Sa Chước Cám Dỗ

Hai lời cuối cùng của Kinh Lạy Cha xin cho được thoát cám dỗ và sự dữ. Có người cho lời cầu xin đầu trong hai lời cầu xin này xem ra có vẻ nghịch lý. Làm thế nào ta lại có thể cầu xin để đừng bị cám dỗ cho được?

Thân Phận Con Người

Trước nhất, vì đã làm người là phải bị cám dỗ. Cám dỗ là thành phần chủ yếu của nhân sinh, đến nỗi khó mà quan niệm được đời người mà lại không có cám dỗ. Như Origen trong Về Cầu Nguyện 29.5 từng cho hay: Bản Bẩy Mươi bằng Tiếng Hy Lạp đã dịch câu 7.1 Sách Gióp như sau: “Đời người trên trần gian há không phải là cơn cám dỗ liên tục hay sao?”. Ông tiếp: “Đã có ai nghĩ được người nào đó không bị cám dỗ bao giờ từ ngày anh ta tới tuổi có trí khôn? Có lúc nào người ấy lại biết chắc rằng mình không phải lao đao chiến đấu với tội lỗi không?”. Cám dỗ hay thử thách gắn liền với thân phận con người trên trần gian. Đấy là chủ đề hết sức quen thuộc với các soạn giả Thánh Kinh.

Gióp nói tiếp: “Người có thử thách tôi trong lò, tôi mới nên như vàng tinh luyện” (23:10). Còn thánh Giacôbê thì cho hay: “anh em hãy tự cho mình chan chứa niềm vui khi gặp thử thách trăm chiều. Vì như anh em biết, đức tin có vượt qua thử thách mới sinh ra lòng kiên nhẫn ” (Gc 1:2-3). Thánh Phêrô cũng cùng một luồng tư tưởng ấy: “Trong thời ấy, anh em sẽ được hân hoan vui mừng, mặc dầu còn phải ưu phiền ít lâu giữa trăm chiều thử thách. Những thử thách đó nhằm tinh luyện đức tin của anh em là thứ qúy hơn vàng gấp bội - vàng là của phù vân, mà còn phải chịu thử lửa. Nhờ thế, khi Chúa Giêsu Kitô tỏ hiện, đức tin đã được tinh luyện đó sẽ trở thành lời khen ngợi, và đem lại vinh quang, danh dự” (1Pr 1:6-7).

Mặt khác, Lời Kinh Latinh trong phục vụ, cũng như trong bản Phổ Thông Latinh, đã dịch câu này như sau: Et ne nos inducas in tentationem (Và đừng dẫn chúng con vào cơn cám dỗ). Nhiều bản dịch tiếng Anh, nhất là bản văn dùng trong Phụng Vụ, cũng đã dịch như thế: and lead us not into temptation. Cầu xin như thế chả hóa ra ta ngầm có ý nói: Thiên Chúa là người chịu trách nhiệm trong mưu toan cám dỗ con người chúng ta hay sao? Điều này hiển nhiên là không phải. Như Tertullian từng đề cập trong Về Cầu Nguyện 8: “Không nên nghĩ rằng Thiên Chúa muốn cám dỗ ai, như thể Người không biết niềm tin của họ hay muốn tìm cách phá đổ niềm tin ấy đi”.

Thế mới biết cha ông người Việt chúng ta dịch lời cầu xin này vừa rất thoáng vừa tránh được những điểm khó hiểu như trên đây. Thực vậy, câu chúng ta thường đọc hàng ngày trong Phụng Vụ là: Xin chớ để chúng con sa chước cám dỗ, nhưng cứu chúng con cho khỏi sự dữ. Tuy các bản Thánh Kinh tiếng Việt có dịch hơi khác, như bản Tin Lành dùng chữ “điều ác” thay cho “sự dữ”, bản của Cha Nguyễn Thế Thuấn dùng “cơn thử thách” thay cho “ chước cám dỗ” và “qủy dữ” thay cho “sự dữ” nhưng tựu chung, đều đã không dịch từng chữ các lời trong phụng vụ Latinh và trong bản Phổ Thông, nhất là đối với lời đầu trong hai lời cầu xin này, mà đều dịch là “đừng (chớ) để chúng con sa chước (cơn) cám dỗ”…

