ trương rằng tính chất hỗ tương của việc tùng phục trong tương quan vợ chồng chính là một phần của “nét đặc thù (ethos) nơi công cuộc Cứu chuộc.” Tuy vậy, nét mới mẻ của sứ điệp Tin Mừng này cần phải có thời gian mới có thể “từ từ thấm sâu vào cõi lòng, lương tâm, lối hành xử và phong tục tập quán được” (MD số 24). Về vấn đề nô lệ cũng vậy, tuy Phaolô dậy rằng trong Đức Kitô “không còn nô lệ hay tự do” (Gal 3:28), nhưng “phải kinh qua biết bao nhiêu thế hệ thì cái nguyên tắc ấy mới có thể thực hiện được trong lịch sử nhân loại qua việc bãi bỏ chế độ nô lệ” (MD số 24). Như thế có nghĩa là Đức Gioan Phaolô II đã nhìn thấy nơi giáo huấn này một bước chính thống khai triển nền giáo lý vừa được công bố, vốn xuất phát từ chính trọng tâm sứ điệp Tin Mừng và đồng thời có nền tảng tự trong bản văn của thư Êphêsô.

Nhưng liệu thẩm định như vậy có chính xác không? So với các giáo huấn trước đây của Hội Thánh, đây có thể coi là một khai triển chính thống cho thấy một tính liên tục hữu cơ gắn chặt với các định thức trước đây chăng? Hay vì mới mẻ quá mà lời giáo huấn này biểu thị một đoạn tuyệt đối với giáo huấn trước đây, do đó mà tạo ra một trường hợp đứt đoạn về tín lý? Chẳng hạn như Đức Piô XI, trong thông điệp “Casti connubii” (vợ chồng thánh khiết), trong khi vạch định một số lằn mức cho việc làm đầu của người chồng và cho người vợ một ưu quyền nào đó trong trật tự tình yêu, cũng trưng dẫn việc người vợ phục tùng chồng mình trong đoạn Ephêsô 5:22-23 để xác nhận “ưu quyền của người chồng trên người vợ và con cái, đồng thời với việc người vợ sẵn sàng phục tùng chồng.” Hiển nhiên là có sự tương thuộc và tính hỗ tương bao hàm trong hình ảnh mà Đức Piô dùng ám chỉ người chồng là đầu, còn người vợ là trái tim, thế nhưng ta vẫn chưa thấy được điều khơi gợi việc “tùng phục lẫn nhau” ở đâu cả.

Để trả lời cho vấn nạn quan trọng này, cần ghi nhận rằng Đức Gioan Phaolô II không dậy là phải chối bỏ định thức trước đây. Có nghĩa là, đối với ngài, phụ nữ vẫn phải tùng phục chồng mình. Tuy nhiên, ngài thêm ngay rằng, chỉ cần dựa vào nền tảng bản văn mà thôi, ta cũng thấy người đàn ông, trong tình yêu, cũng có bổn phận tương tự là phục tùng vợ mình. Như vậy, ngài không hề phủ nhận định thức trước đây, mà chỉ đặt nó trong một bối cảnh bao quát hơn. Ngài chủ trương đây là lối hiểu sâu xa hơn không những về bản văn, mà còn về toàn thể “nét đặc thù nơi công cuộc Cứu chuộc,” vốn được tạo nên do áp lực đặt ra các vấn nạn mới của xã hội liên quan đến phẩm giá của nữ giới.

Thật thế, Đức Gioan Phaolô II đã lấy lại và khai triển thêm điều gợi ý của Đức Piô về ưu quyền của nữ giới trong trật tự tình yêu. Tuy nhiên, ở đây một lần nữa, ngài đưa quan điểm này vào trong một bối cảnh thần học bao quát hơn để cho nền nhân học về nam nữ được đặt vào ngay trong lòng mầu nhiệm đời sống Tam Vị. Chính điểm quy chiếu này về Tam Vị đã cống hiến cho ta cái nền tảng thần học sâu xa nhất của việc khai triển giáo lý ấy.

Còn một vấn nạn chung khác nữa đặt ra cho nhãn quan của Đức Gioan Phaolô II về quyền bính hỗ tương bên trong tương quan hôn nhân, đó là, về mặt thực tế, không thể có một thứ quyền bính kiểu đó được. Trong bất kỳ một tập thể nào, để tránh lộn xộn kiểu vô chính phủ, thì chỉ có thể có một nguồn quyền bính chịu trách nhiệm về mọi quyết định quan trọng mà thôi. Vấn nạn này tiêu biểu cho một số trí óc thượng thặng trong dòng tư tưởng Hy Lạp cổ điển.

Nhưng dù thế nào chăng nữa, luồng tư tưởng như trên cũng chỉ mang tính ngoại giáo. Và cũng giống như mọi tư tưởng ngoại giáo khác, nó đặt trên nền tảng của một nghịch lý giả định về phái tính, và ở một tầng sâu hơn, là vấn đề bình đẳng đối lại với sự hợp nhất. Ở tận gốc rễ nghịch lý này là vấn đề gai góc duy nhất của khoa triết học thượng cổ—đó là vấn đề một và nhiều. Tương đồng hay dị biệt, bình đằng hay hợp nhất: cái nào căn bản hơn so với thực tại? Câu hỏi này chính là lằn ranh phân cách nhiều trường phái trong trào lưu tư tưởng thượng cổ.

