Đừng xao xuyến
Một điệp khúc nghe khá quen trong đời sống hằng ngày nhưng lại khó thực hiện nhất trong thường ngày. Một câu nói an ủi, khích lệ hay là một câu nói xác định từ nơi Chúa Giêsu ngỏ lời: “Lòng các con đừng xao xuyến, Hãy tin vào Thiên Chúa và tin vào Thầy”. Chắc chắn đây không phải là câu nói an ủi khích lệ nữa vì “Thầy ở trong Cha và Cha ở trong Thầy”, là căn cứ đích xác vào Thiên Chúa đang hiện hữu trước mắt các Tông Đồ trong Chúa Giêsu, câu trả lời ở hẳn một chương 14 về sự xác quyết này. Vậy câu hỏi dành cho các Tông Đồ và cho chúng ta tại sao còn xao xuyến?
Xao xuyến lay động vì con người còn đặt một tương lai hy vọng ngoài Thiên Chúa: Thảm trạng của con người từ nguyên thủy đã là một tìm kiếm những gì không thuộc về Thiên Chúa. Trong vườn địa đàng, cây trái cấm Thiên Chúa đã cảnh giác “ngày nào ngươi ăn nó, tất ngươi sẽ chết” (St 2, 17). Con người đã ăn trái cây cấm ấy, sự chết đã đi vào trong thế gian. Con người chúng ta thật kỳ lạ, ưa thích mạo hiểm một cách như người ta thường nói: “chết vì thiếu hiểu biết”, đổi một tương lai chắc chắn để nắm giữ một tương lai ảo vọng. Cái gì đã khiến con người mê muội như vậy? Bởi một điều đơn giản, con người không muốn “tùy thuộc vào Thiên Chúa”, cho dù đó là Đấng tạo dựng nên mình. Con người, thật là một hữu thể tự do không cùng, tự do khước từ hay đón nhận Thiên Chúa. Trong suốt chiều dài lịch sử niềm tin của dân Do Thái, nhiều lần nhiều cách Thiên Chúa nói qua tổ phụ và các tiên tri những sứ điệp chân thật và yêu thương của Ngài để chỉ mong nơi dân của Ngài đạt được một hạnh phúc không bao giờ mất bằng những lời lẽ như “phải chi, ước gì”: “phải chi các ngươi nghe Ta, đừng mang thần lạ về nhà”, “ước gì khi nghe tiếng Người, các ngươi đừng cứng lòng nữa”. Bao nhiêu lần Thiên Chúa phải chi, ước gì qua cách này hay cách khác mà dân Chúa vẫn thích bỏ qua ngoài tai như không nghe, không thấy.
Con người là một hữu hạn thế nhưng ước mơ lại không cùng, cái ước mơ không cùng ấy nếu đặt vào nơi Thiên Chúa thì không có gì mà phải nói, nhưng cái ước mơ không cùng lại cứ muốn ở ngoài Thiên Chúa, đó mới là điều tệ hại, hết tệ hại này đến tệ hại khác mà vẫn chưa thấy đường nuối tiếc ăn năn, sám hối. Con người có một trí khôn ngoan mà Thiên Chúa đã ban tặng, nhưng lại ít người sử dụng ơn khôn ngoan ấy mà tránh xa con đường bất hạnh để đi theo con đường ơn phước. Không thể có hạnh phúc và bình an ở ngoài Thiên Chúa.
Xao xuyến lay động vì con người còn đầy ắp lòng dục xấu xa đê tiện: Bình an tự tại là một bình an sẵn có trong tâm hồn con người, không cần phải thiết lập mà cũng chẳng cần phải tìm kiếm mà điều cần là khơi trong lòng dục. Tại sao không nói theo ngôn ngữ Phật: “diệt dục” để “diệt khổ”. “Dục” bao hàm lòng tham và ước muốn. Lý tưởng và dục vọng là hai điều trái nghịch nhau nhưng dục vọng lại trở thành động năng mạnh nhất để đạt tới mức độ lý tưởng cao nhất, chính vì vậy diệt dục đến trọn bộ thì cũng là diệt mất lý tưởng cao nhất. Vậy dục vọng là gì mà có thể trở thành động lực mạnh nhất để thúc đẩy lý tưởng hoàn thành cao nhất? Dục vọng nơi con người là mãnh liệt nhất bởi vì ước vọng được sống dồi dào và phong phú nhất. Ước vọng sống và phát triển hữu thể sống nơi mình là nguyên nhân dẫn đến dục vọng. Jean Lacroix nói; “ở đâu bản năng nghèo nàn, nhân cách cũng nghèo nàn”. Con người nhiều dục vọng nhất nên con người cũng đầy nhân cách nhất, nhân cách con người được thăng tiến khi con người khơi trong được lòng dục, nhờ con người có lý trí.. Ước muốn sống là ước muốn chính đáng được Thiên Chúa thánh hiến nó, Chúa Giêsu nói “Ta đến để chúng được sống và sống dồi dào” (Ga 10, 10). Thiên Chúa của người sống chứ không phải Thiên Chúa của kẻ chết”, nhiều đoạn Thánh Kinh cho thấy dòng chảy của ước muốn này: “như nai rừng mong mỏi tìm về suối nước trong” (Tv 42, 2), “như mắt nữ tỳ hướng về tay bà chủ” (Tv 123, 2), Khát vọng hướng về Chúa là khát vọng được sống bởi chính Chúa là cội nguồn sự sống.