Cám Dỗ Hay Thử Thách

Trong các bản tiếng Anh cũng như các bản tiếng Việt, có bản dùng động từ “cám dỗ”, có bản dùng động từ “thử thách”. Cha An Sơn Vị cho rằng: “cám dỗ đây không phải là cơn thử thách, như trong Cựu Ước, Thiên Chúa đã thử ông Áp-ra-ham (Kn 22:1; 1M 2:52; Hc 44:20; Hi 11:17) hay dân Ngài (Xh 15:25; 16:4; 20:20; Tl 8:2; 13:4; Qa 2:22; 3:1,4; Kng 11:9). Đó là cơn thử thách, như trong Tân Ước, Sa-tan dùng để làm hư con người (1C 7:5; 1Th 3:5; 1P 5:5-9; Kh 2:10; xem Luca 22:31). Vì thế trong Tân Ước, không bao giờ nói là Thiên Chúa cám dỗ và Gc 1:13 loại trừ điều ấy rõ ràng (x. Hc 15:11-12). Chúa chỉ làm thinh cho ta gặp cảnh ngộ nên dịp cám dỗ cho ta, như Thánh Linh dẫn Đức Giê-su lên hoang địa cho Sa-tan cám dỗ Người (Mt 4:1)”.

Thực ra, trong tiếng Hy Lạp, cám dỗ hay thử thách đều cùng một chữ peirasmos. Chữ này là một danh từ, và cũng giống mọi danh từ Hy Ngữ tận cùng bằng –asmos, nó chỉ một diễn trình. Chữ này rất thông thường trong văn chương Thánh Kinh, nhưng không thông thường trong văn chương thế tục. Và ta sẽ có được một ý niệm căn bản tốt hơn đàng sau chữ này và đàng sau lời cầu xin này, nếu ta chịu khó xem sét nó dưới dạng động từ là peirazein.

i. Động từ ấy nghĩa khá rộng. Nó có thể có nghĩa như ráng, hay thử làm một điều gì, như trong Công Vụ 16:7: “các ông thử vào miền Bi-thy-ni-a”. Nghĩa này không ăn nhằm gì tới điều chúng ta đang bàn ở đây.

ii. Thông thường hơn, nó có nghĩa là thử thách. Trong nghĩa này, nó đồng nghĩa với động từ dokimazein là động từ hay được dùng để chỉ việc thử phẩm chất của kim loại, thử tiền cắc xem là thật hay giả. Như thế, peirazein được dùng chỉ diễn trình thử hiệu quả của chất thuốc bằng cách đưa nó vào sử dụng. Sách cũng chép rằng khi Nữ Hoàng Sheba nghe lời đồn về sự khôn ngoan của Vua Sa-lô-môn, bà muốn đến “để thử nhà vua bằng những câu hỏi hắc búa” (1V 10:1; hãy so sánh với 2SB 9:1). Cũng có lời chép rằng Giáo Hội tại Êphêsô từng thử những người tự nhận là tông đồ và đã khám phá ra họ là tông đồ giả mạo (Kh 2:2). Câu 13:5 trong thư 2 Côrintô là một thí dụ rõ hơn cả: “Hãy thử (peirazein) chính anh em xem anh em có giữ vững đức tin của mình hay không. Hãy tự thử (dokimazein) lấy mình”. Tóm lại, peirazein chỉ diễn trình thử xem điều gì đó là thật hay giả, người nào đó là thật hay giả để mà chấp nhận hay bác khước.