Đứng trước câu hỏi hóc búa tưởng như không có câu trả lời này, mạc khải Kitô giáo về Tam Vị đã cống hiến một giải pháp thật bất ngờ. Chính trong mầu nhiệm đời sống Tam Vị, ta nhận ra được tính bình đẳng tuyệt đối nơi bản tính Thiên Chúa đồng hiện hữu với những dị biệt bất khả giản lược giữa các Ngôi Vị thần linh. Mỗi Ngôi trong Ba Ngôi đều là Thiên Chúa một cách bình đẳng và toàn vẹn; mỗi Ngôi đều sở hữu toàn vẹn bản tính Thiên Chuá. Thế nhưng các tương quan biệt loại này (Cha—Con—Thánh Thần) đã khiến các ngài trở thành hoàn toàn độc đáo không thể giản lược vào nhau ngay trong sự hiệp thông đời sống và tình yêu thần linh. Như vậy, mầu nhiệm Tam Vị phá vỡ cái cực tính giữa hợp nhất và dị biệt, cho thấy cả hai đều cùng căn bản như nhau. Hơn nữa, trong tương quan của các Ngôi Vị thần linh này, được bộc lộ trong nhiệm cục cứu độ, ta còn nhìn thấy sâu xa hơn cái ý nghĩa của sự tùng phục hỗ tương.

Một số truyền thống Tân Ước cho rằng mục tiêu tối hậu khi Chúa Cha tạo dựng vũ trụ là để cho loài người một lòng một trí tôn vinh Con Chí Ái của Ngài (xem Jn 17:24; Eph 1:9-10). Sự tôn vinh này thể hiện rõ rệt nhất trên thập giá và trong cuộc Phục sinh của Đức Giêsu (xem Lk 24:26; Jn 13:31b-32; Acts 3:13; 1Pt 1:21). Như Gioan đặc biệt đề cập đến, Chúa Con không hề tìm vinh quang cho chính mình, mà cho Chúa Cha Đấng đã sai Ngài (xem Jn 8:50; 12:28). Cũng theo Gioan, bằng nhiều cách thức khác nhau, việc Chúa Cha và Chúa Con hợp tác trong mầu nhiệm Nhập Thể và Thập Giá của Chúa Con chính là một bằng chứng hai Vị tôn vinh lẫn nhau (Jn 13:31b-32; 17:1, 22). Cũng thế, vai trò của Chúa Thánh Thần chính là thể hiện chương trình của Chúa Cha bằng việc hiện tại hóa Ngôi Vị và công trình của Chúa Con, và như thế để tôn vinh Ngài (xem Jn 16:13-14; 2Cor 3:18).

Trong việc liên tục tôn vinh lẫn nhau nơi nhiệm cục cứu độ và quy hướng về nhau trong tình yêu viên mãn vô biên, Tam Vị biểu tỏ toàn vẹn ý nghĩa của sự tùng phục lẫn nhau. Chính trong cùng một ý chí hiện hữu giữa Ba Ngôi trong sự hiệp thông tình yêu ‘ad intra’ (tự nội) và trong các hoạt động ‘ad extra’ (hướng ngoại), ta như chứng kiến được cái mẫu mực tối hậu cho việc ‘nên một thịt một xương’ của đôi vợ chồng (xem Gen 2:24; Eph 5:31). Tình yêu trao ban cho nhau, đuợc biến đổi bởi hồng ân thập giá, ngày càng liên kết hai chủ thể con người nên một với nhau, cho dù cả hai vẫn khác biệt nhau và đầy tính tự do, để cho họ không còn lựa chọn cho riêng mình nữa, mà là cho người khác kia. Bởi lý do này mà Đức Gioan Phaolô II đã mô tả sự kết hợp tình yêu hôn nhân như là một ‘communio personarum’ (hiệp thông ngôi vị) vốn phản ảnh chính đời sống bên trong của Tam Vị (xem MD số 7).

Tuy thế, sự quy hướng về nhau trong hiệp thông tình yêu không hề xóa bỏ nét khác biệt thực sự, cả khi nói về Tam Vị hay tương quan giữa nam và nữ. Bình đẳng bản chất và phẩm giá không nhất thiết có nghĩa là căn cước tính. Bên trong đời sống Tam Vị, ta thấy có một ‘ordo processionum’ (trật tự nhiệm xuất). Chúa Cha là nguồn sự sống, Chúa Con là phản ảnh hoàn hảo của Chúa Cha, và Chúa Thánh Thần hoàn tất đầy đủ hay làm trọn vẹn tình yêu hỗ tương này. Trên bình diện con người cũng vậy, việc tùng phục lẫn nhau được thể hiện tùy theo phái tính và qua các phẩm cách cố hữu cũng như qua nét độc đáo và ân tặng riêng của mỗi người. Xem thế, việc vợ chồng Kitô hữu tùng phục nhau xuất phát từ chính “tính nguyên thủy” của người nam hoặc người nữ.

(còn tiếp)