Lòng dục là một ước muốn liên tục và dai dẳng nhất trong cuộc đời con người nên cũng khó có thể tránh được những nguy hiểm và sự tàn phá của ước muốn bất chính.
Ước muốn từ nguyên thủy quy hướng về cái đẹp: “cây cấm, ngon lành và đẹp mắt”. Ước muốn từ nguyên thủy xuất phát từ đôi mắt, và Chúa nói: Nếu mắt anh em làm cớ cho anh em phạm tội thì hãy móc con mắt đó đi, thà mất con mắt mà vào nước thiên đàng còn hơn đủ hai mắt mà sa vào hỏa ngục. Chính vì vậy mà người ta nói: “đôi mắt là cửa sổ tâm hồn”
Đôi mắt thèm muốn, dục vọng: Ước muốn này thường thấy thể hiện ở nơi nhiều người nuôi mộng giàu sang, phú quý, thích trang trí cho ngôi nhà, căn phòng, bản thân những món đồ thời trang, dầu thơm, nước hoa, đắt tiền nhất. Khát vọng về cái đẹp không phải là tội nhưng ẩn trong cách chiếm hữu được cái đẹp ấy mới làm nên tội, chính vì vậy từ khát vọng có thể dẫn đến một lòng tham không cùng. Tham mọi cách để giàu, cướp đất của người khác để giàu, nhận lót tay của người khác để giàu, gian dối để giàu, mua quyền bán chức để giàu, mua chính sách ưu đãi đạt được đặc quyền đặc lợi để giàu, trăm ngàn cách xấu xa bỉ ổi để giàu. Giàu do nhờ lao động chân chính ngay thẳng là cách làm giàu được chúc phúc, bởi vì chính họ đang làm cho đời sống của nhiều người được ấm no hơn, hạnh phúc hơn, mang nhiều vẻ đẹp hơn cho cuộc sống. Thế nhưng, cách làm giàu chân chính ấy luôn bị xô đẩy, bị lợi dụng, chèn ép để đi về cùng một phía bất chính. Trong một xã hội thiếu công bằng và minh bạch, người công chính khó có thể làm gì hơn được, mặc dầu vẫn phải nỗ lực và kiên trì. Chúng ta yêu mến những con người chân chính đó, nhờ họ, xã hội cũng còn có những tia hy vọng, những con người ân nhân của đầt nước.
Lòng xao xuyến không vì mình mà vì những người khác: Cơn khát vọng làm giàu đã sục sôi trong lòng rất nhiều người, nó cũng ảnh hưởng tới các tâm hồn non trẻ trong học đường. Học không chỉ để lấy kiến thức nhưng còn mục đích lớn hơn là kiếm được nhiều tiền hơn. Cái khát vọng nung cháy, có nhiều nguyên nhân, bởi thấy cha mẹ lam lũ cực khổ quá, ngày nào cũng nơm nớp lo sợ, thiếu tiền ăn học cho chúng, biết bao nhiêu gia đình nghèo không đủ tiền cho con yên vui ăn học, kinh phí tối thiểu để sống hằng ngày luôn oằn gánh nặng trên đôi gánh kẽo kẹt thường ngày, đã vậy, còn không yên, hôm nay đuổi ngày mai cấm. Phận làm con, chữ hiếu luôn ghi sâu trong tâm hồn Việt, trong hoàn cảnh đau thương ấy, làm sao tránh khỏi những ước mơ làm giàu, giàu cực nhanh để mẹ cha sớm chấm dứt những ngày lao khổ. Chỉ thương chúng, chúng đâu đã biết được bao nhiêu nỗi khổ của những người giàu chân chính đang phải trả giá. Bên cạnh chúng, phim ảnh, trên những chiếc tivi chập chờn màu sắc cũ kỹ, chúng vẫn nhận ra những biệt thự khang trang, những sân golf xanh tươi, những chiếc xe bóng loáng, những quán ăn sang trọng, để nhìn về lại chính mình những xót xa, đau khổ, bởi nhà mình đang mất đất đi để trồng trọt, một ít sào ruộng nuôi thân, một căn nhà lá dù xập xệ. Trong tình trạng đó, ước mơ làm giàu bất chính sao tránh khỏi tâm hồn trẻ thơ nghèo khó. Bên cạnh chúng, những trẻ em đi học xe hơi đưa rước, những cổng trường cao cấp mà chúng chỉ được nhìn hé qua kẽ cổng vào trong, những sân chơi đủ màu sắc cây cỏ hoa, chúng chỉ trách cho mình sinh ra trong cảnh nghèo khó mà không có được những cha mẹ có quyến thế, có địa vị, có nhiều tiền để sống như những trẻ em kia. Bên cạnh chúng, những con người đang vung tiền bạc triệu cho những cuộc vui, còn chúng đang phải đi nhặt nhặn những đồng lẻ qua những bước chân mòn mỏi của trẻ em giúp bố mẹ mưu sinh, tập vé số, những cánh hoa, những thanh kẹo, những chiếc hộp đánh giầy, làm sao có thể thực mơ làm giàu chân chính của mình được? Nhìn những cảnh này, sao không thể lòng xao xuyến được! và bao giờ mới hết xao xuyến?