iii. Trong Thánh Kinh, peirazein được dùng chỉ việc Thiên Chúa thử thách con người xem đức tin của họ có chân chính, trung thành và đích thực hay không. Vì có lệnh cấm không được lắng nghe tiên tri giả hay những anh chàng sống bằng mộng mơ hão huyền. Khi những kẻ như thế xuất hiện, “Chúa là Thiên Chúa các ngươi sẽ thử để biết xem các ngươi có yêu mến Chúa là Thiên Chúa các ngươi với hết trái tim và hết linh hồn các ngươi hay không” (Đnl 13:3). Cũng thế, Thiên Chúa đã thử Abraham bằng cách đòi ông phải sát tế Isaac (St 22:1). Nhưng Thiên Chúa không để chúng ta bị thử thách quá sức chịu đựng của chúng ta (1Cor 10:13).

Nghĩa này rất quan trọng, vì nó cũng là nghĩa của cám dỗ trong lời Kinh Lạy Cha này. Bản của Cha Nguyễn Thế Thuấn rất có lý, khi dùng chữ thử thách. Bản Authorised Version của Anh dùng lẫn lộn giữa hai động từ test (thử thách) và tempt (cám dỗ). Bản này dịch câu Sáng Thế 22:1 là “Thiên Chúa cám dỗ Abraham”. Làm sao Thiên Chúa lại có thể cám dỗ hay rù quyến Abraham phạm tội cho được? Người chỉ thử thách ông mà thôi.

Thánh Kinh thường xuyên dùng peirazein chỉ việc Thiên Chúa đặt con người vào một hoàn cảnh thử thách, một hoàn cảnh anh ta có thể sa ngã, nhưng Người không muốn anh ta sa ngã, một hoàn cảnh anh ta có thể tự hủy hoại, nhưng Người muốn anh ta thoát được hoàn cảnh ấy và được mạnh sức và phong phú hơn về đường thiêng liêng. Nó được dùng chỉ một hoàn cảnh trong đó có sự cám dỗ bất trung thật đấy, nhưng đặc điểm của hoàn cảnh ấy lại không phải là một cám dỗ cho bằng một cuộc thử thách.

iv. Trong Tân Ước, peirazein hay được dùng chỉ hành động của những người mưu mô hạch hỏi người khác hay thử thách một ai đó với ý định cố ý bắt họ tại trận hay khiến họ phải tự lên án chính mình. Các luật sĩ và biệt phái liên tiếp làm cái hành vi này mà đặt ra cho Chúa Giêsu nhiều câu hỏi với mục đích để Người sa lưới (Mt 16:1; 19:3; 12:18).

v. Peirazein cũng thường được dùng chỉ việc trực tiếp và cố ý quyến rũ người ta phạm tội, nghĩa là cám dỗ thực sự. Vợ chồng không được từ chối các quyền tự nhiên đối với nhau, ngoại trừ lúc cả hai đều nhất trí, “kẻo Satan cám dỗ anh em qua việc mất tự chủ” (1 Cor 7:5). Theo nghĩa này, Satan quả là tên ho peirazon, tên cám dỗ thượng thặng. Cũng trong nghĩa này, Ma Qủy đã cám dỗ Chúa Giêsu trong hoang địa (Mt 4:1-11). Nghĩa này tất nhiên là nghĩa xấu vì chủ ý của hành động là lừa người ta vào chỗ phạm tội.

vi. Cũng còn một nghĩa nữa của peirazein được cả Cựu Ước lẫn Tân Ước sử dụng, tuy không trực tiếp ăn nhằm với nghĩa ta đang bàn ở đây. Thánh Kinh hay nói đến việc con người thử thách Thiên Chúa (Xh 4:7; Ds 14:22; Is 7:12; Mt 4:7; Cv 15:10). Ý niệm đứng đàng sau động từ này là con người muốn coi xem họ có thể tiến xa đến mức nào với Thiên Chúa. Họ muốn xem Người dùng uy quyền của Người ra sao, nói nôm na, họ muốn xem xem đến mức nào họ không bị trừng phạt!