Không chỉ nơi người phàm mà ngay các Tông Đồ đã được Chúa tuyển chọn đang được huấn luyện cũng khát vọng “Được ngồi chỗ nhất nhì”, để có quyền mà thỏa lòng tham. Lòng tham có thể cũng thấy khi Chúa Giêsu trả lời cho các môn đệ: “Trong nhà Cha Thầy có nhiều chỗ ở”, các môn đệ sợ mất chỗ, sợ mất phần, nên có lần Phêrô cũng hỏi Chúa Giêsu: “Chúng con bỏ mọi sự để theo Thầy, chúng con được gì?”. Được gì và mất gì luôn là nỗi băn khoăn xao xuyến của con người đang bị lòng tham đưa đẩy.
Khát vọng sự sống sau khi đã mất vì phạm tôi. Có thể trách Adam và Eva không, khi những con người đầu tiên đưa nhân loại vào trong chỗ chết? Không, không có Adam và Eva phạm tội thì sự xấu vẫn còn treo đó trên cây trái cấm, Sự xấu, cám dỗ luôn là một thách thức ngàn cân trên sợi tóc trước mắt con người. Tội lỗi đến từ Satan, kẻ chống đối Thiên Chúa đầu tiên đang tranh giành vương quốc của mình, cho nên tội lỗi bao giờ cũng là con mãnh thú man rợ luôn sẵn sàng vùng lên khi con người sa vào chước cám dỗ của chúng. Satan kẻ cầm đầu tội lỗi luôn rình rập chờ đợi, khuyến dụ, quảng cáo để đánh cắp hạnh phúc của con người. Chúng khuyến dụ con người bằng cái đẹp của nhục thể, bằng những kho lẫm, bằng sự kiêu hãnh, bằng tham vọng sống của con người. Có sao được tâm hồn bình an và an lạc khi con người đầy lòng tham bất chính?
Hoán cải ước muốn:
Cần được thanh tẩy ước muốn: Đó là kinh nghiệm của Phêrô sau ngày Chúa Phục Sinh hiện ra cho ông tại bờ hồ Tibêria: “Thầy biết con yêu mến Thầy” (Ga 21 17), trả lời lần thứ ba về việc “con yêu mến Thầy” là cáh hoán cải những gì mà Phêrô đại diện cho các Tông Đồ xưa khi còn theo Chúa đã bội phản. Con yêu mến Thầy và nhận ra rõ ràng “Thầy là đường là sự thật và là sự sống”. Không lẫn lộn, không còn một chút nào xao xuyến vì đã hết bận tâm những gì thuộc về thế gian hư mất này, nên chỉ còn một “lòng yêu mến Thầy’ thay cho tất cả. Vì lòng yêu mến Chúa, con xa lánh tội lỗi, đi trong giáo huấn của Thiên Chúa, vì lòng yêu mến Chúa, con gạn lọc tinh trong ước muốn của con để hướng về Chúa, vì lòng yêu mến Chúa con thực thi đời con theo ý muốn của Chúa. Khát vọng của con là yêu mến chính Chúa trở thanh động lực thúc đẩy con trên con đường làm chứng tá cho Chúa. Đó là kinh nghiệm của Phêrô và của các môn đệ, hoán cải thật sự nhờ động lực yêu mến Chúa, hoán cải thanh tẩy ước muốn là hành vi đầy nhân cách nhất trong lý tưởng của con người. Các Thánh sau này, đặc biệt nơi Thánh Augustine, sau khi trở lại đã viết trong tác phẩm “confession”: “Lòng con khao khát Chúa cho đến khi được nghỉ yên trong Ngài”. Lòng yêu mến Chúa, đừng bao giờ để bị đánh mất: “Nếu anh em yêu mến Thầy, anh em sẽ giữ các điều răn của Thầy” (Ga 14, 15).
Cần phải có những tâm hồn hoán cải ước muốn làm giàu của mình, làm giàu chân chính để xã hội người nghèo được hưởng từ những thành quả của họ, cho những trẻ em nghèo khó một tương lai, một hy vọng, một ước mơ làm giàu chân chính. Cho những đôi chân gồng gánh nặng trĩu kia bớt đi những nhọc nhằn, còn có thời gian để ngẩng đầu lên nhìn về phía trước. Cho những con người thấp bé kia còn có những ngày yên vui trên cánh đồng, hát khúc hát đồng quê, nuôi dưỡng tâm hồn Việt, lòng không hề xao xuyến.
Ước muốn Hiệp thông:
Sự kiện trong câu trả lời của Chúa Giêsu: “Trong nhà Cha Thầy có nhiều chỗ ở” một cách diễn tả của hiệp thông. Hiệp thông trong sự sống của Thiên Chúa là một khát vọng trên hết mọi sự, là kết hiệp với Chúa Giêsu. Trong Chúa Giêsu, không có chỗ cho những người chỉ mong độc chiếm, bởi vì sự sống dồi dào và phong phú không phải sự sống đơn lẻ, độc quyền. Con người thường hay thích độc chiếm cho riêng mình như là “hàng hiếm”, “không đụng hàng” để tự tôn vinh mình. Không có “hàng sao” bởi vì con người chỉ là một loài được dựng nên, được mời gọi tham dự vào sự sống của Thiên Chúa: “Nếu Chúa buông tay, mọi sự đều trở thành hư không”, hiệp thông trong những khác biệt trong Nhà của Cha. Hiệp thông là một lời mời gọi “chung sống hòa bình” trong một thế giới toàn cầu mà ngày nay người ta gọi nó là “một thế giới phẳng’. Hiệp thông là cần thiết như người ta hiểu về thế giới phẳng hôm nay, được Thomas L. Friedman diễn tả trong tác phẩm Chiếc Lexus và cây Ôliu”: “Tháp Babel thì sao? Chẳng phải đó là một chủ trương của các nhà toàn cầu hóa chăng? Một thế giới chung cho mọi người, một đồng tiền, một ngôn ngữ, một hệ thống tài chánh? Hợp nhất đồng dạng có thể xây được tháp Babel chăng, một tòa tháp vươn lên tới trời?...” Chác chắn là không vì hiệp thông không bao giờ có ưu thế đặc quyền cho một dân tộc nào, chỉ có một dân thuộc về Thiên Chúa thuộc mọi dân. Đừng xao xuyến tìm chỗ nhất cho mình mà hãy chia sẻ với anh chị em của mình trong niềm hân hoan, đừng tìm lợi ích cho riêng mình, bởi mỗi người và mọi người là anh chị em với nhau, cùng con một Cha trên trời. Toàn cầu hóa là một tiến trình sẽ trải qua những kinh nghiệm để tiến tới hiệp nhất trong sự đa dạng.
Lòng các con đừng xao xuyến! Là một thực tại sống bình an với Chúa, trong Chúa, cùng Chúa Giêsu. Những tại trên Chúa đã sống giữa bao bất công, Chúa cũng đã từng gánh vác với khó khăn trên vai người công chính, Chúa cũng đã từng yêu mến trẻ thơ và nói để chúng đến với Thầy. yêu mén Chúa Giêsu để thực hiện những ước mơ cho người nghèo, yêu mến Chúa Giêsu để kiến tạo đời sống công bằng, yêu mến Chúa Giêsu để thực hiện thế giới trong yêu thương hòa bình.
Đó là một sự thực được thể hiện mỗi ngày qua các bí tích, đặc biệt nhất là Bí Tích Thánh Thể, Chúa hiện diện và đồng hành, chúng ta còn sợ hãi gì, xao xuyến gì nếu lòng chúng ta tin vào Thầy và Cha Thầy và nếu chúng ta yêu mến Thầy, chúng ta sẽ trở nên người mục tử cho thế giới đang cần có hôm nay, chúng ta yêu mến nhau thì chúng ta trở nên môn đệ của Thầy.