Chính vì có quá nhiều nghĩa như thế mà các bản dịch đã phải khác nhau như trên. Bản thì nghiêng về cám dỗ, bản lại nghiêng về thử thách. Ai cũng thấy rõ Thiên Chúa không thể có hành vi xấu được, nên không thể hiểu rằng Người xúi giục con người phạm tội chống lại Người. Chính ý tưởng căn bản ấy đã giúp cha ông chúng ta không dịch “inducas” là “dẫn vào” mà là “khỏi sa”, chớ sa chước cám dỗ.

Ba Điều về Cám Dỗ

Theo quan điểm Kitô giáo, ba điều sau đây có thể nói về cám dỗ

i. Cám dỗ là phổ quát và không thể tránh khỏi, nó là phần thiết yếu trong thân phận làm người. Thành ra, không một người nào sống trên trần gian mà lại không cần cầu lời xin này.

ii. Cám dỗ không nằm ngoài kế hoạch và mục tiêu của Thiên Chúa. Nó là thành phần trong cơ cấu sự sống và lối sống mà Thiên Chúa dùng để làm cho cuộc sống trở thành điều Người muốn. Sự thử thách của cám dỗ là yếu tố cấu thành ra tư cách làm người.

iii. Trong cám dỗ, luôn luôn có một yếu tố thử thách. Trong yếu tính, nó luôn là một cuộc thử nghiệm. Ngay khi là một rù quyến để phạm tội, nó vẫn là một thử nghiệm về sức đề kháng của một con người.

Nên quả là đúng khi nói rằng cám dỗ không hẳn là một hình phạt cho tư cách làm người cho bằng đó là vinh quang của tư cách ấy. Bởi qua nó, con người trở thành lực sĩ của Thiên Chúa.

iv. Tưởng cũng nên thêm một điều nữa là bốn. Chính sự kiện ta xin lời xin này cũng đủ chứng minh rằng ta ý thức rõ ta không thể tự mình đương đầu với cám dỗ được, mà ta cần một sức mạnh không phải của ta mới có thể thoát ra khỏi thử thách ấy trong chiến thắng.

Khi nắm vững quan điểm về cám dỗ trên của Thánh Kinh, vấn nạn của chúng ta trở nên dễ giải đáp hơn nhiều. Gần như không khó khăn gì nếu ta gán việc cám dỗ, hay peirasmos, cho hành động của Thiên Chúa; ta dễ nhận ra việc cám dỗ ấy nằm trong sự quan phòng của Chúa như thế nào.

Sa Chước Cám Dỗ

Về lời cầu xin đầu tức “Xin chớ để chúng con sa chước cám dỗ”, ta thấy phía sau nó luôn có ý niệm này là dù hiểu thế nào, peirasmos cũng bao hàm điều được tính toán để lấy đi đức tin và lòng trung thành của người ta. Mặt khác, các giải thích đều nhất trí tránh hệ luận cho rằng Thiên Chúa cố tình tìm cách tấn công hay làm thương tổn đức tin của con người.

Đôi khi để đạt mục đích giải thích trên, người ta đã cố tình nhấn mạnh đến các từ ngữ khác nhau trong lời cầu xin này.

i. Có người đã nhấn mạnh tới chữ “vào”. Chữ này trong lời kinh tiếng Việt được hiểu ngầm. Vì “sa” ở đây có nghĩa là rơi hay lọt vào. Nhưng trong các ngôn ngữ Phương Tây, thì chữ “vào” này rất rõ. Tiếng Latinh là “in”, còn tiếng Anh là “into”, tiếng Hy Lạp là “eis”, tiếng Hi-bá-lai là “lidhe”, với nghĩa là “vào tay của” và do đó “vào quyền lực của”. Ở đây, lời xin trên có thể được diễn dịch như sau: “con biết cơn cám dỗ thế nào rồi cũng xẩy đến với con, vì nào có cuộc sống nào mà không bị cám dỗ. Nhưng khi nó xẩy tới, xin Chúa đừng bỏ rơi con cho nó mặc tình thao túng; xin đừng trao con cô thế cho quyền lực của nó; xin ở bên con trong giờ con khốn quẫn”. Điều này xem ra không khác lời Chúa Giêsu cầu xin cho các môn đệ là bao: “Con không cầu xin Cha cất chúng khỏi thế gian nhưng xin Cha gìn giữ chúng khỏi ác thần” (Ga 17:15). Như thế, đây không hẳn là lời cầu xin cho được miễn trừ khỏi bị cám dỗ mà là lời cầu xin để đừng bị bỏ mặc cô thế và không vũ khí cho sức tấn công vũ bão và quyền lực của nó. Nói một cách tích cực, đây là lời cầu xin để được trợ giúp trong cơn cám dỗ.

ii. Thánh Augustinô, trong Bài Giảng Trên Núi 2.9, cũng cùng một giòng suy nghĩ như trên. Ngài phân biệt giữa việc bị cám dỗ và bị dẫn vào cám dỗ. Mọi người đều phải bị cám dỗ; nhưng bị dẫn vào cám dỗ là bị dẫn vào quyền lực và sự kiểm soát của cám dỗ, nghĩa là không những chịu cám dỗ mà còn có thể bị cám dỗ khuất phục.

Các nhà trước tác khác cũng có những điểm dị biệt đôi chút về đề tài này. Trong yếu tính, lối giải thích này cho rằng lời cầu xin này có ý không xin cho khỏi bị cám dỗ mà là xin cho được chiến thắng cơn cám dỗ. Origen, khi bình luận câu 7:1 của Sách Gióp với lối dịch Hy Lạp coi đời người là một cơn cám dỗ liên tục, đã cho hay: “Do đó, ta hãy cầu xin để được giải thoát khỏi cám dỗ, không với nghĩa đừng bị cám dỗ, nhưng với nghĩa đừng đầu hàng khi bị cám dỗ… Bởi thế, ta nên cầu xin không phải để khỏi bị cám dỗ, một điều không thể có được, mà để đừng bị đưa vào quyền lực của cám dỗ, là điều sẽ xẩy ra cho những ai bị nó khống chế, khuất phục” (Về Cầu Nguyện 29.9,11). Origen trích dẫn gương sáng của ông Gióp. Theo ông, ông Gióp được giải thoát khỏi cám dỗ, không phải vì Ma Qủy không tấn công ông; thực tế, nó đã tấn công ông tứ phía; nhưng bất chấp mọi điều xẩy tới cho ông, ông vẫn không phạm tội chống lại Thiên Chúa, và đã chứng tỏ mình là người công chính (Về Cầu Nguyện 30.1, 2). Việc giải thoát như thế không hệ ở việc miễn trừ khỏi cám dỗ, nhưng là việc chiến thắng nó.

iii. Thời Giáo Hội sơ khai, còn một lối giải thích thứ ba. Thánh Augustinô cho hay thời ấy đã có bản chép tay Tân Ước bằng tiếng La-tinh, trong đó câu trên được dịch như sau: “Đừng để chúng con bị dẫn vào cám dỗ” (Ne nos induci patiaris in temptationem). Quả vậy, đây là lối giải thích của Tertullian, của Thánh Cyprian và của chính Thánh Augustinô (Thánh Augustinô Bài Giảng Trên Núi 2.9; Về Ơn Kiên Vững 6; Tertullian Về Cầu Nguyện 8; Thánh Cyprian Kinh Lạy Cha 25).

Rất có thể đây là lối giải thích chính xác. Bản Tân Ước bằng tiếng Syriac dịch câu này như sau: “Đừng khiến chúng con lâm cơn cám dỗ”. Động từ Hi-bá-lai có nhiều thể rất khác nhau và điều này đúng đối với động từ Hiph’il. Động từ này ở thể nguyên nhân (causative form), với nghĩa khiến người ta phải làm điều gì đó, đồng thời cũng có nghĩa cho phép họ làm điều ấy. Nên nếu trong nguyên bản lời Kinh, Chúa Giêsu dùng thể này thì quả tình lời cầu trên hẳn có nghĩa: “Xin chớ làm chúng con bị đưa hay bị lâm vào cơn cám dỗ”.