Một điệp khúc nghe khá quen trong đời sống hằng ngày nhưng lại khó thực hiện nhất trong thường ngày. Một câu nói an ủi, khích lệ hay là một câu nói xác định từ nơi Chúa Giêsu ngỏ lời: “Lòng các con đừng xao xuyến, Hãy tin vào Thiên Chúa và tin vào Thầy”. Chắc chắn đây không phải là câu nói an ủi khích lệ nữa vì “Thầy ở trong Cha và Cha ở trong Thầy”, là căn cứ đích xác vào Thiên Chúa đang hiện hữu trước mắt các Tông Đồ trong Chúa Giêsu, câu trả lời ở hẳn một chương 14 về sự xác quyết này. Vậy câu hỏi dành cho các Tông Đồ và cho chúng ta tại sao còn xao xuyến?
Xao xuyến lay động vì con người còn đặt một tương lai hy vọng ngoài Thiên Chúa: Thảm trạng của con người từ nguyên thủy đã là một tìm kiếm những gì không thuộc về Thiên Chúa. Trong vườn địa đàng, cây trái cấm Thiên Chúa đã cảnh giác “ngày nào ngươi ăn nó, tất ngươi sẽ chết” (St 2, 17). Con người đã ăn trái cây cấm ấy, sự chết đã đi vào trong thế gian. Con người chúng ta thật kỳ lạ, ưa thích mạo hiểm một cách như người ta thường nói: “chết vì thiếu hiểu biết”, đổi một tương lai chắc chắn để nắm giữ một tương lai ảo vọng. Cái gì đã khiến con người mê muội như vậy? Bởi một điều đơn giản, con người không muốn “tùy thuộc vào Thiên Chúa”, cho dù đó là Đấng tạo dựng nên mình. Con người, thật là một hữu thể tự do không cùng, tự do khước từ hay đón nhận Thiên Chúa. Trong suốt chiều dài lịch sử niềm tin của dân Do Thái, nhiều lần nhiều cách Thiên Chúa nói qua tổ phụ và các tiên tri những sứ điệp chân thật và yêu thương của Ngài để chỉ mong nơi dân của Ngài đạt được một hạnh phúc không bao giờ mất bằng những lời lẽ như “phải chi, ước gì”: “phải chi các ngươi nghe Ta, đừng mang thần lạ về nhà”, “ước gì khi nghe tiếng Người, các ngươi đừng cứng lòng nữa”. Bao nhiêu lần Thiên Chúa phải chi, ước gì qua cách này hay cách khác mà dân Chúa vẫn thích bỏ qua ngoài tai như không nghe, không thấy.
Con người là một hữu hạn thế nhưng ước mơ lại không cùng, cái ước mơ không cùng ấy nếu đặt vào nơi Thiên Chúa thì không có gì mà phải nói, nhưng cái ước mơ không cùng lại cứ muốn ở ngoài Thiên Chúa, đó mới là điều tệ hại, hết tệ hại này đến tệ hại khác mà vẫn chưa thấy đường nuối tiếc ăn năn, sám hối. Con người có một trí khôn ngoan mà Thiên Chúa đã ban tặng, nhưng lại ít người sử dụng ơn khôn ngoan ấy mà tránh xa con đường bất hạnh để đi theo con đường ơn phước. Không thể có hạnh phúc và bình an ở ngoài Thiên Chúa.
Xao xuyến lay động vì con người còn đầy ắp lòng dục xấu xa đê tiện: Bình an tự tại là một bình an sẵn có trong tâm hồn con người, không cần phải thiết lập mà cũng chẳng cần phải tìm kiếm mà điều cần là khơi trong lòng dục. Tại sao không nói theo ngôn ngữ Phật: “diệt dục” để “diệt khổ”. “Dục” bao hàm lòng tham và ước muốn. Lý tưởng và dục vọng là hai điều trái nghịch nhau nhưng dục vọng lại trở thành động năng mạnh nhất để đạt tới mức độ lý tưởng cao nhất, chính vì vậy diệt dục đến trọn bộ thì cũng là diệt mất lý tưởng cao nhất. Vậy dục vọng là gì mà có thể trở thành động lực mạnh nhất để thúc đẩy lý tưởng hoàn thành cao nhất? Dục vọng nơi con người là mãnh liệt nhất bởi vì ước vọng được sống dồi dào và phong phú nhất. Ước vọng sống và phát triển hữu thể sống nơi mình là nguyên nhân dẫn đến dục vọng. Jean Lacroix nói; “ở đâu bản năng nghèo nàn, nhân cách cũng nghèo nàn”. Con người nhiều dục vọng nhất nên con người cũng đầy nhân cách nhất, nhân cách con người được thăng tiến khi con người khơi trong được lòng dục, nhờ con người có lý trí.. Ước muốn sống là ước muốn chính đáng được Thiên Chúa thánh hiến nó, Chúa Giêsu nói “Ta đến để chúng được sống và sống dồi dào” (Ga 10, 10). Thiên Chúa của người sống chứ không phải Thiên Chúa của kẻ chết”, nhiều đoạn Thánh Kinh cho thấy dòng chảy của ước muốn này: “như nai rừng mong mỏi tìm về suối nước trong” (Tv 42, 2), “như mắt nữ tỳ hướng về tay bà chủ” (Tv 123, 2), Khát vọng hướng về Chúa là khát vọng được sống bởi chính Chúa là cội nguồn sự sống.
Lòng dục là một ước muốn liên tục và dai dẳng nhất trong cuộc đời con người nên cũng khó có thể tránh được những nguy hiểm và sự tàn phá của ước muốn bất chính.
Ước muốn từ nguyên thủy quy hướng về cái đẹp: “cây cấm, ngon lành và đẹp mắt”. Ước muốn từ nguyên thủy xuất phát từ đôi mắt, và Chúa nói: Nếu mắt anh em làm cớ cho anh em phạm tội thì hãy móc con mắt đó đi, thà mất con mắt mà vào nước thiên đàng còn hơn đủ hai mắt mà sa vào hỏa ngục. Chính vì vậy mà người ta nói: “đôi mắt là cửa sổ tâm hồn”
Đôi mắt thèm muốn, dục vọng: Ước muốn này thường thấy thể hiện ở nơi nhiều người nuôi mộng giàu sang, phú quý, thích trang trí cho ngôi nhà, căn phòng, bản thân những món đồ thời trang, dầu thơm, nước hoa, đắt tiền nhất. Khát vọng về cái đẹp không phải là tội nhưng ẩn trong cách chiếm hữu được cái đẹp ấy mới làm nên tội, chính vì vậy từ khát vọng có thể dẫn đến một lòng tham không cùng. Tham mọi cách để giàu, cướp đất của người khác để giàu, nhận lót tay của người khác để giàu, gian dối để giàu, mua quyền bán chức để giàu, mua chính sách ưu đãi đạt được đặc quyền đặc lợi để giàu, trăm ngàn cách xấu xa bỉ ổi để giàu. Giàu do nhờ lao động chân chính ngay thẳng là cách làm giàu được chúc phúc, bởi vì chính họ đang làm cho đời sống của nhiều người được ấm no hơn, hạnh phúc hơn, mang nhiều vẻ đẹp hơn cho cuộc sống. Thế nhưng, cách làm giàu chân chính ấy luôn bị xô đẩy, bị lợi dụng, chèn ép để đi về cùng một phía bất chính. Trong một xã hội thiếu công bằng và minh bạch, người công chính khó có thể làm gì hơn được, mặc dầu vẫn phải nỗ lực và kiên trì. Chúng ta yêu mến những con người chân chính đó, nhờ họ, xã hội cũng còn có những tia hy vọng, những con người ân nhân của đầt nước.
Lòng xao xuyến không vì mình mà vì những người khác: Cơn khát vọng làm giàu đã sục sôi trong lòng rất nhiều người, nó cũng ảnh hưởng tới các tâm hồn non trẻ trong học đường. Học không chỉ để lấy kiến thức nhưng còn mục đích lớn hơn là kiếm được nhiều tiền hơn. Cái khát vọng nung cháy, có nhiều nguyên nhân, bởi thấy cha mẹ lam lũ cực khổ quá, ngày nào cũng nơm nớp lo sợ, thiếu tiền ăn học cho chúng, biết bao nhiêu gia đình nghèo không đủ tiền cho con yên vui ăn học, kinh phí tối thiểu để sống hằng ngày luôn oằn gánh nặng trên đôi gánh kẽo kẹt thường ngày, đã vậy, còn không yên, hôm nay đuổi ngày mai cấm. Phận làm con, chữ hiếu luôn ghi sâu trong tâm hồn Việt, trong hoàn cảnh đau thương ấy, làm sao tránh khỏi những ước mơ làm giàu, giàu cực nhanh để mẹ cha sớm chấm dứt những ngày lao khổ. Chỉ thương chúng, chúng đâu đã biết được bao nhiêu nỗi khổ của những người giàu chân chính đang phải trả giá. Bên cạnh chúng, phim ảnh, trên những chiếc tivi chập chờn màu sắc cũ kỹ, chúng vẫn nhận ra những biệt thự khang trang, những sân golf xanh tươi, những chiếc xe bóng loáng, những quán ăn sang trọng, để nhìn về lại chính mình những xót xa, đau khổ, bởi nhà mình đang mất đất đi để trồng trọt, một ít sào ruộng nuôi thân, một căn nhà lá dù xập xệ. Trong tình trạng đó, ước mơ làm giàu bất chính sao tránh khỏi tâm hồn trẻ thơ nghèo khó. Bên cạnh chúng, những trẻ em đi học xe hơi đưa rước, những cổng trường cao cấp mà chúng chỉ được nhìn hé qua kẽ cổng vào trong, những sân chơi đủ màu sắc cây cỏ hoa, chúng chỉ trách cho mình sinh ra trong cảnh nghèo khó mà không có được những cha mẹ có quyến thế, có địa vị, có nhiều tiền để sống như những trẻ em kia. Bên cạnh chúng, những con người đang vung tiền bạc triệu cho những cuộc vui, còn chúng đang phải đi nhặt nhặn những đồng lẻ qua những bước chân mòn mỏi của trẻ em giúp bố mẹ mưu sinh, tập vé số, những cánh hoa, những thanh kẹo, những chiếc hộp đánh giầy, làm sao có thể thực mơ làm giàu chân chính của mình được? Nhìn những cảnh này, sao không thể lòng xao xuyến được! và bao giờ mới hết xao xuyến?