Trong trường hợp trên, lời cầu xin thực ra là như thế này, nếu ta được phép dùng ngôn từ của mình: “Xin gìn giữ chúng con đừng đùa dỡn hay ve vãn với cơn cám dỗ. Xin gìn giữ chúng con khỏi các hoàn cảnh trong đó cơn cám dỗ sẽ có cơ chiến thắng. Xin bênh đỡ chúng con khỏi các cơn tấn kích của cám dỗ vốn từ bản nhiên của chính chúng con hay từ sự rù quyến của người khác mà có. Xin bênh đỡ chúng con khỏi các cơn tấn công của thế gian, của xác thịt và của ma qủy”. Đó có thể là lời cầu xin để không phải vì sự yếu đuối của riêng ta hay bởi sự ma quái của người khác mà ta lâm phải hoàn cảnh sống trong đó ta phó mình một cách đần độn, một cách không cần thiết cho các cuộc tấn công của cám dỗ. Nghĩa là ta cầu xin Chúa bênh đỡ và giám hộ đức tin, lòng trung thành và sự trong trắng của ta.

Tất cả các cách giải thích trên đều đã tránh được việc quy trách Chúa cám dỗ chúng ta. Ngược lại đã nhấn mạnh đến việc xin Chúa làm người bênh đỡ và gìn giữ ta. Nói thế rồi, vẫn còn hai điều khác nên để ý.

Thứ nhất, không chắc gì tâm thức Hi-bá-lai lại gặp khó khăn về lời cầu xin này. Vì tuy Thánh Gacôbê: “khi bị cám dỗ, đừng có ai nói rằng mình bị Thiên Chúa cám dỗ” (Gc 1:13), nhưng nếu đọc hết cả đoạn, ta mới thấy thật ra Thánh Giacôbê muốn nói gì. Ngài chỉ lên án người luôn quy trách tội lỗi riêng của họ cho Chúa, tức bắt Chúa phải chịu trách nhiệm về tội lỗi riêng của họ. Tuy nhiên người Hi-bá-lai vẫn nghĩ rằng mọi sự, đúng là mọi sự, đều nằm trong bàn tay Thiên Chúa, dưới quyền kiểm soát của Người. Chính vì vậy, tâm thức Hi-bá-lai không thấy khó khăn gì khi tin rằng cả cơn cám dỗ nữa cũng có chỗ thích đáng trong kế hoạch và mục tiêu của Thiên Chúa. Nhìn lại cuộc sống mình, Giuse từng nói với anh em mình: “đối với các anh, các anh đã tính làm hại tôi; nhưng Thiên Chúa đã biến cái tính ấy thành điều tốt” (St 50:20). Cái bề ngoài rõ ràng là xấu vẫn được người Hi-ba-lai tin là được đan kết đâu đó vào trong khuôn thước của Thiên Chúa, không có gì, thật sự là không có gì, xẩy ra ngoài ý muốn của Người.

Thứ hai, trong các cố gắng giải thích của ta, rất có thể ta đã quá chú trọng đến cái luận lý của thần học, mà bỏ qua khá nhiều cái phản ứng tự nhiên trong trái tim con người. Chỉ cần dùng các loại suy nhân bản hay cách nói năng thường tình của con người, ta cũng thấy đôi khi một học trò hay một thể tháo gia, dù lúc nào cũng yêu kính và tin vào thiện ý của thấy hay của huấn luyện viên của mình, nhưng vẫn sẵn sàng nói với các vị này: “Trời ơi, từ từ chứ, đừng bắt em ráng quá sức chứ!”. Thiển nghĩ, ta cũng có thể xét lời cầu xin của chúng ta trong mạch văn này, coi nó như một phản ứng thuộc bản năng của con người biết rõ sự yếu đuối của mình và biết rõ các hiểm nguy của cuộc đời, nên phải kêu cứu sự che chở của Chúa. Lời kêu cứu thuộc bản năng có khác với những luận suy của thần học.

Khỏi Sự Dữ

Vế thứ hai của lời cầu xin cuối cùng là: “Nhưng cứu chúng con cho khỏi sự dữ”. Như trên đã nói, nhiều bản dịch không dịch “sự dữ” mà dịch là “qủy dữ” hay “ác thần”, một chủ thể có bản vị gây nên mọi sự dữ. Nguyên ngữ Hy Lạp quả cho phép cả hai lối dịch đó. Tuy nhiên, dù dịch ra sao, ý nghĩa căn bản vẫn không thay đổi. Trong Thánh Kinh, qủy dữ, thần dử hay ác thần được biết dưới hai danh xưng.

i. Đôi lúc hắn có tên là Satan. Khởi đầu, “satan” không phải là một danh từ riêng, mà chỉ có nghĩa là kẻ địch thù theo nghĩa thông thường. Và nghĩa đó đã được Thánh Kinh dùng tất cả bẩy lần. Thiên thần Chúa là địch thù của thần Ba-an, đứng trực tiếp và ngăn chặn đường đi của hắn (Dân số 22:22). Dù Đa-vít rõ ràng đã chấp nhận cùng một số phận với họ, người Phi-li-tinh vẫn sợ khi lâm trận ông sẽ trở thành địch thủ, thành “satan” của họ (1 Samuen 29:4). Sa-lô-môn tạ ơn vì vừa không có địch thù (satan) vừa không bị vận sui (1Vua 5:18). Trong những ngày sau đó, cả Ha-đát lẫn Rơ-dôn đều trở thành địch thủ (satan) của Israel (1 Vua 11:14, 23, 25). Thành thử “satan” chỉ có nghĩa là địch thủ.

Mà thoạt đầu, thực ra Satan cũng không phải là nhân vật bất hảo, bởi hắn cũng là một trong các con cái Thiên Chúa (Gióp 1:6). Nhưng hắn có một chức năng đặc biệt. Có thể nói, đó là chức năng công tố chống lại con người. Đúng vậy, chức năng của hắn là nói và xúi giục bất cứ việc gì hay điều gì có thể nói hay xúi giục được để chống lại con người; hắn là địch thủ của con người trong triều đình Thiên Chúa (Gióp 1:6-12). Như thế hắn quả là Địch Thủ của ta.

ii. Đôi lúc hắn lại có tên là Qủy. Trong tiếng Hy-lạp, qủy là diabolos. Diabolos khởi đầu không phải là một tên riêng hay một tước hiệu chi hết. Nó là một hạn từ thông thường chỉ kẻ hành tỏi, kẻ nói hành, nói xấu và đã được dùng như thế trong Tân Ước. Các phụ nữ trong Giáo Hội phải có tâm tư nghiêm túc chứ đừng nói hành nói tỏi (1 Timôtê 3:11). Trong những ngày sau hết, sẽ xuất hiện những kẻ nói hành (2 Timôtê 3:3). Các phụ nữ có tuổi đừng nói xấu hay say sưa (Titô 2:3).

Hai ý niệm địch thủ, địch thù và người nói hành, nói xấu trong Satan hay Ma Qủy ấy thật không khác nhau bao nhiêu. Bởi vì soạn ra một vụ án chống lại con người và tạo hoẹt ra vụ án ấy thì cũng là một thôi. Mục tiêu của Ma Qủy là dùng đủ cách để tạo ra một đổ vỡ giữa con người và Thiên Chúa, để bẻ gẫy mối liên hệ giữa con người và Thiên Chúa. Qủy Dữ hay Ác Thần quả là việc bản vị hóa tất cả những gì chống lại Thiên Chúa và của tất cả những gì được xổ lồng để phá hủy con người ở đời này và ở đời sau.