Không chỉ nơi người phàm mà ngay các Tông Đồ đã được Chúa tuyển chọn đang được huấn luyện cũng khát vọng “Được ngồi chỗ nhất nhì”, để có quyền mà thỏa lòng tham. Lòng tham có thể cũng thấy khi Chúa Giêsu trả lời cho các môn đệ: “Trong nhà Cha Thầy có nhiều chỗ ở”, các môn đệ sợ mất chỗ, sợ mất phần, nên có lần Phêrô cũng hỏi Chúa Giêsu: “Chúng con bỏ mọi sự để theo Thầy, chúng con được gì?”. Được gì và mất gì luôn là nỗi băn khoăn xao xuyến của con người đang bị lòng tham đưa đẩy.
Khát vọng sự sống sau khi đã mất vì phạm tôi. Có thể trách Adam và Eva không, khi những con người đầu tiên đưa nhân loại vào trong chỗ chết? Không, không có Adam và Eva phạm tội thì sự xấu vẫn còn treo đó trên cây trái cấm, Sự xấu, cám dỗ luôn là một thách thức ngàn cân trên sợi tóc trước mắt con người. Tội lỗi đến từ Satan, kẻ chống đối Thiên Chúa đầu tiên đang tranh giành vương quốc của mình, cho nên tội lỗi bao giờ cũng là con mãnh thú man rợ luôn sẵn sàng vùng lên khi con người sa vào chước cám dỗ của chúng. Satan kẻ cầm đầu tội lỗi luôn rình rập chờ đợi, khuyến dụ, quảng cáo để đánh cắp hạnh phúc của con người. Chúng khuyến dụ con người bằng cái đẹp của nhục thể, bằng những kho lẫm, bằng sự kiêu hãnh, bằng tham vọng sống của con người. Có sao được tâm hồn bình an và an lạc khi con người đầy lòng tham bất chính?
Hoán cải ước muốn:
Cần được thanh tẩy ước muốn: Đó là kinh nghiệm của Phêrô sau ngày Chúa Phục Sinh hiện ra cho ông tại bờ hồ Tibêria: “Thầy biết con yêu mến Thầy” (Ga 21 17), trả lời lần thứ ba về việc “con yêu mến Thầy” là cáh hoán cải những gì mà Phêrô đại diện cho các Tông Đồ xưa khi còn theo Chúa đã bội phản. Con yêu mến Thầy và nhận ra rõ ràng “Thầy là đường là sự thật và là sự sống”. Không lẫn lộn, không còn một chút nào xao xuyến vì đã hết bận tâm những gì thuộc về thế gian hư mất này, nên chỉ còn một “lòng yêu mến Thầy’ thay cho tất cả. Vì lòng yêu mến Chúa, con xa lánh tội lỗi, đi trong giáo huấn của Thiên Chúa, vì lòng yêu mến Chúa, con gạn lọc tinh trong ước muốn của con để hướng về Chúa, vì lòng yêu mến Chúa con thực thi đời con theo ý muốn của Chúa. Khát vọng của con là yêu mến chính Chúa trở thanh động lực thúc đẩy con trên con đường làm chứng tá cho Chúa. Đó là kinh nghiệm của Phêrô và của các môn đệ, hoán cải thật sự nhờ động lực yêu mến Chúa, hoán cải thanh tẩy ước muốn là hành vi đầy nhân cách nhất trong lý tưởng của con người. Các Thánh sau này, đặc biệt nơi Thánh Augustine, sau khi trở lại đã viết trong tác phẩm “confession”: “Lòng con khao khát Chúa cho đến khi được nghỉ yên trong Ngài”. Lòng yêu mến Chúa, đừng bao giờ để bị đánh mất: “Nếu anh em yêu mến Thầy, anh em sẽ giữ các điều răn của Thầy” (Ga 14, 15).