Bởi thế nói đến sự dữ hay quỷ dữ thì cũng thế thôi. Ta biết rõ: trên đời này có cả một lực lượng sự ác luôn tấn công sự thiện và mời gọi chúng ta phạm tội. Lực lượng này có thể là một lực lượng có bản vị, hay là điều ta thường gọi là hiệu quả chất chồng của các hành vi và quyết định xấu vốn có trong cuộc nhân sinh. Dù là bản vị hay vô bản vị, nhưng nó vẫn có đó. Và vì thế, lời cầu xin này xin cho ta được trang bị và che chở khỏi lực lượng xấu ấy, được tăng cường trong sức đề kháng nó.

Trong thư thứ hai gửi Timôtê, ta đọc thấy: “Chúa sẽ cứu tôi khỏi mọi sự dữ, sẽ cứu và đưa tôi vào vương quốc của Người” (2 Timôtê 4:18). Nghĩa là ta cầu xin Chúa cứu vớt ta cả khi sống và khi chết. Đấy quả là một lời cầu tuyệt diệu. Hai lời cầu xin cuối cùng vì thế có ba điều đáng chú ý: trước nhất nó thành thực đối diện với các nguy hiểm của thân phận con người. Thứ hai, nó tự nhận sự thiếu sót trong tài nguyên con người để đương đầu với các nguy hiểm trên. Thứ ba, nó đặt cả các nguy hiểm lẫn sự yếu đuối của ta vào quyền năng che chở của Chúa. Làm như thế, ta có thể vững bụng nói như Thánh Cyprian rằng: “Một khi ta đã xin ơn che chở của Chúa chống lại sự dữ và đã nhận được ơn ấy, thì trước bất cứ điều gì ma qủy và thế gian làm để chống lại ta, ta vẫn được yên ổn an toàn. Vì ở trên đời này, làm chi còn có sợ sệt nào cho một người khi Đấng Giám Hộ họ là chính Thiên Chúa?”

Tổng Kết

Trong nhiều giáo phái Kitô giáo, Kinh Lạy Cha thường có một tụng ca: “Vì vương quyền, uy lực và vinh quang là của Chúa đến muôn đời” rồi mới đến lời kết “Amen”. Trong Giáo Hội Công Giáo, sau hai lời cầu xin vừa phân tích, Kinh lạy Cha kết thúc bằng lời “Amen”. Tuy nhiên, trong Thánh Lễ, tụng ca trên được cộng đoàn long trọng đọc sau lời cầu xin của chủ tế tiếp liền Kinh Lạy Cha.

Lịch sử của hiện tượng trên khá dài dòng và đây không phải là lúc để bàn đến việc đó. Có điều các bản Thánh Kinh Tân Ước (Mátthêu) đều kết thúc lời Chúa Giêsu dạy các tông đồ cầu nguyện như trong bản kinh của Giáo Hội Công Giáo. Nhưng phần tụng ca trên đã được thêm vào Kinh Lạy Cha rất sớm (xem Didache 8:2), có lẽ mô phỏng theo lối cầu nguyện của dân Do Thái luôn kết thúc bài kinh cầu bằng một tụng ca như trong 1 Sử Biên 29:11. Dù sao, thì câu tụng ca này cũng rất xứng đáng được coi như lời bạt của kinh này hay lời nối dài của nó.

Lời bạt ấy nhắc ta nhớ lại ba điều cốt yếu về Đấng ta đang cầu nguyện với và các thái độ thích đáng do ba điều này đòi hỏi. Thứ nhất, với lời tụng ca này, ta nhìn nhận Chúa làm vua ta và ta là thần dân của Người. Ta tuyên thệ vâng theo Người và trung thành với Người. Không những thế, ta còn tuyên nhận uy lực của người. Người là Đấng không những để ta vâng theo mà còn là Đấng có uy lực hành động và do đó để ta phó thác và tin cậy. Vì Người sẵn sàng lắng nghe và đáp lại lời ta cầu xin. Và một lần nữa, ta được nhắc nhớ ta đang đứng trước vinh quang Thiên Chúa và do đó phải sống một cuộc sống đầy tôn kính đối với Người.