Cần phải có những tâm hồn hoán cải ước muốn làm giàu của mình, làm giàu chân chính để xã hội người nghèo được hưởng từ những thành quả của họ, cho những trẻ em nghèo khó một tương lai, một hy vọng, một ước mơ làm giàu chân chính. Cho những đôi chân gồng gánh nặng trĩu kia bớt đi những nhọc nhằn, còn có thời gian để ngẩng đầu lên nhìn về phía trước. Cho những con người thấp bé kia còn có những ngày yên vui trên cánh đồng, hát khúc hát đồng quê, nuôi dưỡng tâm hồn Việt, lòng không hề xao xuyến.
Ước muốn Hiệp thông:
Sự kiện trong câu trả lời của Chúa Giêsu: “Trong nhà Cha Thầy có nhiều chỗ ở” một cách diễn tả của hiệp thông. Hiệp thông trong sự sống của Thiên Chúa là một khát vọng trên hết mọi sự, là kết hiệp với Chúa Giêsu. Trong Chúa Giêsu, không có chỗ cho những người chỉ mong độc chiếm, bởi vì sự sống dồi dào và phong phú không phải sự sống đơn lẻ, độc quyền. Con người thường hay thích độc chiếm cho riêng mình như là “hàng hiếm”, “không đụng hàng” để tự tôn vinh mình. Không có “hàng sao” bởi vì con người chỉ là một loài được dựng nên, được mời gọi tham dự vào sự sống của Thiên Chúa: “Nếu Chúa buông tay, mọi sự đều trở thành hư không”, hiệp thông trong những khác biệt trong Nhà của Cha. Hiệp thông là một lời mời gọi “chung sống hòa bình” trong một thế giới toàn cầu mà ngày nay người ta gọi nó là “một thế giới phẳng’. Hiệp thông là cần thiết như người ta hiểu về thế giới phẳng hôm nay, được Thomas L. Friedman diễn tả trong tác phẩm Chiếc Lexus và cây Ôliu”: “Tháp Babel thì sao? Chẳng phải đó là một chủ trương của các nhà toàn cầu hóa chăng? Một thế giới chung cho mọi người, một đồng tiền, một ngôn ngữ, một hệ thống tài chánh? Hợp nhất đồng dạng có thể xây được tháp Babel chăng, một tòa tháp vươn lên tới trời?...” Chác chắn là không vì hiệp thông không bao giờ có ưu thế đặc quyền cho một dân tộc nào, chỉ có một dân thuộc về Thiên Chúa thuộc mọi dân. Đừng xao xuyến tìm chỗ nhất cho mình mà hãy chia sẻ với anh chị em của mình trong niềm hân hoan, đừng tìm lợi ích cho riêng mình, bởi mỗi người và mọi người là anh chị em với nhau, cùng con một Cha trên trời. Toàn cầu hóa là một tiến trình sẽ trải qua những kinh nghiệm để tiến tới hiệp nhất trong sự đa dạng.
Lòng các con đừng xao xuyến! Là một thực tại sống bình an với Chúa, trong Chúa, cùng Chúa Giêsu. Những tại trên Chúa đã sống giữa bao bất công, Chúa cũng đã từng gánh vác với khó khăn trên vai người công chính, Chúa cũng đã từng yêu mến trẻ thơ và nói để chúng đến với Thầy. yêu mén Chúa Giêsu để thực hiện những ước mơ cho người nghèo, yêu mến Chúa Giêsu để kiến tạo đời sống công bằng, yêu mến Chúa Giêsu để thực hiện thế giới trong yêu thương hòa bình.
Đó là một sự thực được thể hiện mỗi ngày qua các bí tích, đặc biệt nhất là Bí Tích Thánh Thể, Chúa hiện diện và đồng hành, chúng ta còn sợ hãi gì, xao xuyến gì nếu lòng chúng ta tin vào Thầy và Cha Thầy và nếu chúng ta yêu mến Thầy, chúng ta sẽ trở nên người mục tử cho thế giới đang cần có hôm nay, chúng ta yêu mến nhau thì chúng ta trở nên môn đệ của Thầy.